Rô-ma 7 – Phơi Bày Điểm Yếu Của Luật Pháp

Rô-ma 7 – Phơi Bày Điểm Yếu Của Luật Pháp

A.Chết đối với Luật pháp.

1.(1-3) Luật pháp chỉ có thẩm quyền đối với những người sống.

1 Hỡi anh em (vì tôi nói với những kẻ biết luật pháp), vậy anh em há chẳng biết rằng luật pháp chỉ cai trị người ta khi còn sống hay sao? 2 Cho nên, đàn bà có chồng, hễ chồng còn sống bao lâu, thì luật pháp buộc phải theo chồng bấy lâu; nhưng nếu chồng chết, thì người vợ được thoát khỏi luật pháp đã buộc mình với chồng. 3 Vậy nếu đương lúc chồng còn sống, mà vợ đi lấy người khác, thì phải bị kêu là đàn bà ngoại tình; nhưng nếu chồng chết, thì vợ được buông tha khỏi luật pháp, dầu lấy người khác cũng chẳng phải là đàn bà ngoại tình vậy.

a.Luật pháp có quyền thống trị: Trong Rô-ma 6:14, Phao-lô nói với chúng ta rằng anh em không còn ở dưới luật pháp nữa, nhưng ở dưới ân điển. Sau khi thảo luận trong Rô-ma 6:15-23 về những ý nghĩa thực tiễn của điều này, ông giải thích đầy đủ hơn về việc tại sao chúng ta không còn ở dưới quyền thống trị của luật pháp nữa.

b.Luật có quyền thống trị con người: Từ ngữ Hy Lạp cổ ở đây không có quán từ “ (cái) the ” trước từ “ law ” (luật). Điều này có nghĩa là Phao-lô đang nói về một nguyên tắc rộng hơn Luật Môi-se. Luật quyền cai quản con người bao gồm Luật Môi-se, nhưng còn có một nguyên tắc luật rộng hơn được truyền đạt bởi sự sáng tạo và lương tâm, và những điều này cũng có quyền thống trị con người.

c.Luật pháp có quyền thống trị con người chừng nào người ấy còn sống: Phao-lô nhấn mạnh rằng cái chết chấm dứt mọi nghĩa vụ và hợp đồng. Người vợ không còn bị ràng buộc với chồng nếu chồng chết, vì cái chết chấm dứt hợp đồng đó. Nếu chồng chết, người vợ được giải thoát khỏi luật lệ đó.

2.(4) Sự chúng ta cùng chết với Chúa Giê-su đã giải phóng chúng ta khỏi luật pháp.

a.4 Hỡi anh em ta, anh em cũng như vậy, bởi thân thể của Đấng Christ, anh em đã chết về luật pháp: Trong Rô-ma 6:3-8, Phao-lô đã giải thích cẩn thận rằng chúng ta đã chết với Chúa Giê-su và cũng đã sống lại với Ngài, mặc dù ở đó Phao-lô chỉ nói về sự chết của chúng ta đối với tội lỗi. Giờ đây, ông giải thích rằng chúng ta cũng đã chết đối với luật pháp.

i.Một số người có thể nghĩ: “Đúng, chúng ta được cứu bởi ân điển, nhưng chúng ta phải sống theo luật pháp để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.” Ở đây, Phao-lô khẳng định rõ ràng rằng các tín hữu đã chết đối với luật pháp, trong chừng mực luật pháp đó đại diện cho một nguyên tắc sống hay một vị thế được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời.

ii.“Những người tin Chúa đã chấm dứt việc tuân theo luật pháp. Luật pháp không còn là một lựa chọn để cứu rỗi họ nữa. Họ không tìm cách hòa thuận với Chúa bằng cách tuân theo một hình thức luật lệ nào đó, như những người theo hầu hết các tôn giáo khác đã làm.” (Morris)

b.4bđặng thuộc về người khác, tức là người đã từ kẻ chết sống lại, hầu cho chúng ta được kết quả cho Đức Chúa Trời: Tuy nhiên, chúng ta không được tự do khỏi luật pháp để sống cho riêng mình. Chúng ta được tự do để có thể thuộc về, bản KJV dùng chữ “kết hôn“; BD2020 dùng chữ kết hiệp với Chúa Giê-su và để có thể kết quả cho Đức Chúa Trời.

3.(5) Vấn đề của luật pháp.

5 Vì khi chúng ta còn sống theo xác thịt, thì các tình dục xấu xa bị luật pháp xui khiến, hành động trong chi thể chúng ta và kết quả cho sự chết.

a.Khi chúng ta còn sống theo xác thịt: Dưới luật pháp, chúng ta không kết quả cho Đức Chúa Trời. Trái lại, chúng ta kết quả dẫn đến sự chết, vì luật pháp đã khơi dậy những dục vọng tội lỗi trong chúng ta.

b.Để kết quả cho sự chết: Phao-lô sẽ giải thích vấn đề luật pháp này đầy đủ hơn trong Rô-ma 7:7-14. Nhưng giờ đây chúng ta thấy ý của ông – rằng chúng ta chỉ thực sự kết quả cho Đức Chúa Trời khi chúng ta được giải thoát khỏi luật pháp.

4.(6) Được giải thoát khỏi luật pháp.

a.6Nhưng bây giờ chúng ta đã chết về luật pháp, là điều bắt buộc mình: Ở đây, Phao-lô tóm tắt chủ đề của Rô-ma 7:1-5. Bởi vì chúng ta đã chết với Chúa Giê-su trên đồi Gô-gô-tha, chúng ta đã chết đối với luật pháp và được giải thoát khỏi sự thống trị của luật pháp trên chúng ta như một nguyên tắc về sự xưng công bình hoặc sự thánh hóa.

i.Luật pháp không biện minh cho chúng ta; nó không làm cho chúng ta được công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Luật pháp không thánh hóa chúng ta; nó không đưa chúng ta đến gần Đức Chúa Trời hơn và làm cho chúng ta thánh khiết hơn trước mặt Ngài.

b.6bthì được buông tha khỏi luật pháp đặng hầu việc Đức Chúa Trời theo cách mới của Thánh Linh, chớ không theo cách cũ của văn tự: Sự tự do của chúng ta không phải để chúng ta thôi (tự do khỏi) phụng sự Đức Chúa Trời, mà là để chúng ta có thể phụng sự Ngài tốt hơn, trong cách tươi mới của Thánh Linh mà không phải cách xưa cũ của văn tự(BHĐ).

i.Bạn hầu việc Đức Chúa Trời theo cách tươi mới của Thánh Linh tốt đến mức nào? Thật đáng tiếc khi nhiều người phục vụ tội lỗi hoặc chủ nghĩa duy luật với lòng tận tụy lớn hơn cả những ai lẽ ra phải hầu việc Đức Chúa Trời theo cách tươi mới của Thánh Linh. Thật đáng buồn khi nỗi sợ hãi chi phối chúng ta mạnh mẽ hơn tình yêu thương.

B.Vấn đề của chúng ta với luật pháp toàn hảo của Chúa.

1.(7a) Phao-lô hỏi: Luật có (tương đương với) tội lỗi không?

a.7a Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Luật pháp há là tội lỗi sao? Nếu chúng ta theo dõi mạch suy luận này, ta có thể hiểu tại sao người ta lại suy luận như vậy. Phao-lô nhấn mạnh rằng chúng ta phải “chết đối với luật pháp” nếu muốn sinh bông trái cho Đức Chúa Trời. Chắc hẳn sẽ có người nghĩ: “Chắc chắn là có điều gì đó không ổn với luật pháp!”

2.(7b) Không, luật pháp là tốt vì nó cho chúng ta thấy tội lỗi.

a.Tôi sẽ không biết đến tội lỗi nếu không nhờ luật pháp: Luật pháp giống như một máy chụp X-quang; nó phơi bày những gì hiện hữu nhưng bị che giấu. Bạn không thể đổ lỗi cho máy chụp X-quang về những gì nó phơi bày.

b.BHĐ: bChẳng hề như vậy! Nhưng nếu không nhờ luật pháp thì tôi không biết đến tội lỗi. Nếu luật pháp không nói: “Ngươi chớ tham lam” thì tôi đã không biết tham lam là gì: Luật pháp đặt ra “giới hạn tốc độ” để chúng ta biết chính xác mình có đang đi quá nhanh hay không. Chúng ta có thể sẽ không bao giờ biết mình đang phạm tội trong nhiều lĩnh vực (như lòng tham lam) nếu luật pháp không chỉ rõ cho chúng ta.

3.(8) Tội lỗi làm hư hỏng điều răn (luật pháp).

a.8Ấy là tội lỗi đã nhân dịp, bởi điều răn mà sanh ra mọi thứ ham muốn trong lòng tôi: Vì không có luật pháp thì tội lỗi chết đi: Phaolô mô tả cơ chế (dynamic, động lực) mà qua đó lời cảnh báo “Đừng làm điều đó!” có thể trở thành lời kêu gọi hành động, càng làm thế, do bản tính tội lỗi và nổi loạn trong lòng chúng ta. Đó không phải là lỗi của điều răn, mà là lỗi của chúng ta.

i.Trong cuốn sách *Lời Thú Tội*, nhà thần học vĩ đại của Giáo hội thời sơ khai, Augustine, đã miêu tả cách thức mà động lực (cơ chế) tâm lý này đã vận hành trong cuộc đời ông khi còn là một chàng trai trẻ: “ Gần vườn nho của chúng tôi có một cây lê trĩu quả. Một đêm giông bão, lũ thanh niên nghịch ngợm chúng tôi đã lên kế hoạch đi trộm và mang chiến lợi phẩm về. Chúng tôi hái được một lượng lê khổng lồ – không phải để tự mình thưởng thức đâu, mà để ném cho bầy lợn ăn, dù chúng tôi cũng nhấm nháp vừa đủ để tận hưởng cảm giác của “trái cấm”. Đó là những quả lê ngon, nhưng không phải những quả lê đó là thứ mà tâm hồn khốn khổ của tôi thèm khát, vì ở nhà tôi đã có những quả ngon hơn nhiều. Tôi hái chúng chỉ đơn giản là để trở thành một tên trộm. Bữa tiệc duy nhất tôi có được là một bữa tiệc của sự bất chính, và tôi đã tận hưởng nó trọn vẹn. Tôi yêu thích điều gì trong việc trộm cắp? Có phải là niềm vui khi hành động trái pháp luật? Ham muốn ăn trộm được khơi dậy chỉ đơn giản bởi lệnh cấm ăn trộm.”

ii.Trong lịch sử nước Mỹ, chúng ta biết rằng Đạo luật Cấm rượu không ngăn được việc uống rượu. Trên nhiều khía cạnh, nó khiến việc uống rượu trở nên hấp dẫn hơn đối với mọi người vì mong muốn phá vỡ những giới hạn do điều răn đặt ra.

iii.Một khi Chúa vạch ra ranh giới cho chúng ta, chúng ta ngay lập tức bị cám dỗ vượt qua ranh giới đó – điều này không phải lỗi của Chúa hay ranh giới của Ngài, mà là lỗi của tấm lòng tội lỗi của chúng ta.

b.BHĐ: Tội lỗi đã nắm lấy cơ hội trong điều răn |Bản tiếng anh: Tội lỗi, lợi dụng điều răn: Sự yếu đuối của luật pháp không nằm ở luật pháp – mà nằm ở chính chúng ta. Lòng chúng ta quá gian ác đến nỗi có thể tìm thấy cơ hội cho đủ loại ham muốn xấu xa từ một điều tốt lành như luật pháp của Chúa.

i.”chữ ‘cơ hội‘ trong nguyên văn là một thuật ngữ quân sự có nghĩa là căn cứ hoạt động. Sự cấm đoán tạo ra một bàn đạp mà từ đó tội lỗi rất dễ dàng phát triển.” (Harrison)

ii.Một khách sạn ven biển ở Florida lo ngại rằng khách có thể cố gắng câu cá từ ban công, nên họ đã treo các biển báo với nội dung: “CẤM CÂU CÁ TỪ BAN CÔNG.” Họ liên tục gặp rắc rối vì có người câu cá từ ban công, khiến dây câu và chì câu làm vỡ cửa sổ và gây phiền toái cho những người ở các phòng bên dưới. Cuối cùng, họ đã giải quyết vấn đề chỉ bằng cách gỡ bỏ những tấm biển đó – và không ai còn nghĩ đến việc câu cá từ ban công nữa. Do bản tính sa ngã của con người, luật pháp đôi khi lại có thể trở thành lời mời gọi phạm tội.

c.không có luật pháp thì tội lỗi chết đi: Điều này cho thấy sự độc ác của tội lỗi lớn đến mức nào – nó có thể lấy những điều tốt đẹp và thiêng liêng như luật pháp và bóp méo chúng để thúc đẩy điều ác. Tội lỗi biến tình yêu thành dục vọng, ước muốn chân thành chu cấp cho gia đình thành lòng tham, và luật pháp thành công cụ khuyến khích tội lỗi.

4.(9) Tình trạng vô tội của Phao-lô trước khi ông biết luật pháp.

a.9Ngày xưa tôi không có luật pháp mà tôi sống: Trẻ em có thể vô tội trước khi chúng biết hoặc hiểu luật pháp đòi hỏi điều gì. Đây là điều mà Phao-lô muốn nói đến khi ông nói rằng Ta đã từng sống mà không có luật pháp.

i.”Ông không sống bằng sự sống mà các tác giả Tân Ước thường đề cập. Ông chỉ sống theo nghĩa là chưa từng bị xử tử do đối đầu với luật pháp.” (Morris)

ii.”Anh ta cảm thấy hoàn toàn an ổn giữa muôn vàn tội lỗi và bản chất tội lỗi của mình. Anh ta sống với niềm tin rằng cú đòn chí mạng vẫn chưa kết liễu được anh. Anh ta an nhiên ngồi trong ngôi nhà của sự u mê—tựa như kẻ đang sống trên miệng núi lửa—và đinh ninh rằng mọi sự vẫn ổn thỏa.” (Lenski)

b.9bnhưng khi điều răn đến, thì tội lỗi lại sống: Khi chúng ta hiểu biết luật pháp, luật pháp cho chúng ta thấy tội lỗi của mình và nó kích động sự nổi loạn của chúng ta, dẫn đến nhiều tội lỗi và sự chết hơn nữa.

5.(10-12) Tội lỗi làm hư hỏng (biến chất) luật pháp và phá hỏng mục đích ban sự sống của luật pháp; một khi luật pháp bị hư hỏng (biến chất) bởi tội lỗi, nó sẽ mang đến sự chết.

a.10còn tôi thì chết; vậy thì té ra điều răn vốn nên làm cho tôi sống, đã dắt tôi đến sự chết: Tội lỗi làm điều này bằng sự lừa dối. Tội lỗi lừa dối chúng ta:

  • Bởi vì tội lỗi hứa hẹn sự thỏa mãn một cách sai lầm.
  • Bởi vì tội lỗi thường xuyên viện cớ để bào chữa cho hành vi phạm tội.
  • Bởi vì tội lỗi hứa hẹn một cách sai lầm về việc thoát khỏi sự trừng phạt.

b.11Vì tội lỗi đã nhân dịp, dùng điều răn dỗ dành tôi và nhân đó làm cho tôi chết: Không phải luật pháp lừa dối chúng ta, mà chính tội lỗi lợi dụng luật pháp để nổi loạn. Đó là lý do tại sao Chúa Giê-su nói: “Các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ giải phóng các ngươi” (Giăng 8:32). Lẽ thật giải phóng chúng ta khỏi sự lừa dối của tội lỗi.

c.11bnhân đó làm cho tôi chết: Tội lỗi, khi bị sa ngã, dẫn đến cái chết – chứ không phải sự sống. Một trong những âm mưu lớn nhất của Sa-tan là khiến chúng ta nghĩ rằng tội lỗi là điều tốt đẹp mà một Đức Chúa Trời khó chịu, khó tính, muốn tước đoạt khỏi chúng ta. Khi Chúa cảnh báo chúng ta tránh xa tội lỗi, Ngài cảnh báo chúng ta tránh xa điều sẽ giết chết chúng ta.

d.12Ấy vậy, luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình và tốt lành: Phao-lô hiểu rằng có người có thể hiểu nhầm ý ông là ông chống lại luật pháp – nhưng hoàn toàn không phải vậy. Thật vậy, chúng ta phải chết đối với tội lỗi (Rô-ma 6:2) và phải chết đối với luật pháp (Rô-ma 7:4). Nhưng điều đó không nên được hiểu là Phao-lô tin rằng tội lỗi và luật pháp là một. Vấn đề nằm ở chúng ta, chứ không phải ở luật pháp. Tuy nhiên, tội lỗi làm hư hỏng công việc hoặc tác dụng của luật pháp, vì vậy chúng ta phải chết đối với cả hai.

C.Mục đích và tính chất của luật pháp.

1.(13) Luật pháp phơi bày và làm nổi bật tội lỗi.

a.13a Vậy thì điều lành trở làm cớ cho tôi chết sao? Chẳng hề như vậy! Nhưng ấy là tội lỗi đã làm cho tôi chết, hầu khi nó nhân điều lành làm chết tôi: Mặc dù luật pháp thách thức bản tính tội lỗi của chúng ta, điều này vẫn có thể mang lại kết quả tốt lành, bởi nó phơi bày bản chất tội lỗi sâu xa của chúng ta một cách rõ ràng hơn cả. Vì nếu tội lỗi có thể lợi dụng một điều tốt đẹp như luật pháp để thúc đẩy sự ác, thì điều đó càng chứng tỏ tội lỗi xấu xa đến nhường nào.

i.Chúng ta cần để tội lỗi phải bộc lộ bản chất tội lỗi của nó, bởi vì nó luôn muốn ẩn náu trong chúng ta và che giấu chiều sâu cũng như sức mạnh thực sự của nó. “Đây là một trong những hậu quả đáng buồn nhất của tội lỗi. Nó làm tổn thương chúng ta nhiều nhất bằng cách tước đi khả năng nhận biết mức độ tổn thương mà ta đang phải gánh chịu.” Nó làm suy yếu thể chất của con người, nhưng lại khiến họ khoe khoang về sức khỏe không hề suy giảm; nó đẩy anh ta vào cảnh khánh kiệt, song lại bảo rằng anh ta giàu có; nó lột trần anh ta, và khiến anh ta tự hào về bộ y phục, tưởng tượng mình đang khoác lên người.” (Spurgeon)

ii.”Do đó, luật pháp là công cụ quan trọng trong tay người tôi tớ trung tín để cảnh tỉnh và đánh thức những kẻ có tội.” (Clarke)

b.13btự bày ra nó là tội lỗi; đến nỗi tội lỗi nhân điều răn trở nên cực ác: Tội lỗi “trở nên tội lỗi hơn” khi xét dưới ánh sáng của luật pháp theo hai phương diện. Thứ nhất, tội lỗi trở nên cực kỳ tội lỗi khi đối chiếu với luật pháp. Thứ hai, tội lỗi trở nên cực kỳ tội lỗi vì luật pháp khơi dậy bản chất xấu xa của nó.

i.”Thay vì là nguồn năng lượng mạnh mẽ tiếp sức cho chúng ta vượt qua nghịch cảnh, Luật pháp lại giống như một thỏi nam châm hút ra từ bên trong chúng ta đủ mọi loại tội lỗi và sự bại hoại.” (Wiersbe)

ii.Cực kỳ tội lỗi: “Tại sao Phao-lô không nói là “đen tối tột cùng”, “khủng khiếp tột cùng” hay “chết chóc tột cùng”? Bởi vì trên đời này không có gì tồi tệ bằng tội lỗi. Khi ông ấy muốn dùng từ ngữ tồi tệ nhất có thể để gọi tội lỗi, ông ấy đã gọi nó bằng chính tên của nó, và lặp lại: ‘tội lỗi,’ ‘tội lỗi cực kỳ.'”(Spurgeon)

2.(14) Luật thiêng liêng không thể kiềm chế một con người thuộc về xác thịt.

a.14 Vả, chúng ta biết luật pháp là thiêng liêng; nhưng tôi là tánh xác thịt đã bị bán cho tội lỗi: Từ “ xác thịt ” đơn giản có nghĩa là “thuộc về xác thịt”. Phao-lô nhận ra rằng luật lệ thuộc linh không thể giúp được người xác thịt.

i.Từ “carnal” (thuộc về xác thịt) sử dụng từ tiếng Hy Lạp cổ ” sarkikos “, có nghĩa là “đặc trưng bởi xác thịt”. Trong ngữ cảnh này, nó nói về người có thể và nên làm khác đi nhưng lại không làm. Phao-lô nhận thấy tính xác thịt này trong chính mình, và biết rằng luật pháp,là thiêng liêng, cũng không thể giải quyết được bản chất xác thịt của ông.

b.bị bán cho tội lỗi: Phao-lô đang bị trói buộc bởi tội lỗi và luật pháp không thể giúp ông thoát khỏi điều đó. Ông giống như một người bị bắt vì tội ác và bị tống vào tù. Luật pháp chỉ giúp ông nếu ông vô tội, nhưng Phao-lô biết rằng mình có tội và luật pháp đang chống lại ông chứ không phải bênh vực ông.

c.Dù Phao-lô nói rằng ông sống theo xác thịt, điều đó không có nghĩa là ông không phải là một Cơ Đốc nhân. Sự nhận thức về bản chất xác thịt của ông cho thấy Đức Chúa Trời đã thực hiện một công việc trong ông.

i.Luther luận về câu “Nhưng tôi là người xác thịt, bị bán làm nô lệ cho tội lỗi”: “Đó là bằng chứng của người khôn ngoan và thuộc linh. Người ấy biết mình là người xác thịt, và người ấy không hài lòng với chính mình; quả thật, người ấy ghét chính mình và ca ngợi Luật pháp của Đức Chúa Trời, mà người ấy nhận biết bởi vì người ấy thuộc linh. Nhưng bằng chứng về một con người dại dột, sống theo xác thịt chính là việc người ấy tự coi mình là người thuộc linh và tự mãn về bản thân”

D.Cuộc đấu tranh để vâng lời bằng sức riêng của mỗi người.

1.(15-19) Phao-lô mô tả cảm giác bất lực của mình.

15 Vì tôi không hiểu điều mình làm: Tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét. 16 Song nếu tôi làm điều mình chẳng muốn, thì bởi đó nhận biết luật pháp là tốt lành.

a.Về những việc tôi đang làm, tôi không hiểu: Vấn đề của Phao-lô không phải là thiếu ước muốn – ông muốn làm điều đúng đắn (1bTôi chẳng làm điều mình muốn). Vấn đề của ông không phải là thiếu kiến thức – ông biết điều đúng đắn là gì. Vấn đề của ông là thiếu quyền năng: tôi không tìm ra cách thực hiện điều tốt. Ông thiếu quyền năng vì luật pháp không ban cho ông quyền năng.

i.Luật pháp nói rằng: “Đây là các quy tắc và ngươi nên tuân thủ chúng.” Nhưng luật không trao cho chúng ta quyền lực nào để thực thi luật.

b.17Bấy giờ chẳng phải tôi làm điều đó nữa, nhưng ấy là tội lỗi ở trong tôi. 18 Vả, tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi, bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn; 19 vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn: Phải chăng Phao-lô đang phủ nhận trách nhiệm của mình với tư cách là một tội nhân? Không. Ông nhận ra rằng khi phạm tội, ông hành động trái với bản chất của mình như một người mới trong Chúa Giê-su Christ. Một Cơ Đốc nhân phải thừa nhận tội lỗi của mình, nhưng đồng thời cũng phải nhận ra rằng sự thôi thúc phạm tội không xuất phát từ bản chất thực sự của chúng ta trong Đức Giê-su Christ.

i.“Để được cứu khỏi tội lỗi, một người phải đồng thời thừa nhận và chối bỏ nó; chính nghịch lý thực tiễn này được phản ánh trong câu Kinh Thánh này. Một vị thánh chân chính có thể nói điều đó trong lúc nóng giận, nhưng một kẻ tội lỗi tốt hơn hết đừng biến nó thành nguyên tắc.” (Wuest)

2.(20-23) Cuộc chiến giữa hai bản ngã.

a.câu 20-21 20Ví bằng tôi làm điều mình không muốn, ấy chẳng phải là tôi làm điều đó nữa, nhưng là tội lỗi ở trong tôi vậy. 21 Vậy tôi thấy có luật nầy trong tôi: Khi tôi muốn làm điều lành, thì điều dữ dính dấp theo tôi: Bất cứ ai từng cố gắng làm điều thiện đều nhận thức được cuộc đấu tranh này. Chúng ta không bao giờ biết việc ngừng phạm tội khó khăn đến mức nào cho đến khi chúng ta thử. “Không ai biết mình xấu xa đến mức nào cho đến khi họ cố gắng làm điều tốt.” (CS Lewis)

b.câu 22-23 22Vì theo người bề trong, tôi vẫn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng; 23 nhưng tôi cảm biết trong chi thể mình có một luật khác giao chiến với luật trong trí mình, bắt mình phải làm phu tù cho luật của tội lỗi, tức là luật ở trong chi thể tôi vậy: Phao-lô biết rằng con người thật sự bên trong ông vui thích luật pháp của Đức Chúa Trời. Ông hiểu rằng sự thôi thúc hướng đến tội lỗi đến từ một luật lệ khác trong các chi thể của ông. Phao-lô biết rằng “con người thật” là người vui thích luật pháp của Đức Chúa Trời.

i.Con người cũ không phải là Phao-lô thật; con người cũ đã chết. Thể xác không phải là Phao-lô thật; thể xác sẽ qua đi và được phục sinh. Con người mới mới là Phao-lô thật ; giờ đây thách thức của Phao-lô là sống theo cách mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên ông.

ii.Có một cuộc tranh luận giữa các tín đồ Cơ đốc về việc liệu Phao-lô có phải là một tín đồ Cơ đốc trong thời điểm ông mô tả trải nghiệm đó hay không. Một số người nhìn vào cuộc đấu tranh với tội lỗi của ông và tin rằng điều đó hẳn đã xảy ra trước khi ông được tái sinh. Những người khác tin rằng ông chỉ là một tín đồ Cơ đốc đang vật lộn với tội lỗi. Theo một nghĩa nào đó, đây là một câu hỏi không liên quan, vì đây là cuộc đấu tranh của bất kỳ ai cố gắng vâng lời Chúa bằng sức riêng của mình. Trải nghiệm về sự đấu tranh và thất bại này là điều mà một tín đồ Cơ đốc có thể trải qua, nhưng là điều mà một người không phải tín đồ Cơ đốc chỉ có thể trải nghiệm.

iii.Morris trích dẫn Griffith Thomas: “Điểm mấu chốt của các đoạn Kinh Thánh này là chúng mô tả một người đang nỗ lực trở nên tốt lành và thánh thiện bằng nỗ lực của chính mình, nhưng lần nào cũng bị đánh bại bởi quyền lực của tội lỗi đang ngự trị bên trong; do đó, nội dung này áp dụng cho bất kỳ ai, dù đã được tái sinh hay chưa.”

c.Chống lại luật lệ của tâm trí tôi, và khiến tôi bị lệ thuộc vào luật lệ của tội lỗi: Tội lỗi có thể chiến đấu bên trong Phao-lô và chiến thắng vì chính bản thân ông không có sức mạnh nào để ngừng phạm tội. Phao-lô bị mắc kẹt trong sự bất lực tuyệt vọng khi cố gắng chống lại tội lỗi bằng chính sức lực của mình.

E.Chiến thắng được tìm thấy trong Chúa Giê-su Christ.

1.(24) Sự tuyệt vọng và quan điểm của Phao-lô.

a.24Khốn nạn cho tôi! trong tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa đen hơn là “khốn khổ vì kiệt sức do lao động nặng nhọc”. Phao-lô hoàn toàn kiệt sức và khốn khổ vì nỗ lực không thành công của mình trong việc làm đẹp lòng Đức Chúa Trời theo nguyên tắc Luật pháp.

i.”Điều đáng lưu ý là, xuyên suốt các thời đại, các bậc thánh đồ vĩ đại thường không nói: “Tôi thật là tốt!” Thay vào đó, họ thường than thở về tội lỗi của mình.” (Morris)

ii.Chủ nghĩa luật pháp luôn khiến con người phải đối diện trực tiếp với sự khốn khổ của chính mình, và nếu họ tiếp tục theo chủ nghĩa luật pháp, họ sẽ phản ứng theo một trong hai cách. Hoặc họ sẽ phủ nhận sự khốn khổ của mình và trở thành những người Pha-ri-si tự cho mình là công bình, hoặc họ sẽ tuyệt vọng vì sự khốn khổ của mình và từ bỏ việc theo đuổi Đức Chúa Trời.

b.24Khốn nạn cho tôi! Toàn bộ giọng điệu của lời tuyên bố cho thấy Phao-lô đang tuyệt vọng tìm kiếm sự giải thoát. Ông bị choáng ngợp bởi cảm giác bất lực và tội lỗi của chính mình. Chúng ta cũng cần phải đạt đến cùng một trạng thái khao khát ấy để tìm thấy sự đắc thắng.

i.Khát vọng của bạn phải vượt xa một hy vọng hão huyền về việc trở nên tốt hơn. Bạn phải tự trách mình và kêu cầu cùng Đức Chúa Trời với sự tuyệt vọng như Phao-lô đã từng có.

c.24bAi sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy? Cuối cùng, quan điểm của Phao-lô chuyển sang một điều gì đó (thực ra là một người nào đó) bên ngoài chính ông. Phao-lô đã nhắc đến bản thân khoảng 40 lần kể từ Rô-ma 7:13. Trong vực sâu của cuộc đấu tranh không thành công chống lại tội lỗi, Phao-lô trở nên hoàn toàn tập trung vào bản thân và ám ảnh về chính mình. Đây là tình trạng của bất kỳ tín đồ nào sống dưới luật pháp, người tìm kiếm chính bản thân và thể hiện cá nhân hơn là trước hết tìm kiếm Chúa Giê-su.

i.Cụm từ “ Ai sẽ giải cứu tôi ?” cho thấy Phao-lô đã từ bỏ chính mình, và hỏi “ Ai sẽ giải cứu tôi? ” thay vì “Tôi sẽ tự giải cứu mình bằng cách nào?”

ii.“Đây không phải là tiếng nói của người tuyệt vọng hay nghi ngờ, mà là tiếng nói của người đang khao khát được giải thoát.” (Poole)

d.BD2002 24Khốn khổ cho tôi; ai sẽ giải cứu tôi khỏi thân thể hay chết này: Khi Phao-lô mô tả thân thể hay chết này, một số nhà bình luận cho rằng đó là sự ám chỉ đến các vị vua thời xưa đã hành hạ tù nhân của họ bằng cách xiềng xích họ vào những xác chết đang phân hủy. Phao-lô khao khát được giải thoát khỏi thân thể hay chết này đang đeo bám ông.

i.”Thời xưa, các bạo chúa thường có một hình phạt tàn khốc: họ trói chặt một xác chết vào lưng nạn nhân sao cho hai cơ thể áp sát vào nhau. Người sống cứ thế phải lê bước cùng cái xác đang thối rữa, hôi hám và phân hủy ấy đi khắp mọi nơi. Cơ đốc nhân cũng đang ở trong tình cảnh tương tự. Họ mang trong mình sự sống mới—một nguyên lý sống động và bất diệt do Đức Thánh Linh ban cho—nhưng ngày qua ngày, họ vẫn phải lê bước cùng “thân thể hay chết này”; một thứ ghê tởm, xấu xí và đáng kinh tởm đối với sự sống mới của họ, hệt như một cái xác thối rữa đối với người đang sống vậy.” (Spurgeon)

ii.Những người khác lại thấy đó là sự ám chỉ đến tội lỗi nói chung, chẳng hạn như Murray: “Thân thể được hiểu là khối lượng và thân thể của sự chết, toàn bộ khối lượng tội lỗi. Do đó, điều mà Phaolô khao khát được giải thoát chính là tội lỗi trong mọi khía cạnh và hậu quả của nó.”

iii.”Ông ấy muốn nói đến “thân thể hay chết này” là toàn bộ khối tội lỗi, hay những thành phần cấu tạo nên toàn bộ con người; ngoại trừ việc trong ông ta chỉ còn lại những tàn tích, và chính những xiềng xích giam cầm ấy đã trói buộc anh ta.” (Calvin)

2.(25) Cuối cùng, Phao-lô dời ánh mắt khỏi chính mình để hướng về Chúa Giê-xu.

a.25Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta! Cuối cùng, Phao-lô hướng mắt ra khỏi chính mình và hướng về Đức Chúa Giê-su. Ngay khi hướng về Đức Chúa Giê-su, ông có điều để Cảm tạ Đức Chúa Trời – và ông cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta!

i.Chữ Nhờ, có nghĩa là Phao-lô nhìn thấy Chúa Giê-su đứng giữa ông và Đức Chúa Trời, bắc cầu nối khoảng cách và mở ra con đường dẫn đến Đức Chúa Trời. Chúa chúng ta! có nghĩa là Phao-lô đã đặt Chúa Giê-su vào đúng vị trí – là CHÚA và là chủ nhân của cuộc đời ông.

b.25bNhư vậy, thì chính mình tôi lấy trí khôn phục luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng lấy xác thịt phục luật pháp của tội lỗi: Ông thừa nhận thực trạng của cuộc đấu tranh nhưng tạ ơn Chúa vì sự đắc thắng trong Chúa Giê-xu. Phao-lô không giả vờ mà cho rằng việc hướng về Đức Giê-su sẽ loại bỏ được cuộc chiến ấy– Nhờ Chúa Giê-xu hành động qua chúng ta trong cuộc chiến chống lại tội lỗi, chứ không phải hành động thay cho chúng ta.

i.Chân lý vinh hiển vẫn còn đó: trong Chúa Giê-su có sự chiến thắng! Chúa Giê-su không đến và chịu chết chỉ để ban cho chúng ta những luật lệ nhiều hơn hay tốt hơn, mà là để thể hiện sự chiến thắng của Ngài qua những ai tin Ngài. Thông điệp của Phúc Âm là: khi chúng ta dâng hiến cuộc đời mình cho Chúa Giê-su và để Ngài thể hiện sự chiến thắng qua chúng ta, thì chúng ta sẽ chiến thắng tội lỗi, hận thù, cái chết và mọi điều ác.

c.nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta! Phao-lô cho thấy rằng dù luật pháp có vinh hiển và tốt lành đến đâu, nó cũng không thể cứu rỗi chúng ta – và chúng ta cần một Đấng Cứu Thế. Phao-lô chưa bao giờ tìm thấy sự bình an, hay có thể sự ngợi khen Đức Chúa Trời cho đến khi ông hướng tầm mắt ra ngoài bản thân và vượt lên trên luật pháp để nhìn về Đấng Cứu Thế của mình, là Chúa Giê-xu Christ.

i.Bạn từng nghĩ vấn đề là bạn không biết mình cần làm gì để tự cứu lấy chính mình– nhưng luật pháp đến như một người thầy, dạy bạn phải làm gì và bạn vẫn không làm được. Bạn không cần một người thầy, bạn cần một Đấng Cứu Thế.

ii.Bạn từng nghĩ vấn đề nằm ở chỗ mình thiếu động lực, nhưng rồi luật pháp xuất hiện như một huấn luyện viên để khích lệ bạn làm những gì cần làm — vậy mà bạn vẫn không làm được. Bạn không cần một huấn luyện viên hay một diễn giả truyền cảm hứng; bạn cần một Đấng Cứu Thế.

iii.Bạn từng nghĩ vấn đề nằm ở chỗ bạn chưa thực sự hiểu rõ chính mình. Nhưng Luật pháp đã đến như một vị bác sĩ, chẩn đoán chính xác căn bệnh tội lỗi của bạn, song lại chẳng thể chữa lành cho bạn. Bạn không cần một bác sĩ; bạn cần một Đấng Cứu Thế.

nguồn: https://enduringword.com/bible-commentary/romans-7/

bài viết: https://susangthat.com/2026/08/26/ro-ma-7-enduringword/

công cụ dịch: google.com, deeple.com và chỉnh sửa