Các anh chị em được Chúa yêu thương! Cầu nguyện là một phần quan trọng trong đời sống đức tin của người tin Chúa. Chính Chúa Giê-su Christ, Con một của Đức Chúa Trời, là hình ảnh của Đức Chúa Trời và hiệp một với Đức Chúa Trời, cũng thường xuyên cầu nguyện. Khi các môn đồ xin Ngài dạy họ cầu nguyện, Ngài đã chỉ cho họ cách cầu nguyện va dạy họ trong bài cầu nguyện chung. Vì vậy, câu trả lời cho câu hỏi liệu một tín hữu có nên cầu nguyện hay không là một tiếng “Có” rõ ràng. Hôm nay, tôi muốn chia sẻ những gì tôi được học trong bài cầu nguyện này.
Tại sao các tín hữu cầu nguyện?
Một tín hữu cầu nguyện bởi đức tin, qua đức tin. Vì không có đức tin thì không thể nào làm đẹp lòng Đức Chúa Trời; bởi người đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng Ngài hiện hữu và Ngài ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Ngài (Hê-bơ-rơ 11:6). Và mọi điều không bởi đức tin mà làm thì đều là tội lỗi (Rô-ma 14:23). Điều này áp dụng cho tất cả những gì thuộc về đời sống thuộc linh.
Một tín hữu cầu nguyện với Đức Chúa Trời vì người ấy tin rằng có một Đức Chúa Trời. Một Đức Chúa Trời hằng sống, toàn năng và tốt lành. Người ấy tin rằng Đức Chúa Trời lắng nghe những người kính sợ Ngài và làm theo ý muốn Ngài (Giăng 9:31). Vì Đức Chúa Trời ở xa những kẻ gian ác (Châm-ngôn 15:29). Ngài không nghe những kẻ có tội (Giăng 9:31), cũng không nghe những người ấp ủ điều gian ác trong lòng mình (Thi Thiên 66:18). Người tín hữu cầu nguyện bởi đức tin, không phải bởi lý trí, cũng không phải bởi cảm xúc.
Ý muốn của Đức Chúa Trời là một tín hữu sống trong Đấng Christ với sự vui mừng, cầu nguyện và lòng biết ơn (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:16–18). Mọi người thuộc về vương quốc thiên đàng đều làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 7:21). Lời Phao-lô khuyên: “Hãy cầu nguyện không thôi!” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:17) không có nghĩa là chúng ta phải cầu nguyện liên tục từng phút từng giây, nhưng có nghĩa là cầu nguyện phải trở thành nếp sống và tâm trí thuộc linh của chúng ta, cũng như ăn, uống và ngủ là nếp sống cần thiết cho thân thể chúng ta. Tuần trước, chúng ta đã nghe về nếp sống và tâm trí thuộc linh.
Các tín hữu cầu nguyện như thế nào?
Cũng như chúng ta có những cuộc trò chuyện riêng tư, thân mật với những người thân cận, cầu nguyện là một cuộc trò chuyện thân mật với Đức Chúa Trời. Cũng như trong một cuộc trò chuyện, khi cầu nguyện, vấn đề không chỉ nằm ở nội dung mà còn ở động cơ. Tôi cầu nguyện chỉ vì bổn phận sao? Tôi có bắt chước người khác không? Qua lời cầu nguyện, tôi đang bày tỏ điều gì?
Người tín hữu đến trò chuyện với Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện. Người ấy trút mọi lo lắng, sợ hãi, niềm vui, lòng biết ơn và sự ca ngợi… tất cả những gì mình chất chứa trong lòng trước mặt Đức Chúa Trời. Người ấy tìm kiếm sự thông công, sự an ủi và sự hướng dẫn. Chúng ta thấy điều này qua gương của Đa-vít, một người theo lòng Đức Chúa Trời, trong các bài Thi Thiên của ông.
Chúa Giê-su dạy chúng ta khi cầu nguyện cần lưu ý hai điều: không lặp đi lặp lại những lời vô ích và nói nhiều lời, cũng không phô trương việc cầu nguyện để được người ta chú ý (Ma-thi-ơ 6:5–7). Khi cầu nguyện, tôi phải cầu nguyện cách thận trọng và chậm rãi trong lời nói (Gia-cơ 1:19). Vì trong Truyền-đạo 5:2 có chép: “ Con đừng vội vàng mở miệng, cũng đừng hấp tấp nói điều gì trước mặt Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời ở trên trời, còn con ở dưới đất. vậy, hãy ít lời“
Tất cả chúng ta đều phải khai trình trong ngày phán xét về mỗi lời vô ích mình đã nói. Vì bởi lời mình mà người ta sẽ được xưng công chính, và cũng bởi lời mình mà người ta sẽ bị định tội! (Ma-thi-ơ 12:36–37).
Khi cầu nguyện, tôi cũng phải nhớ rằng Đức Chúa Trời lắng nghe một người, khi người ấy cầu xin điều gì theo ý muốn của Ngài (1 Giăng 5:14).
Bài cầu nguyện chung
- Lạy Cha chúng con ở trên trời;
Thật là một đặc ân khi chúng ta, những tội nhân, được phép gọi Đức Chúa Trời toàn năng là Cha. Chúng ta, những người chẳng là gì trước mặt Đức Chúa Trời thánh khiết, lại được phép gọi Đấng Tạo Hóa đời đời của trời và đất là Cha. Không có món quà nào lớn hơn thế.
Chỉ một mình Chúa Giê-su Christ đã khiến điều đó trở nên có thể. Con Đức Chúa Trời đã mang trên mình mọi tội lỗi của thế gian và chịu hình phạt của Đức Chúa Trời thay cho chúng ta trên thập tự giá. Qua sự chết của Ngài trên thập tự giá, Ngài đã mở đường cho những người tin Ngài được bước vào nơi thánh của Đức Chúa Trời ở trên trời. Qua sự sống lại của Ngài, các tín hữu có niềm hy vọng rằng một ngày kia họ cũng sẽ sống lại với Ngài, khi Chúa Giê-su từ trời trở lại để phán xét loài người.
Vậy khi chúng ta được phép gọi Đức Chúa Trời là “Cha”, thì từ “Cha” này không chỉ nhắc chúng ta về địa vị của mình là con cái Ngài, mà còn nhắc chúng ta phải đến với Ngài như thế nào. Từ “Cha” bao hàm sự tôn kính và kính sợ mà một người con phải dành cho cha mình. Nó cũng nói đến tình yêu thương, sự che chở, sự chăm sóc… tất cả bản chất của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ trong Chúa Giê-su, qua lời nói và việc làm của Ngài. Đấng Christ đã chết vì chúng ta khi chúng ta vẫn còn là kẻ thù của Đức Chúa Trời.
Chúa Giê-su khiến chúng ta có thể được thông công với Đức Chúa Trời, với Ngài và với nhau. Khi cầu nguyện, chúng ta không đứng một mình trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng được phép cùng với anh chị em trong đức tin gọi Ngài là “Cha chúng con”.
- Danh Cha được tôn thánh;
Đức Chúa Trời là thánh đời đời. Danh Ngài, tức là bản chất của Ngài, là thánh. Ngài không cần sự bênh vực hay sự công nhận của bất cứ ai. Sự thánh khiết của Ngài không phụ thuộc vào việc có ai công nhận Ngài hay tôn kính danh Ngài hay không. Vì Ngài là Đấng tự hữu hằng hữu.
Chúng ta xưng nhận, tôn thờ và ca ngợi danh Ngài, bởi vì chúng ta là những đầy tớ vô ích, chỉ làm điều mình có bổn phận phải làm. Danh Đức Chúa Trời được tôn thánh bởi điều gì? Chỉ bởi Đấng Christ. Ngài đã hoàn tất công việc ấy (xem Ê-xê-chi-ên 36:22–23; Giăng 17:4; Phi-líp 2:8–11).
- Vương quốc Cha được đến,
Nước Đức Chúa Trời không ở đây trên đất này. Một trời mới và đất mới sẽ được tạo nên. Đức Chúa Trời sẽ làm mới lại mọi sự.
Câu “Nước Cha được đến” cho chúng ta thấy điều gì đang chờ đợi chúng ta, đồng thời nhắc nhở chúng ta về thái độ của lòng mình. Vì các môn đồ của Đấng Christ không thuộc về thế gian này. Họ trông đợi Nước Đức Chúa Trời và chờ đợi ngày Nước ấy đến.
Vì vậy, khi chúng ta cầu nguyện: “Nước Cha được đến”, chúng ta không hướng mắt mình về thế gian chóng qua này, nhưng hướng về Nước Đức Chúa Trời đang đến. Hy vọng của chúng ta không đặt nơi thế gian này, nhưng ở trong Đấng Christ và trong Nước mà Đức Chúa Trời sẽ thiết lập.
- Ý Cha được nên, ở đất như ở trời!
Đức Chúa Trời Toàn Năng làm mọi điều Ngài muốn, mọi điều đẹp ý Ngài (Ê-sai 46:10; Thi Thiên 115:3; Thi Thiên 135:6), cả ở trên trời lẫn dưới đất. Khi chúng ta cầu nguyện: “Ý Cha được nên”, qua đó chúng ta xưng nhận quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời và thuận phục Ngài.
Chúng ta thuận phục Ngài và thuận phục quyền tể trị của Ngài trong tư tưởng, lời nói và trên hết là trong việc làm của mình.
- Xin cho chúng con hôm nay thức ăn đủ ngày; Xin tha tội cho chúng con, như chúng con đã tha những kẻ có lỗi với chúng con
Đối với tôi, câu này mang ý nghĩa của một sự xác nhận và bày tỏ lòng biết ơn nhiều hơn là một lời cầu xin. Vì Chúa Giê-su phán: “Cha các con biết các con cần gì trước khi các con cầu xin Ngài” (Ma-thi-ơ 6:8). Ngài chăm sóc chúng ta từng ngày. Nếu chúng ta là những con người có lỗi lầm mà còn biết chăm sóc cho con cái mình, thì Đức Chúa Trời toàn hảo và nhân từ sẽ còn chăm sóc chúng ta biết bao!
Ngay cả trong sự tha thứ, chúng ta cũng được nhắc nhớ về những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta. Qua sự hy sinh của Chúa Giê-su, Đức Chúa Trời đã tha thứ tất cả những tội lội của chúng ta – những tội lội trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Bởi ân điển của Đức Chúa Trời, chúng ta được tự do, là những con cái tự do của Đức Chúa Trời (Ga-la-ti 5:1).
Tuy nhiên, chúng ta không lợi dụng sự tự do này để cố ý phạm tội và lại để mình bị đặt dưới ách nô lệ (Ga-la-ti 5:1). Trái lại, vì lòng biết ơn, chúng ta sống một đời xứng đáng với Tin Lành của Đấng Christ (Phi-líp 1:27). Đừng để tội lỗi khiến bạn xa cách Chúa, làm tổn hại mối quan hệ của bạn với Ngài và khiến Đức Thánh Linh buồn lòng. Hãy giữ mình trong sạch! (1 Ti-mô-thê 5:22). Điều này tôi phải luôn tự nhắc nhở mình.
Bổ sung cho lời cầu nguyện “Lạy Cha chúng con”, còn có hai câu nữa mà Chúa Giê-su phán ngay sau đó:
“Nếu các con tha lỗi cho người ta, thì Cha các con ở trên trời cũng sẽ tha thứ cho các con. Nhưng nếu các con không tha lỗi cho người ta, thì Cha các con ở trên trời cũng sẽ không tha thứ cho các con.” (Ma-thi-ơ 6:14–15).
- Xin đừng để chúng con bị cám dỗ, nhưng cứu chúng con khỏi điều ác!
Đức Chúa Trời không cám dỗ một ai (Gia-cơ 1:13). Chúng ta phạm tội vì tự để mình bị tội lỗi lôi kéo và chúng ta chấp nhận điều đó xảy ra. Chúa Giê-su biết sự yếu đuối của xác thịt (Mác 6:31; Ma-thi-ơ 26:41, 44). Vì vậy, Ngài đã cầu nguyện và cầu xin Đức Chúa Cha, gìn giữ các môn đồ Ngài khỏi điều ác (Giăng 17:15). Vì thế, đối với tôi, câu “Xin chớ để chúng con bị cám dỗ” có nghĩa là lời cầu xin: “Xin gìn giữ chúng con khỏi điều ác.” Và nếu vì sự vô tín của chúng ta mà chúng ta phải chịu điều ác, thì xin Đức Chúa Trời giải cứu chúng ta, vì Ngài chiến đấu cho chúng ta (Phục-truyền Luật-lệ Ký 3:22) và Ngài giải cứu (Thi Thiên 34:20).
Chúng ta phải làm gì khi thật sự hiểu và thừa nhận rằng mình yếu đuối và nghèo khó về mặt thuộc linh? Hãy chạy trốn! Chúng ta chạy trốn khỏi tội lỗi (1 Cô-rinh-tô 6:18; 10:14; 1 Ti-mô-thê 6:11; 2 Ti-mô-thê 2:22), trước khi tội lỗi đến gần chúng ta và chiếm chỗ trong lòng chúng ta (Ê-phê-sô 4:27).
Kinh Thánh cảnh báo chúng ta không được đùa giỡn với tội lỗi hoặc cố ý đặt mình vào hoàn cảnh bị tội lỗi cám dỗ: “Có ai có thể lấy lửa để vào trong người mà áo quần mình không bị cháy sao? Hay có ai đi trên than hồng mà chân mình không bị phỏng sao?” (Châm-ngôn 6:27–28).
- Vì nước, quyền, vinh-hiển đều thuộc về Cha đời đờ A-men.
Trong Phúc Âm Lu-ca không có câu kết này như trong Phúc Âm Ma-thi-ơ. Phần kết của lời cầu nguyện, được gọi là lời chúc tụng (Doxology), có nguồn gốc từ truyền thống cầu nguyện của người Do Thái. Người ta kết thúc lời cầu nguyện bằng sự ca ngợi Đức Chúa Trời và một tiếng “A-men”. Chúng ta có thể thấy một lời chúc tụng như vậy trong các sách Thi Thiên.
Một số Cơ Đốc nhân cho rằng lời chúc tụng của bài cầu nguyện “Lạy Cha chúng con” tương ứng với những lời trong 1 Sử-ký 29:10–11. Nếu lòng chúng ta không lên án mình, thì chúng ta có sự dạn dĩ và có thể nói lời kết này lên.
Bài cầu nguyện chung là lời cầu nguyện hoàn hảo, vì chính Chúa Giê-su đã ban cho chúng ta lời cầu nguyện này. Lời cầu nguyện này nhắc người tin Chúa nhớ đến Ngài khi cầu nguyện. Vì nếu không có Chúa Giê-su, tội lỗi vẫn còn đó, và tất cả chúng ta đều chết trong tội lỗi của mình (Giăng 8:24). Không có Đấng Christ, chúng ta không có hy vọng và xa cách Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 2:12). Không có Ngài, chúng ta không có sự hòa thuận với Đức Chúa Trời (2 Cô-rinh-tô 5:18–19) và không có sự cứu rỗi (Công-vụ Các Sứ-đồ 4:12). Không có Đấng Christ, không có sự sống lại để được sống (1 Cô-rinh-tô 15:14) và không có sự sống đời đời (Giăng 3:36). Không có Ngài, không ai đến được với Đức Chúa Cha (Giăng 14:6).
Vì muôn vật đều là từ Chúa Giê-su, bởi Ngài, và hướng về Ngài. Vinh-hiển cho Đấng Christ đời đời vô-cùng! A-men.