Con Đường
Tôn giáo phổ biến ở Việt Nam là sự pha trộn giữa Phật giáo, thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng dân gian. Một hỗn hợp của tất cả những gì đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người từ các vùng miền khác nhau. Nhiều yếu tố huyền bí, nhiều mê tín, nhiều yếu tố thế tục.
Tôi lớn lên trong môi trường đó. Khi còn là học sinh tiểu học, tôi sang Đức và lần đầu tiên tiếp xúc với tôn giáo Cơ đốc. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, việc cải đạo sẽ là sự phản bội lại cội nguồn của chính mình cũng như những bậc tổ tiên vốn được vô cùng tôn kính. Việc thờ phụng một đấng tối cao mà danh của ngài chẳng mang lại ý nghĩa gì đối với tôi, lại còn đến từ một nền văn hóa khác biệt. Điều đó là không thể tưởng tượng được đối với tôi.
Tuy nhiên, khi có dịp chứng kiến một lời cầu nguyện của một tín đồ Cơ đốc chân thành, tôi đã kinh ngạc. Đối với tôi, Đức Chúa Trời trên trời và các Đấng bề trên của Ngài là các vị Thần đầy quyền năng, mà chúng ta là những người phàm trần phải kiếm được sự ban ơn của họ bằng của lễ, sự thờ phượng và sự quy phục. Thế nhưng trong lời cầu nguyện đó, tôi nghe thấy từ “Cha”. Không chỉ từ ngữ và sự thân mật gắn liền với nó làm tôi kinh hoàng, mà còn cả sự thân mật mà người cầu nguyện đã bày tỏ mọi điều với Cha trên trời của mình. Sự gần gũi ấy gần như mang tính gia đình và thân thuộc. Thật là phạm thượng khi một người dám tự cho mình quyền tự do đến gần Đức Chúa Trời như vậy. Nhưng trong thầm kín, tôi cũng ao ước có được sự thân mật ấy với Đấng Siêu Việt mang tên Đức Chúa Trời. Và chính khát vọng được thân mật với Đức Chúa Trời ấy đã khiến tôi, khi còn là cậu bé chín tuổi, nhận lấy cuốn Tân Ước mà người tín hữu kia đã tặng, và đọc nó.
Tôi còn nhớ rằng mọi lời và câu chuyện trong các sách Phúc Âm đối với tôi đều là chân lý hoàn toàn rõ ràng và logic. Không có chút nghi ngờ nào, chỉ có sự soi sáng. Sau vài ngày, tôi đọc đến câu chuyện về La-xa-rơ, người đã được Chúa Giê-xu khiến sống lại. Và khi tôi đọc đến những câu Kinh Thánh ấy:
25 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. 26 Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng? (Giăng 11:25-26)
Tôi đã nói to: “Vâng, con tin.”
Một cậu bé chín tuổi, tự hào về văn hóa và cội nguồn của mình, đã làm điều mà trong mắt cậu ấy là sự phản bội lại với văn hóa và cội nguồn ấy, đó là đặt niềm tin vào một Chúa Giê-su mà lúc đó cậu thậm chí còn không thể phát âm được tên gọi của Ngài.
Những năm tháng trôi qua. Trong thời gian đó, tôi đã đến một nhà thờ Đức, chịu lễ xác nhận niềm tin (Konfirmation) và phát triển rất tốt về mặt đời thường, trải qua nhiều thăng trầm. Đến giữa tuổi ba mươi, tôi thành công điều hành một doanh nghiệp, có một gia đình yêu thương mình, có một nhóm bạn tuyệt vời gồm những người có học thức, thành đạt và đạo đức trong sạch, có những nhân viên ngưỡng mộ mình, có một ngôi nhà đẹp, kiếm được nhiều tiền hơn cả những gì tôi từng mơ ước, có xe hơi, những kỳ nghỉ dưỡng và tất cả những gì người ta mong muốn – nhưng bên trong thì trống rỗng.
Khủng hoảng tuổi trung niên, ngay giữa tuổi ba mươi?
Tâm lý học không giúp được gì. Thành công nhiều hơn cũng chẳng giúp được. “Tự thưởng cho mình một chút” cũng chẳng giúp được gì hơn. Giờ thì sao?
Tôi không quên Chúa Giê-su và Kinh Thánh. Nhưng qua nhiều năm, Ngài chỉ còn là đấng tôi kêu cầu khi cần điều gì đó. Một chiếc hộp ước nguyện, một sự thay thế gần như cho Đức Phật. Kinh Thánh đối với tôi là một cuốn sách tôi đọc mà hầu như không hiểu. Vì vậy tôi đọc ngày càng ít hơn.
Tuy nhiên, có vài điều còn đọng lại trong ký ức:
7 Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho. 8 Bởi vì, hễ ai xin thì được; ai tìm thì gặp; ai gõ cửa thì được mở. (Ma-thi-ơ 7:7-8)
Trong tình trạng tuyệt vọng của mình, còn tất cả những điều vô nghĩa nào nữa mà con người không làm, đúng không? Tôi cầu nguyện bằng câu Kinh Thánh này với Chúa Giê-su, Đấng mà tôi đã tuyên xưng đức tin từ rất lâu trước đó. “Lạy Chúa, nếu Ngài có thật, hãy tỏ Ngài cho con. Xin hãy bày tỏ Ngài, bởi vì Ngài đã nói rằng Ngài sẽ mở khi con gõ và khi con tìm con sẽ gặp được.” Và thời gian trôi qua. Sau nhiều tuần và nhiều tháng, Ngài không tỏ mình, chỉ có sự tuyệt vọng và cảm giác vô nghĩa của cuộc đời ngày càng lớn. Và tôi cầu nguyện lời đó gần như mỗi ngày. Rồi thời gian vẫn trôi đi.
Người quản lý thành công, người cha yêu thương gia đình, người đối thoại thông minh … – Tất cả chỉ là vỏ bọc. Ba năm trôi qua, sự tuyệt vọng và tiêu cực ngày càng lớn đến mức tôi phải đổi công việc. Từ bỏ vị trí đỉnh cao, nhận một thử thách mới – tất cả với hy vọng, cảm nhận lại được sự sống trong mình. Và tình hình lại càng tệ hơn. Sau vài tháng, tôi tự hỏi điều gì đã khiến mình bị thúc đẩy và thực hiện những thay đổi đó.
Sau khoảng năm tháng làm việc, tôi quen một đồng nghiệp tự nhận mình là Cơ đốc nhân. Chúng tôi có vài cuộc trò chuyện và cốt lõi lời anh ấy chỉ là: Nếu có một Đức Chúa Trời hằng sống, thì Ngài ở gần chúng ta. Và khi chúng ta thờ phượng Ngài, thì Ngài là Đấng quyết định còn chúng ta là người phụng sự và đầy tớ theo đúng nghĩa.
Điều đó thật khó nuốt. Kiến thức, lý trí và những hiểu biết tôi xây dựng qua hàng chục năm. Nhân cách, năng lực – tất cả những gì tôi khá tự hào, tất cả phải đặt sang một bên và hạ mình trước Đấng được chép trong Kinh Thánh ư? Vả lại, tôi thừa biết Kinh Thánh do con người viết ra và chắc chắn con người cũng đã thay đổi nó qua năm tháng, làm nó bị bóp méo, dù nó từng chân thật từ đầu đi nữa. Thôi thì, cũng đừng quá khắt khe như vậy.
Trong lần gặp gỡ đầu tiên, anh ấy còn tặng tôi một cuốn Kinh Thánh, tiếng đức, bản Schlachter bản hiệu đính năm 2000. Tại sao bản đó lại tốt hơn bản tôi có từ thời thơ ấu? Vậy cho nên nó được cất vào tủ sách.
Tuy nhiên, cuộc trò chuyện với người đồng nghiệp đó đã thôi thúc tôi đọc Kinh Thánh thường xuyên hơn. Dù vậy, những lời lẽ trong Kinh Thánh không nói gì với tôi. Và thành thật mà nói, nhiều chỗ tôi cũng không hiểu. Vì vậy sau vài tuần và vài tháng, tôi lại dần mất hứng thú.
Một ngày nọ, đột nhiên, đồng nghiệp gửi cho tôi một liên kết đến một bài giảng và bảo rằng bài đó hay. Thôi thì xem sao. Tôi đã bật bài giảng lên và ngay những phút đầu tiên đã khiến tôi không thể chịu nổi. Sự triệt để mà người giảng khẳng định tính tuyệt đối của Kinh Thánh một cách cực đoan như vậy, đối với một người có tư duy khai sáng và suy nghĩ như tôi, thì có vẻ lạc hậu. Tôi tắt bài giảng đi. Vài ngày sau, vì thấy chán nên tôi lại bật bài giảng lên và lắng nghe.
Ngày hôm nay tôi không còn nhớ bài giảng nói chính xác điều gì. Nhưng một câu đã đánh trúng tôi như tia chớp: Nếu Đức Chúa Trời toàn tri và toàn năng nói rằng một điều gì đó là tốt hay xấu, thì ngươi là ai, hõi con người hay chết, mà dám phản đối điều ngược lại? Tất cả con người trong tôi đều chống lại việc chấp nhận tuyên bố đó. Suốt nhiều ngày liền, tôi cứ trăn trở về điều đó và không thể yên nghỉ.
Nhưng điều tôi cảm nhận được, điều tôi được phép cảm nhận lại sau mấy chục năm, chính là niềm hy vọng thật sự. Không phải hy vọng vào sự giàu có hay thành công thêm nữa. Không phải hy vọng vào thêm danh vọng hay kiến thức. Không phải hy vọng vào điều gì đó tôi có thể nhận được và tác động của nó sẽ phai nhạt theo thời gian, mà là niềm hy vọng rằng mọi sự sẽ thay đổi ngay khoảnh khắc tôi nắm lấy nó. Và tôi đã dám làm điều đó. Tôi cầu nguyện với Chúa Giê-su rằng tôi đồng ý với Ngài, bất kể Ngài nói gì. Tôi xứng nhận với Ngài rằng nếu chỉ dựa vào chính mình, tôi đã hư mất. Xin Ngài tha thứ cho tôi những năm tháng tự tôi là Chúa của tôi, còn Ngài chỉ là người ngoài cuộc. Và phép lạ đã xảy ra. Một số người gọi đó là “được sinh lại”, số khác gọi là “sự soi sáng”. Tôi không có tên gọi cho nó, nhưng sau lời cầu nguyện đó, tôi hiểu hết mọi điều tôi đọc trong Kinh Thánh. Những câu Kinh Thánh như đang trò chuyện trực tiếp với tôi. Đó là những lời chỉ dẫn và tâm tình dành riêng cho tôi từ một Đức Chúa Trời đầy yêu thương và gần gũi. Sự gần gũi đã thúc đẩy tôi khi mới chín tuổi, tìm đến Kinh Thánh và bắt đầu hành trình đức tin.
Đó là một câu chuyện đẹp mà tôi được vinh hạnh chia sẻ với nhiều người.
Nhưng câu chuyện chỉ mới bắt đầu từ đây.
Tôi được phép nhận biết rằng Chúa Giê-su đang sống và hành động. Và rằng Ngài ở gần chúng ta.
Nhưng trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em là kẻ ngày trước cách xa, hiện nay đã nhờ huyết Đấng Christ mà được gần rồi. (Ê-phê-sô 2:13)
Tôi được phép nhận biết rằng Ngài yêu chúng ta và đã làm những điều không thể tưởng tượng được để cứu chúng ta.
Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời. (Giăng 3:16)
Tôi được phép nhận ra rằng không có chuyện “tôi và Chúa Giê-su”, mà chỉ có Ngài thôi. Trái lại, tôi cần phải tan biến đi.
Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng môn đồ rằng: Nếu ai muốn theo ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta. Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mà mất sự sống thì sẽ được lại. (Ma-thi-ơ 16:24-25)
Tôi cũng được phép nhận biết rằng Đức Chúa Trời tuyệt đối nghiêm túc đến mức Ngài ban Con một của Ngài và Con đó là con đường duy nhất để đến với Ngài. Sự mặc khải của Đức Chúa Trời chính là Con Ngài. Con là Lời và là Chân lý. Ngài là Sự sống và là con đường duy nhất đến với Cha.
Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. (Giăng 1:1)
Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. (Giăng 14:6)
Và tôi được phép nhận biết rằng trở ngại lớn nhất của con người là họ không muốn từ bỏ những gì thuộc về bản thân để nhận lấy điều tốt hơn, điều tồn tại đến đời đời.
Người của Đức Chúa Trời trả lời: “CHÚA có thể cho vua nhiều hơn thế nữa! (II Sử ký 25:9 BD2002)
Nhưng chúng ta lại bám chặt vào những gì hiện tại, là những gì sẽ qua đi. Chúng ta biết rõ rằng rồi một ngày nào đó chúng ta sẽ phải chết. Chúng ta biết rằng trong một trăm năm nữa, mọi lo âu và hy vọng của chúng ta sẽ không còn nữa. Nhưng chúng ta vẫn bám vào những thứ Ở Đây và Bây Giờ. Thế nhưng nếu thật sự có một Đức Chúa Trời đang sống và yêu chúng ta, thì chúng ta được phép bước vào mối quan hệ thân mật với Ngài và vui mừng về ngôi nhà đời đời của mình bên Ngài.
Vậy, chúng ta hằng đầy lòng tin cậy, và biết rằng khi chúng ta đang ở trong thân thể nầy thì cách xa Chúa -vì chúng ta bước đi bởi đức tin, chớ chẳng phải bởi mắt thấy. – Vậy tôi nói, chúng ta đầy lòng tin cậy, muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn. Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể nầy, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa. Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt. (II Cô-rinh-tô 5:6-10)
Và tôi được phép nhận biết rằng ngay từ bây giờ chúng ta đã được ở trong Ngài, để được sở hữu tất cả những gì Đức Chúa Trời đã ban cho và đã hứa cho tương lai.
Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời. (Ê-phê-sô 1:3)
Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài. (Ê-phê-sô 1:7)
Ấy lại cũng trong Ngài mà anh em sau khi đã nghe đạo chân thật, là đạo Tin lành về sự cứu rỗi anh em, ấy là trong Ngài mà anh em đã tin và được ấn chứng bằng Đức Thánh Linh là Đấng Chúa đã hứa, Đấng ấy làm của cầm về cơ nghiệp chúng ta, cho đến kỳ chuộc lấy những kẻ mà Ngài đã được để khen ngợi sự vinh hiển Ngài. (Ê-phê-sô 1:13-14)
Chúng ta chỉ cần đến với Ngài.
Thánh Linh và Cô Dâu cùng nói: “Hãy đến!” Người nào nghe cũng hãy nói: “Hãy đến!” Ai khát, hãy đến! Người nào muốn, hãy đến nhận nước sự sống miễn phí. (Khải huyền 22:17 BHĐ)
(Nguyễn Nam Trung)
bài gốc tiếng đức, dịch sang tiếng việt bởi công cụ dịch và hiệu chỉnh.