Rô-ma 6 – Được chuẩn bị sẵn sàng cho ân điển
A.Người tin Chúa dưới ân điển và vấn đề tội lỗi thường xuyên.
1.(1) Chúng ta có nên sống một đời sống tội lỗi để có thể nhận được nhiều ân điển hơn không?
a.1Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Chúng ta phải cứ ở trong tội lỗi, hầu cho ân điển được dư dật chăng? Phao-lô đã đưa ra ý tưởng rằng nơi nào tội lỗi nhiều, thì ân điển càng nhiều hơn nữa (Rô-ma 5:20). Giờ đây, ông tự hỏi liệu có ai đó có thể hiểu sai lẽ thật này thành ý rằng việc một tín hữu sống trong tội lỗi cũng không thành vấn đề, bởi vì Đức Chúa Trời sẽ luôn dùng ân sủng lớn lao hơn để chiến thắng tội lỗi lớn lao hơn.
i.Xét cho cùng, nếu Đức Chúa Trời yêu thương những kẻ có tội, thì tại sao phải lo lắng về tội lỗi? Nếu Đức Chúa Trời ban ân điển cho những kẻ có tội, thì tại sao không phạm tội nhiều hơn để nhận được nhiều ân điển hơn? Một số người cho rằng nhiệm vụ của họ là phạm tội còn nhiệm vụ của Đức Chúa Trời là tha thứ, nên họ sẽ làm phần việc của mình và Đức Chúa Trời sẽ làm phần việc của Ngài!
ii.Vào đầu thế kỷ 20, nhà tu hành người Nga Gregory Rasputin đã giảng dạy và thực hành quan niệm về sự cứu rỗi thông qua những trải nghiệm lặp đi lặp lại của tội lỗi và sự ăn năn. Ông tin rằng vì những ai phạm tội nhiều nhất thì cần được tha thứ nhiều nhất, nên một kẻ tội lỗi tiếp tục phạm tội mà không kiềm chế sẽ được hưởng ân sủng của Đức Chúa Trời nhiều hơn (khi người đó ăn năn trong khoảnh khắc đó) so với kẻ tội lỗi bình thường. Do đó, Rasputin đã sống trong tội lỗi tai tiếng và giảng dạy rằng đây chính là con đường dẫn đến sự cứu rỗi. Đây là một ví dụ cực đoan về ý tưởng đằng sau câu hỏi của Phaolô: “Chúng ta có nên tiếp tục phạm tội để ân điển được dư dật không?”
iii.Nhưng ở một khía cạnh ít cực đoan hơn, câu hỏi vẫn đặt ra cho chúng ta. Liệu kế hoạch ân điển có “an toàn” không? Liệu con người có lạm dụng ân điển không? Nếu sự cứu rỗi và sự chấp nhận của Đức Chúa Trời được ban cho dựa trên đức tin thay vì việc làm, thì chẳng phải chúng ta chỉ cần nói “Tôi tin” rồi cứ sống theo ý mình sao?
iv.Xét từ góc độ hoàn toàn tự nhiên hoặc thế tục, ân điển là điều nguy hiểm. Chính vì vậy, nhiều người không thực sự giảng dạy hay tin vào ân điển mà thay vào đó lại nhấn mạnh việc sống theo luật pháp. Họ tin rằng nếu nói với mọi người rằng Đức Chúa Trời cứu rỗi và chấp nhận họ bất kể họ có xứng đáng hay không, thì họ sẽ chẳng còn động cơ nào để vâng lời. Theo quan điểm của họ, không thể giữ cho con người đi đúng đường lối ngay thẳng, nếu không có sự đe dọa từ Đức Chúa Trời luôn treo lơ lửng trên đầu họ. Nếu họ tin rằng địa vị của mình trong Chúa Giê-xu đã được xác lập nhờ vào những gì Ngài đã làm, thì động lực để sống thánh khiết sẽ không còn nữa.
b.Chúng ta cứ tiếp tục sống trong tội lỗi? Thì của động từ trong cụm từ tiếp tục sống trong tội lỗi” (thì hiện tại chủ động) cho thấy rõ rằng Phao-lô đang mô tả thói quen phạm tội. Trong phần đầu tiên của thư Rô-ma chương 6, Phao-lô viết về một người vẫn duy trì lối sống tội lỗi, cho rằng điều đó là chấp nhận được để ân điển được dư dật.
2.(2) Một cuộc sống tội lỗi là không thể chấp nhận được vì cái chết của chúng ta đối với tội lỗi thay đổi mối quan hệ của chúng ta với tội lỗi.
a.2Chẳng hề như vậy! Đối với Phao-lô, ý nghĩ rằng bất cứ ai có thể tiếp tục phạm tội để ân điển được dư dật là điều không thể tưởng tượng nổi. “Chắc chắn là không” là một cụm từ mạnh mẽ. Nó cũng có thể được dịch là “Đừng có nghĩ đến điều đó!” hoặc “Hãy gạt bỏ ý nghĩ đó đi!”
b.2bChúng ta đã chết về tội lỗi, lẽ nào còn sống trong tội lỗi nữa? Phao-lô đã thiết lập một nguyên tắc quan trọng. Khi chúng ta được tái sinh, khi chúng ta tin vào Chúa Giê-su để được cứu rỗi, mối quan hệ của chúng ta với tội lỗi đã thay đổi vĩnh viễn. Chúng ta đã chết cho tội lỗi. Vì vậy, nếu chúng ta đã chết đối với tội lỗi, thì chúng ta không nên tiếp tục sống trong đó nữa. Thật không phù hợp khi tiếp tục sống trong điều mà mình đã chết cho.
c.2bChúng ta đã chết về tội lỗi: Tại điểm này, Phao-lô vẫn cần giải thích kỹ hơn về ý nghĩa chính xác của cụm từ “đã chết đối với tội lỗi“, nhưng ý tưởng cốt lõi thì đã rõ ràng: Cơ Đốc nhân đã chết đối với tội lỗi và không còn sống trong tội lỗi nữa. Trước đây, chúng ta đã chết trong tội lỗi (Ê-phê-sô 2:1); còn nay, chúng ta đã chết đối với tội lỗi.
3.(3-4) Phép báp-têm: Hình ảnh minh họa cho sự chết đối với tội lỗi của người tin Chúa.
a.3Hay là, anh em chẳng biết rằng: Hàm ý ở đây là Phao-lô đang đề cập đến những khái niệm cơ bản mà cơ đốc nhân đều nên biết.
b.3bchúng ta thảy đều đã chịu phép báp-têm trong Đức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp-têm trong sự chết Ngài sao? Ý nghĩa đằng sau chữ Hy Lạp cổ đại chỉ việc “báp têm” là “nhúng chìm hoặc bao phủ một thứ gì đó”. Kinh Thánh sử dụng khái niệm “được báp têm vào một điều gì đó” theo nhiều cách khác nhau. Khi một người được báp têm bằng nước, họ được nhúng chìm hoặc bao phủ bởi nước. Khi họ được báp têm bằng Thánh Linh (Ma-thi-ơ 3:11, Công Vụ 1:5), họ được “nhúng chìm” hoặc “bao phủ” bởi Đức Thánh Linh. Khi họ được báp têm bằng sự đau khổ (Mác 10:39), họ được “nhúng chìm” hoặc “bao phủ” bởi sự đau khổ. Ở đây, Phao-lô đề cập đến việc được báp têm – “nhúng chìm” hoặc “bao phủ” – trong Đấng Christ Giê-su.
c.4Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp-têm trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy: Phép báp-têm bằng nước (tức là được báp-têm vào trong Đấng Christ) là sự thể hiện bằng hành động về việc người tin Chúa được “nhúng vào” hay đồng nhất với Chúa Giê-xu trong sự chết và sự sống lại của Ngài.
i.“Từ điều này cũng như các đề cập khác về phép báp-têm trong các thư tín của Phao-lô, rõ ràng là ông không xem phép báp-têm như một yếu tố “tùy chọn thêm vào” trong đời sống Cơ Đốc nhân.” (Bruce) (ND: có cũng được, mà không có cũng chẳng sao)
d.Chúng ta đã được chôn cùng Ngài… như Đấng Christ đã sống lại từ cõi chết bởi vinh quang của Đức Chúa Cha, thì chúng ta cũng phải bước đi trong đời sống mới: Paulus còn phát triển ý tưởng đi xuống nước là hình ảnh của sự chôn cùng, và việc bước lên khỏi mặt nước là hình ảnh của sự sống lại từ cõi chết.
i.Tất nhiên, phép báp-têm cũng mang ý nghĩa thanh tẩy, nhưng điều đó không thực sự liên quan đến luận điểm mà Phao-lô muốn nêu ra ở đây.
ii.Về phương diện này, phép báp-têm rất quan trọng vì nó minh họa cho một thực tại thuộc linh, nhưng bản thân nó không tạo ra thực tại đó. Nếu một người chưa thực sự chết và sống lại cùng với Chúa Giê-xu về mặt tâm linh, thì dù có chịu báp-têm bao nhiêu lần đi nữa cũng không thể mang lại điều này cho họ.
iii.Nhưng quan điểm của Phao-lô rất rõ ràng: một sự kiện mang tính bước ngoặt và thay đổi cuộc đời đã xảy ra trong cuộc sống của người tin Chúa. Bạn không thể chết và sống lại mà không khiến cuộc đời mình thay đổi. Người tin Chúa trải qua sự chết và sự sống lại thực sự cùng với Chúa Giê-su Christ (dù là về mặt thuộc linh).
4.(5-10) Suy ngẫm về ý nghĩa của cái chết và sự phục sinh của chúng ta với Chúa Giê-su.
a.5Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài: Điều này thể hiện một mối liên kết khăng khít. Cụm từ này “mô tả chính xác quá trình một cành được ghép vào cây trở nên hòa quyện với sự sống của cây đó… Đó là sự hiệp nhất mật thiết nhất, và sự sống của Đấng Christ tuôn chảy vào trong cành ấy” (Morris). Điều này hoàn toàn phù hợp với hình ảnh về sự “ở trong” mà Chúa Giê-xu đã dùng trong Giăng chương 15.
i.Sự hiệp nhất mật thiết này thể hiện cả trong sự chết và sự phục sinh của Ngài. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta cả hai kinh nghiệm này. Phao-lô đã bày tỏ một ý tưởng tương tự về cuộc đời mình trong Phi-líp 3:10-11: “ 10cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho tôi nên giống như Ngài trong sự chết Ngài, 11 mong cho tôi được đến sự sống lại từ trong kẻ chết”. Có những người quá sẵn lòng hiệp nhất trong vinh quang của sự phục sinh, nhưng lại chẳng hề muốn hiệp nhất trong sự chết của Ngài.
b.5bthì chúng ta cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau: Việc chúng ta dự phần vào sự chết của Chúa Giê-xu đảm bảo chắc chắn rằng chúng ta cũng sẽ dự phần vào sự phục sinh của Ngài.
i.Một số Cơ Đốc nhân rất dễ chỉ tập trung vào “đời sống chịu đóng đinh”, mà quên mất rằng đó là một phần (và là phần thiết yếu) của một bức tranh lớn hơn: sự chuẩn bị cho đời sống phục sinh.
c.6Vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài: sự chết của con người cũ là một sự thật không thể chối cãi. Nó đã xảy ra về mặt thuộc linh khi chúng ta được đồng nhất với sự chết của Chúa Giê-su vào trong thời điểm chúng ta được cứu.
i.Con người cũ là bản ngã được định hình theo hình mẫu A-đam, là phần bản chất ăn sâu trong chúng ta, luôn chống nghịch lại Đức Chúa Trời và các điều răn của Ngài. Hệ thống luật pháp không thể giải quyết được “con người cũ”, bởi vì nó chỉ có thể chỉ ra cho “con người cũ” biết tiêu chuẩn công bình của Đức Chúa Trời là gì. Luật pháp cố gắng cải tạo con người cũ, để khiến nó “lật sang trang mới”. Nhưng hệ thống ân điển hiểu rằng con người cũ không bao giờ có thể cải tạo được. Nó phải bị tiêu diệt, và đối với người tin, con người cũ chết cùng với Chúa Giê-su trên thập tự giá.
ii.Việc đóng đinh con người cũ vào thập tự giá là điều mà Đức Chúa Trời đã làm trong chúng ta. Không ai trong chúng ta đóng đinh được con người cũ lên thập tự giá. Chúa Giê-su đã làm điều đó, và chúng ta được dạy phải coi như việc ấy đã hoàn tất. “Trong chúng ta thậm chí không có gì để làm cho con người cũ của chúng ta suy yếu và suy kiệt – chứ đừng nói đến việc giết chết nó bằng cách đóng đinh; Đức Chúa Trời đã phải thực hiện điều này.” (Lenski)
iii.Thay thế cho con người cũ, Đức Chúa Trời ban cho người tin Ngài một con người mới – một bản thể có bản năng vâng phục và làm đẹp lòng Đức Chúa Trời; khía cạnh này của con người chúng ta chính là phần đã được sống lại cùng với Đấng Christ trong sự phục sinh của Ngài. Tân Ước mô tả con người mới dành cho chúng ta.
- và mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật. (Ê-phê-sô 4:24).
- mà mặc lấy người mới là người đang đổi ra mới theo hình tượng Đấng dựng nên người ấy, đặng đạt đến sự hiểu biết đầy trọn. (Cô-lô-se 3:10).
d.6bhầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi: Chúa dùng sự chết của con người cũ, tức bản chất tội lỗi, để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi. Một người đã chết không còn có quyền kiểm soát chúng ta nữa, vì vậy chúng ta phải nhớ và xem “con người cũ” như đã bị đóng đinh cùng Ngài.
i.Hai đoạn khác trong Tân Ước đề cập đến con người cũ nhắc nhở chúng ta hãy coi con người cũ đã “bị phế bỏ“, bảo chúng ta hãy gạt bỏ con người cũ như thể nó đã chết và không còn nữa (Ê-phê-sô 4:22 và Cô-lô-se 3:9). Nói đúng ra, chúng ta không chiến đấu với con người cũ. Chúng ta chỉ đơn giản coi nó như đã chết.
ii.“Sự ác giờ đây xâm nhập vào chúng ta như một kẻ lạ mặt, một kẻ đột nhập và gây ra những hậu quả đau thương, nhưng nó không còn ngự trị trên ngai vàng trong lòng chúng ta nữa; nó là một kẻ xa lạ mặt, bị coi khinh, không còn được tôn thờ và yêu thích nữa. Chúng ta đã chết đối với quyền lực thống trị của tội lỗi.” (Spurgeon)
e.6bbị tiêu diệt đi | BD2020 “bị phế bỏ“: Nếu con người cũ đã chết, tại sao tôi vẫn cảm thấy sự thôi thúc phạm tội từ bên trong? Nó đến từ xác thịt, một thực thể vốn khác biệt với con người cũ. Thật khó để mô tả chính xác xác thịt; có người ví nó như “màn hình hiển thị con người bên trong”. Bản thể bên trong của chúng ta chứa đựng những ham muốn, xung động và đam mê; những điều này được thể hiện trong tâm trí, trong ý chí và trong cảm xúc của chúng ta. Xác thịt chính là phương tiện để con người bề trong bộc lộ ra bên ngoài.
i.Xác thịt là một vấn đề trong cuộc chiến chống lại tội lỗi bởi vì nó đã được huấn luyện một cách tinh vi để hình thành những thói quen tội lỗi bởi ba nguồn tác động. Thứ nhất, trước khi bị đóng đinh với Đấng Christ, con người cũ đã huấn luyện và “khắc sâu” hình ảnh của chính nó lên xác thịt. Thứ hai, hệ thống thế gian, với tinh thần nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời, có thể tiếp tục ảnh hưởng đến xác thịt. Cuối cùng, ma quỷ luôn tìm cách cám dỗ và tác động để lôi kéo xác thịt phạm tội.
ii.Khi con người cũ đã chết, chúng ta phải làm gì với xác thịt? Chúa kêu gọi chúng ta, trong sự hiệp thông với Ngài, hãy chủ động hành động mỗi ngày đối với xác thịt y như cách Ngài đã xử lý con người cũ – đó là đóng đinh nó vào thập tự giá và khiến nó chết đối với tội lỗi (Ga-la-ti 5:24). Tuy nhiên, khi chúng ta để cho xác thịt liên tục chịu ảnh hưởng bởi những thói quen cũ, bởi thế gian và ma quỷ, nó sẽ tạo ra một lực lôi kéo mạnh mẽ hướng về tội lỗi. Nếu chúng ta để con người mới bên trong mình tác động đến tâm trí, ý chí và cảm xúc, thì cuộc chiến này sẽ trở nên bớt cam go hơn.
f.6cvà chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa. 7 Vì ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi. 8 Vả, nếu chúng ta đã cùng chết với Đấng Christ, thì chúng ta tin rằng mình cũng sẽ cùng sống với Ngài: Sự nô lệ của chúng ta đối với tội lỗi chỉ có thể bị phá vỡ bởi cái chết. Trong bộ phim *Spartacus* 1960, Kirk Douglas vào vai Spartacus – một nô lệ đã trốn thoát và lãnh đạo cuộc nổi dậy của nô lệ diễn ra trong thời gian ngắn nhưng lan rộng khắp La Mã cổ đại. Có một đoạn trong phim, Spartacus đã nói: “Cái chết là sự tự do duy nhất mà một nô lệ biết đến. Đó là lý do tại sao anh ta không sợ nó.” Chúng ta được giải phóng khỏi tội lỗi bởi vì con người cũ đã chết cùng với Chúa Giê-xu trên thập tự giá. Giờ đây, một con người mới – một con người tự do – đang sống.
g.9bởi biết rằng Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, thì chẳng chết nữa; sự chết không còn cai trị trên Ngài: Vì chúng ta đã cùng chết với Chúa Giê-xu đối với tội lỗi, nên sự chết không còn quyền thống trị trên chúng ta nữa. Con người mới không chỉ có sự sống, mà còn có sự sống đời đời.
h.10 Vì nếu Ngài đã chết, ấy là chết cho tội lỗi một lần đủ cả; nhưng hiện nay Ngài sống, ấy là sống cho Đức Chúa Trời: Cuộc sống mới mà chúng ta được ban cho không phải để chúng ta sống cho riêng mình. Với cuộc sống mới đó, người ấy sống vì Đức Chúa Trời. Chúng ta không chết đối với tội lỗi, không được giải thoát khỏi tội lỗi, và không được ban cho sự sống đời đời để sống theo ý muốn riêng của mình, mà là để sống làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.
i.“Nếu Đức Chúa Trời đã ban cho bạn và tôi một đời sống hoàn toàn mới trong Đấng Christ, thì làm sao đời sống mới ấy lại có thể sống theo lối sống cũ? Đời sống thuộc linh há lại sống như đời sống xác thịt sao? Làm sao anh em, những người trước kia là tôi tớ của tội lỗi, nhưng đã được giải thoát bởi huyết quý báu, lại có thể quay trở lại cảnh nô lệ cũ được?” (Spurgeon)
ii.Sự thay đổi này trong đời sống của người được tái sinh đã được hiểu và tiên đoán là một đặc điểm của Giao Ước Mới của Đức Chúa Trời, nơi mà nhờ tấm lòng mới, bản chất sâu thẳm bên trong chúng ta muốn làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời và làm nô lệ cho sự công bình (Ê-xê-chi-ên 36:26-27 26 Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. 27 Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh ta và làm theo).
iii.Điều thứ mười một trong số 42 điều khoản gốc của Giáo hội Anh đã nêu lên chân lý này với một vẻ đẹp mà tiếng Anh thế kỷ XVI đã diễn tả rất hay: “Ân điển của Đấng Christ, hay Thánh Linh do Ngài ban tặng, cất đi tấm lòng chai đá và ban cho một tấm lòng bằng thịt.” Đức Chúa Trời cất đi tấm lòng cứng như đá của chúng ta và ban cho một tấm lòng mềm mại bằng thịt.
5.(11-12) Ứng dụng thực tiễn nguyên tắc về sự chết và sự phục sinh của chúng ta với Chúa Giê-su.
a.11Vậy anh em cũng hãy coi mình như chết về tội lỗi: chữ coi như, tính kể là một thuật ngữ thuộc lĩnh vực kế toán. Phao-lô bảo chúng ta hãy coi “con người cũ” như là đã chết vĩnh viễn. Đức Chúa Trời không bao giờ kêu gọi chúng ta phải “đóng đinh” con người cũ, mà thay vào đó, Ngài muốn chúng ta coi nó như đã chết rồi, bởi vì chúng ta đã hiệp nhất với cái chết của Chúa Giê-xu trên thập tự giá.
b.11bvà như sống cho Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ: Sự chết đối với tội lỗi chỉ là một mặt của vấn đề. Con người cũ đã qua đi, nhưng con người mới vẫn sống (như được mô tả trong Rô-ma 6:4-5).
c.12Vậy, chớ để tội lỗi cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó: Đây là điều chỉ có thể nói với cơ đốc nhân, với người đã chịu đóng đinh với Đấng Christ và được ban cho con người mới trong Chúa Giêsu. Chỉ người được giải thoát khỏi tội lỗi mới có thể được bảo rằng, “đừng để tội lỗi cai trị”.
i.cơ đốc nhân là người thực sự được giải phóng. Người nam hay người nữ chưa được cải đạo thì tự do phạm tội, nhưng họ không tự do ngừng phạm tội được và sống công bình được, bởi vì họ đang chịu sự cai trị nghiệt ngã của “con người cũ”.
ii.Trong Chúa Giê-su, chúng ta thực sự được giải phóng và được ban cho cơ hội vâng phục khuynh hướng tự nhiên của con người mới – đó là mong muốn làm đẹp lòng Đức Chúa Trời và tôn vinh Ngài.
d.12chớ để tội lỗi cai trị: Con người cũ đã chết, và có một sự sống mới – được giải phóng khỏi tội lỗi – trong Chúa Giê-su. Tuy nhiên, nhiều Cơ Đốc nhân chưa bao giờ kinh nghiệm được sự tự do này. Vì thiếu đức tin, và vì tự tin dựa vào bản thân, hoặc vì thiếu hiểu biết, nhiều Cơ Đốc nhân không bao giờ sống trong sự tự do mà Chúa Giê-su đã trả giá trên thập tự giá.
i.DL Moody từng kể về một bà cụ da đen ở miền Nam sau Nội chiến. Là một người nô lệ trước đây, bà ấy bối rối về thân phận của mình và hỏi: “Giờ thì tôi có tự do hay không? Khi tôi đến gặp chủ cũ, ông ấy bảo tôi không tự do, còn khi tôi đến gặp người dân của mình, họ lại nói tôi đã được tự do rồi, và tôi không biết mình có thực sự tự do hay không. Có một số người nói với tôi rằng Abraham Lincoln đã ký một sắc lệnh, nhưng chủ tôi lại nói ông ta không ký; ông ta không có quyền làm điều đó.”
ii.Đây chính xác là tình trạng của nhiều người cơ đốc nhân. Họ đã và đang được giải phóng một cách hợp pháp khỏi ách nô lệ của tội lỗi, song họ vẫn chưa thực sự tin chắc vào lẽ thật đó. Những câu Kinh Thánh sau đây mang đến sự giúp đỡ thiết thực để chúng ta sống trọn vẹn sự tự do mà Chúa Giê-su đã ban cho chúng ta.
6.(13-14) Làm thế nào để sống trong sự tự do mà Chúa Giê-su đã ban cho chúng ta.
a.13Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống: Một người có thể được trả tự do một cách “chính thức” nhưng vẫn bị giam cầm. Nếu một người sống trong tù suốt nhiều năm, rồi được trả tự do, người đó thường vẫn suy nghĩ và hành động như một tù nhân. Thói quen của sự tự do chưa ăn sâu vào đời sống của người đó. Ở đây, Phao-lô chỉ ra cách xây dựng những thói quen của sự tự do trong đời sống Cơ Đốc.
i.Vào thế kỷ XIV, hai anh em đã tranh giành quyền cai trị một công quốc ở vùng đất ngày nay là Bỉ. Người anh cả tên là Raynald, nhưng thường được gọi là “Crassus”, một biệt danh tiếng Latinh có nghĩa là “béo”, vì ông ta béo phì khủng khiếp. Sau một trận chiến ác liệt, người em trai của Raynald là Edward đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy thành công chống lại anh trai mình và lên nắm tước hiệu Công tước trên vùng đất đó. Nhưng thay vì giết Raynald, Edward đã nghĩ ra một hình thức giam cầm kỳ lạ. Ông ta cho xây một căn phòng trong lâu đài xung quanh “Crassus”, một căn phòng chỉ có một cửa. Cánh cửa không bị khóa, các cửa sổ không có song sắt, và Edward hứa với Raynald rằng ông ta có thể lấy lại lãnh địa và tước hiệu của mình bất cứ lúc nào ông ta muốn. Tất cả những gì ông ta phải làm là rời khỏi căn phòng. Rào cản đối với tự do không nằm ở cửa ra vào hay cửa sổ, mà chính là ở bản thân Raynald. Do bị béo phì nghiêm trọng, ông không thể chui qua cánh cửa, dù nó có kích thước gần như bình thường. Tất cả những gì Raynald cần làm là ăn kiêng để giảm cân xuống kích thước gần như bình thường, rồi bước ra ngoài như một người tự do, và khôi phục lại tất cả những gì mình từng sở hữu trước khi sa cơ. Tuy nhiên, em trai ông liên tục gửi cho ông đủ loại thức ăn ngon, và khao khát được tự do của Raynald chưa bao giờ chiến thắng được ham muốn ăn uống của ông. Một số người có thể cáo buộc Công tước Edward là tàn nhẫn với anh trai mình, nhưng ông chỉ đơn giản trả lời: “Anh tôi không phải là tù nhân. Ông ấy có thể rời đi bất cứ khi nào ông ấy muốn.” Nhưng Raynald vẫn ở lại căn phòng đó suốt mười năm, cho đến khi chính Edward bị giết trong trận chiến.
ii.Điều này minh họa chính xác kinh nghiệm của nhiều cơ đốc nhân. Chúa Giê-su đã giải phóng họ mãi mãi về mặt pháp lý, và họ có thể sống trong sự tự do khỏi tội lỗi bất cứ khi nào họ muốn. Nhưng vì họ cứ tiếp tục chiều theo dục vọng xác thịt để phục vụ tội lỗi, nên họ sống một cuộc đời thất bại, chán nản và bị giam cầm.
b.13Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác (sự không công bình): Đây là chìa khóa đầu tiên để sống trong sự tự do mà Chúa Giê-su đã giành lấy cho chúng ta. Chúng ta không được dâng các chi thể của mình để phục vụ tội lỗi. Bản dịch New Living Translation truyền đạt ý tưởng này rất tốt: Đừng để bất kỳ bộ phận nào của thân thể bạn trở thành công cụ của sự gian ác(sự không công bình), để bị dùng vào việc phạm tội.
i.Các chi thể của mình là các bộ phận trong cơ thể bạn – tai, môi, mắt, tay, tâm trí, vân vân. Ý tưởng này rất thực tế: “Bạn có mắt. Đừng dùng chúng để phục vụ tội lỗi. Bạn có tai. Đừng dùng chúng để phục vụ tội lỗi.”
ii.Từ “công cụ” có thể được dịch chính xác hơn là “vũ khí”. Các bộ phận trên cơ thể chúng ta là vũ khí trong cuộc chiến vì lối sống đúng đắn. Khi các bộ phận trên cơ thể được hiến dâng cho sự công bình, chúng là vũ khí cho điều thiện. Khi chúng được hiến dâng cho tội lỗi, chúng là vũ khí cho điều ác.
iii.Một ví dụ về điều này là cách Đức Chúa Trời đã dùng tay của Đa-vít để giết Gô-li-át vì chính nghĩa. Sau đó, tội lỗi đã dùng đôi mắt của Đa-vít để làm điều bất chính khi ông nhìn Bát-sê-ba.
c.13bvà dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình: Đây là chìa khóa thứ hai để bước đi trong sự tự do mà Chúa Giê-su đã giành được cho chúng ta. Chỉ tước bỏ vũ khí khỏi sự phục vụ tội lỗi thôi là chưa đủ; chúng (các chi thể làm công cụ) còn phải được huy động để phục vụ sự công bình – và cũng như trong bất kỳ cuộc chiến nào, phe nào sở hữu vũ khí vượt trội thường sẽ giành chiến thắng.
i.Ý tưởng này tương tự như cách các thầy tế lễ trong Cựu Ước dâng hiến thân thể mình cho Đức Chúa Trời. Máu hiến tế được bôi lên dái tai phải, ngón cái tay phải và ngón cái chân phải, cho thấy những bộ phận đó trên cơ thể họ (và tất cả các bộ phận khác) thuộc về Đức Chúa Trời và phải được sử dụng để tôn vinh Ngài (Xuất Ê- díp-tô Ký 29:20).
ii.Chúng ta dâng chính mình lên cho Đức Chúa Trời như những người dường như đã chết mà nay trở nên sống. Điều này trước hết hàm ý rằng mọi mối liên hệ với cuộc sống cũ – tức con người cũ – đều phải bị loại bỏ hoàn toàn; cuộc sống ấy đã chết và qua đi rồi. Thứ hai, điều này mang ý nghĩa về nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, bởi vì chúng ta mang ơn mọi sự đối với Đấng đã ban cho chúng ta sự sống mới!
d.14Vì tội lỗi không cai trị trên anh em đâu: Spurgeon nói rằng những lời này mang đến cho chúng ta một thử thách, một lời hứa và một sự khích lệ.
i.Đó là một thử thách đối với lời khẳng định chúng ta là người Cơ Đốc. Sự giận dữ có thống trị bạn không? Sự cằn nhằn và than phiền có thống trị bạn không? Lòng tham lam có thống trị bạn không? Sự kiêu ngạo có thống trị bạn không? Lòng lười biếng có thống trị bạn không? Nếu tội lỗi thống trị chúng ta, chúng ta nên nghiêm túc tự hỏi liệu mình có thực sự được cải đạo hay chưa.
ii.Đó là lời hứa về sự đắc thắng. Lời hứa này không nói rằng “tội lỗi sẽ không còn hiện diện trong chúng ta” — vì điều đó chỉ được trọn vẹn khi chúng ta sống lại trong vinh hiển — nhưng nó hứa rằng tội lỗi sẽ không còn cai trị chúng ta, nhờ vào công việc vĩ đại mà Chúa Giê-xu đã thực hiện trong chúng ta khi chúng ta được tái sinh.
iii.Đó là nguồn khích lệ về niềm hy vọng và sức mạnh trong cuộc chiến chống lại tội lỗi. Chúa không kết án bạn phải chịu sự thống trị của tội lỗi – Ngài đã giải phóng bạn trong Chúa Giê-su. Đây là nguồn khích lệ cho người Cơ Đốc đang vật lộn với tội lỗi, cho người mới tin Chúa và cho người sa ngã.
e.14bbởi anh em chẳng thuộc dưới luật pháp, mà thuộc dưới ân điển: Đây là con đường, là phương tiện để chúng ta có thể sống trong sự tự do này. Điều đó sẽ không bao giờ xảy ra trong một đời sống Cơ Đốc, giáo điều, luật pháp cứng nhắc, chỉ chú trọng đến thành tích bản thân. Nó sẽ xảy ra khi chúng ta sống không dưới luật pháp mà sống dưới ân điển.
i.Luật pháp xác định rõ ràng tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời và chỉ cho chúng ta thấy mình thiếu sót ở điểm nào. Nhưng luật pháp không thể ban cho sự tự do khỏi tội lỗi như ân điển mang lại. Hãy nhớ rằng ân điển cai trị bởi sự công bình (Rô-ma 5:21). Chính ân điển, chứ không phải luật pháp, ban cho sự tự do và sức mạnh để sống vượt lên trên tội lỗi.
ii.Điều này một lần nữa cho thấy rằng một cuộc sống thực sự được sống dưới ân điển sẽ là một cuộc sống công bình. Ân điển không bao giờ là giấy phép để phạm tội. “Coi việc được sống dưới ân điển như một cái cớ để phạm tội là dấu hiệu cho thấy người đó thực sự không hề sống dưới ân điển chút nào cả.” (Bruce)
f.14bchẳng thuộc dưới luật pháp, mà thuộc dưới ân điển: Đây là một cách khác để mô tả sự thay đổi triệt để trong cuộc đời của người được tái sinh. Đối với người Do Thái thời Phao-lô, sống dưới luật pháp là tất cả. Luật pháp là con đường dẫn đến sự chấp thuận của Đức Chúa Trời và sự sống đời đời. Giờ đây, Phao-lô cho thấy rằng, dưới ánh sáng của Giao ước Mới, chúng ta không sống dưới luật pháp mà sống dưới ân điển. Công việc của Ngài trong cuộc đời chúng ta đã thay đổi mọi thứ.
i.Phao-lô đã giải đáp câu hỏi mà ông đặt ra trong Rô-ma 6:1. Tại sao chúng ta không cứ tiếp tục sống trong tội lỗi như một thói quen để ân điển được gia tăng? Bởi vì khi chúng ta được cứu rỗi, khi tội lỗi của chúng ta được tha thứ, và ân điển của Đức Chúa Trời tuôn đổ trên chúng ta, thì chúng ta đã được biến đổi hoàn toàn. Con người cũ đã chết, và con người mới đang sống.
ii.Trước những thay đổi đáng kinh ngạc này, việc một tạo vật mới trong Chúa Giê-su cảm thấy thoải mái trong thói quen phạm tội là hoàn toàn không thể chấp nhận được. Tình trạng tội lỗi chỉ có thể là tạm thời đối với cơ đốc nhân. Như Spurgeon từng nói: “Ân điển mà không thay đổi đời sống tôi thì sẽ không cứu rỗi linh hồn tôi.”
iii.Giăng diễn đạt cùng một ý tưởng theo cách khác: Ai ở trong Ngài thì không phạm tội thường xuyên. 6 Ai ở trong Ngài thì không phạm tội; còn ai phạm tội, thì chẳng từng thấy Ngài và chẳng từng biết Ngài … 9 Ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì chẳng phạm tội, vì hột giống của Đức Chúa Trời ở trong người, và người không thể phạm tội được, vì đã sanh bởi Đức Chúa Trời. (1 Giăng 3:6 và 3:9).
iv.Những thay đổi đó có thể không xảy ra cùng một lúc, và cũng có thể không diễn ra đồng thời trong mọi khía cạnh của cuộc sống, nhưng chúng chắc chắn sẽ hiện hữu, chúng sẽ là hiện thực và sẽ ngày càng gia tăng theo thời gian..
g.Dưới ân điển: Chúa chuẩn bị để cho chúng ta sẵn sàng đón nhận ân sủng bằng cách biến đổi chúng ta ngay khi chúng ta lãnh nhận ân sủng của Ngài; Chúa làm cho chúng ta “an toàn” để nhận được ân điển bằng cách biến đổi chúng ta khi chúng ta tiếp nhận ân điển của Ngài; Ngài giải phóng chúng ta và trang bị cho chúng ta để sống công bình trước mặt Ngài. Một khi đã chết đối với tội lỗi, việc tiếp tục thói quen tội lỗi trước đây là điều không thể tưởng tượng nổi. Một khi sâu đã hóa thành bướm, thì con bướm ấy đâu còn lý do gì để bò loanh quanh trên cây và lá như loài sâu nữa.
i.“Đức Chúa Trời đã biến đổi bản chất của bạn bằng ân điển của Ngài đến nỗi khi bạn phạm tội, bạn sẽ giống như cá mắc cạn, bạn sẽ cảm thấy lạc lõng và khao khát được trở lại trạng thái đúng đắn. Bạn không thể phạm tội, vì bạn yêu mến Đức Chúa Trời. Kẻ tội lỗi có thể uống tội lỗi như bò uống nước, nhưng đối với bạn, nó sẽ như nước mặn của biển. Bạn có thể trở nên ngu dại đến mức thử tìm kiếm những thú vui của thế gian, nhưng chúng sẽ chẳng mang lại niềm vui nào cho bạn cả” (Spurgeon)
B.Người tin Chúa dưới ân điển và vấn đề đôi khi phạm tội.
1.(15) Một câu hỏi mới được đặt ra: Chúng ta có nên (thỉnh thoảng) phạm tội vì chúng ta không ở dưới luật pháp mà ở dưới ân điển không?
a.15Vậy thì làm sao! Vì chúng ta không thuộc dưới luật pháp, nhưng thuộc dưới ân điển, thì chúng ta sẽ phạm tội hay sao? Chẳng hề như vậy! Phao-lô đã thuyết phục chúng ta rằng lối sống phạm tội triền miên không thể đi đôi với một cuộc đời đã được ân điển biến đổi. Nhưng còn những tội lỗi thỉnh thoảng mới xảy ra thì sao? Nếu chúng ta đang sống dưới ân điển chứ không phải dưới luật pháp, liệu chúng ta có cần phải quá lo lắng về những lỗi lầm nhỏ nhặt thỉnh thoảng xảy ra như vậy không?
b.15bthì chúng ta sẽ phạm tội hay sao? Một lần nữa, thì của động từ trong tiếng Hy Lạp cổ ” tội lỗi” rất quan trọng (thì quá khứ đơn chủ động). Nó chỉ ra việc sa vào tội lỗi một cách thoáng qua, chứ không phải là việc phạm tội liên tục, thành thói quen như được mô tả trong câu hỏi ở Rô-ma 6:1.
i.“Động từ trong câu thứ nhất ở thì hiện tại giả định, diễn tả hành động mang tính thói quen, diễn ra liên tục. Động từ trong câu mười lăm ở thì aorist giả định, chỉ một hành động đơn lẻ.” (Wuest)
2.(16-17) Những nguyên tắc thuộc linh mà chúng ta cần hiểu để trả lời câu hỏi.
a.16Anh em há chẳng biết rằng nếu anh em đã nộp mình làm tôi mọi đặng vâng phục kẻ nào, thì là tôi mọi của kẻ mình vâng phục, hoặc của tội lỗi đến sự chết, hoặc của sự vâng phục để được nên công bình hay sao? Bất cứ điều gì các ngươi tự nguyện vâng phục, bạn sẽ trở thành nô lệ của điều đó. Chẳng hạn, nếu tôi liên tục tuân theo cơn thèm ăn của mình, thì tôi chính là nô lệ của nó. Vì vậy, chúng ta có sự lựa chọn trong sự nô lệ của mình: tội lỗi dẫn đến sự chết hoặc sự vâng phục dẫn đến sự công bình.
i.Dù bằng cách này hay cách khác, chúng ta cũng sẽ phục vụ một ai đó. Chúng ta không có lựa chọn sống cuộc đời mình mà không phục vụ tội lỗi hay phục vụ sự vâng lời.
b.17Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời, vì sau khi anh em làm tôi mọi tội lỗi, thì đã từ lòng vâng phục đạo lý là sự đã ban làm mực thước cho mình! Phao-lô dùng thì quá khứ vì chúng ta đã được giải thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi. Ông cũng nói rằng chúng ta được tự do bởi đức tin, mà ông mô tả là sự vâng phục từ tấm lòng. Đức tin được đặt vào Lời Chúa, điều được ông ví như một khuôn mẫu đạo lý. Tóm lại, ý chính rất rõ ràng: “Anh em hãy đặt niềm tin vào Đức Chúa Trời và Lời Ngài, và giờ đây anh em đã được tự do. Giờ hãy sống mỗi ngày sao cho phù hợp với sự tự do đó.”
i.Như đã thấy ở phần trước trong Rô-ma chương 6, chúng ta có thể được tự do về mặt pháp lý nhưng vẫn chọn sống như một tù nhân. Phao-lô có một mệnh lệnh và lời khích lệ đơn giản dành cho người Cơ Đốc: hãy sống đúng với con người thật của mình | Hãy là chính mình.
ii.từ lòng vâng phục | Vâng phục từ tận đáy lòng là một cách diễn tả tuyệt vời về đức tin. Nó cho thấy đức tin xuất phát từ trái tim, chứ không chỉ từ lý trí. Nó cho thấy đức tin dẫn đến sự vâng phục bởi vì nếu chúng ta thực sự tin vào điều gì đó, chúng ta sẽ hành động theo niềm tin đó.
c.mực thước đạo lý | khuôn mẫu đạo lý (từ bản tiếng anh), BD2011 khuôn mẫu tín lý; BD2002 mẫu mực giáo huấn; BHĐ tiêu chuẩn giáo huấn: Cụm từ này là một phần của bức tranh tuyệt đẹp. Từ “khuôn mẫu” mô tả một khuôn dùng để tạo hình kim loại nóng chảy. Ý tưởng là Đức Chúa Trời muốn định hình chúng ta – trước tiên Ngài làm tan chảy chúng ta bằng công việc của Đức Thánh Linh và Lời Chúa. Sau đó, Ngài đổ chúng ta vào khuôn mẫu chân lý của Ngài—tức là khuôn mẫu của đạo lý—để định hình chúng ta trở nên giống như hình ảnh Ngài.
i.Adam Clarke bàn về tiêu chuẩn giáo huấn: “Tại đây, Cơ Đốc giáo được ví như một cái khuôn hay một khuôn đúc mà các tín hữu được rót vào, và nhờ đó họ mang lấy dấu ấn về sự tuyệt hảo của nó. Hình ảnh được tạo ra từ khuôn đúc này chính là hình ảnh của Đức Chúa Trời—sự công chính và sự thánh khiết chân thật—được khắc ghi vào tâm hồn họ khi họ tin nhận Tin Lành và lãnh nhận Đức Thánh Linh. Các từ ngữ này… gợi liên tưởng đến quá trình nấu chảy kim loại: khi ở trạng thái nóng chảy, kim loại được rót vào khuôn để mang lấy hình dáng được tạo tác bên trong đó; do vậy, cụm từ này có thể được dịch sát nghĩa là: ‘khuôn mẫu giáo lý mà anh em đã được đổ vào’. Họ đã được làm cho tan chảy dưới tác động của việc rao giảng Lời Chúa, và nhờ đó có thể tiếp nhận ấn tín về sự tinh sạch của Lời ấy.”
3.(18) Vậy tại sao không thỉnh thoảng phạm tội? Bởi vì tội lỗi không phải là chủ của chúng ta, và chúng ta không còn phục vụ nó nữa.
a.18Vậy, anh em đã được buông tha khỏi tội lỗi: Được giải thoát khỏi tội lỗi và trở thành nô lệ của sự công bình có nghĩa là gì? Điều đó có nghĩa là tội lỗi không còn là ông chủ hay người điều khiển bạn nữa. Giờ đây, sự công bình là ông chủ của bạn, vì vậy hãy phục vụ sự công bình thay vì tội lỗi. Thật không đúng khi nghĩ đến việc làm hài lòng ông chủ cũ sau khi bạn đã chuyển sang công việc mới.
b.18btrở nên tôi mọi của sự công bình rồi: Làm nô lệ nghĩa là gì? Nô lệ không chỉ đơn thuần là một người làm công. Học giả Hy Lạp nổi tiếng Kenneth Wuest đã định nghĩa từ Hy Lạp cổ đại chỉ nô lệ như sau:
- Người sinh ra trong cảnh nô lệ.
- Người mà ý chí bị lấn át bởi ý chí của người khác.
- Người bị ràng buộc với chủ nhân bằng những mối dây chỉ có cái chết mới có thể phá vỡ.
- Người phục vụ chủ nhân của mình bất chấp lợi ích của bản thân.
i.Điều sau đây từng đúng về sự nô lệ của chúng ta đối với tội lỗi:
- Chúng ta sinh ra đã là nô lệ của tội lỗi.
- Ý chí của chúng ta đã bị tội lỗi bên trong mình nuốt chửng và giam cầm.
- Sự trói buộc của tội lỗi mạnh mẽ đến mức chỉ có cái chết – tức là cùng chết về mặt tâm linh với Chúa Giê-xu trên thập tự giá – mới có thể phá vỡ xiềng xích đó.
- Chúng ta đã bị tội lỗi chi phối đến mức phục vụ nó bất chấp lợi ích của chính mình, ngay cả khi tội lỗi đang hủy hoại chúng ta.
ii.Giờ đây, những điều sau đây là sự thật về sự phục tùng của chúng ta đối với sự công bình:
- Chúng ta được tái sinh, giờ đây là những nô lệ của sự công bình.
- Ý chí của chúng ta giờ đây đã hòa nhập hoàn toàn với ý chí của Chúa. Ý chí của Ngài mới là điều quan trọng đối với chúng ta, chứ không phải ý chí của chính chúng ta.
- Chúng ta gắn bó với Chúa Giê-su bằng những sợi dây, chỉ có cái chết mới phá vỡ được; nhưng vì Ngài đã chiến thắng cái chết và ban cho chúng ta sự sống đời đời, nên những sợi dây ấy sẽ không bao giờ bị phá vỡ!
- Giờ đây, chúng ta tự nguyện lựa chọn phục vụ Chúa Giê-su mà không màng đến lợi ích (ích kỷ) của bản thân.
c.Được giải thoát khỏi tội lỗi: Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ không bao giờ phải phạm tội nữa. Mặc dù tội lỗi là điều không thể tránh khỏi cho đến khi thân xác chúng ta được phục sinh trong vinh quang, nhưng đó không phải vì Đức Chúa Trời đã thiết kế một hệ thống mà theo đó chúng ta buộc phải phạm tội.
i.Sự hoàn hảo không tì vết trong thân thể này chỉ là ảo tưởng. 1 Giăng 1:8 nói rõ điều này: “ Nếu chúng ta nói rằng mình không có tội, thì chúng ta tự lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta”. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng nhờ quyền năng của Chúa Giê-su, mỗi người chúng ta đều có thể chống lại cám dỗ tiếp theo – và đó là điều Chúa Giê-su muốn chúng ta quan tâm.
ii.“Vì sự yếu đuối của con người, cơ đốc nhân đôi khi vẫn sa vào bản chất xấu xa và phạm tội. Nhưng điều quan trọng là, Chúa đã tạo dựng con người như vậy nên họ không cần phải làm thế. ” (Wuest)
iii.Nói với một người nô lệ rằng, “Đừng cư xử như một nô lệ” là một sự chế nhạo – nhưng bạn có thể nói điều đó với một người đã được giải phóng. Chúa Giê-su Christ bảo chúng ta đừng cư xử như thể chúng ta là nô lệ của tội lỗi nữa. Chúng ta đã được giải phóng; giờ đây chúng ta phải suy nghĩ và sống như những người tự do.
4.(19-23) Làm thế nào để tránh tự biến mình thành nô lệ.
a.19Tôi nói theo cách loài người, vì xác thịt của anh em là yếu đuối: Sứ đồ Phao-lô đã xin lỗi vì dùng hình ảnh nô lệ làm ví dụ, bởi lẽ nó mang tính hạ thấp phẩm giá và phổ biến, đặc biệt là vì nhiều độc giả người La Mã của ông vốn là nô lệ. Tuy nhiên, ông biết đây là một hình ảnh minh họa chính xác và đầy ý nghĩa.
b.19bVậy, anh em từng đặt chi thể mình làm tôi sự ô uế gian ác đặng phạm tội ác thể nào (BD2002 làm nô lệ cho sự nhơ nhuốc, tội ác thêm tội ác thể nào; BHĐ: làm nô lệ cho sự ô uế và sự gian ác chất chồng thể nào), thì bây giờ, hãy đặt chi thể mình làm tôi sự công bình đặng làm nên thánh cũng thể ấy: Phao-lô nhắc lại một điểm đã nêu trước đó. Trước hết, hãy giới thiệu các chi thể của anh em như những nô lệ của sự công bình. Điều này có nghĩa là chúng ta không còn đến trình diện để làm việc cho ông chủ cũ của mình.
i.Bạn có thể tưởng tượng được không? Một công việc mới, và ngày đầu tiên đi làm, bạn lại rời chỗ làm vào giờ nghỉ trưa để quay về chỗ làm cũ và hỏi sếp cũ xem ông ấy muốn bạn làm gì. Thật là không đúng chút nào!
c.làm nô lệ cho sự ô uế và sự gian ác chất chồng thể nào (BHĐ): Phao-lô mô tả một nguyên tắc ăn sâu vào bản chất con người. Sự vô luật pháp dẫn đến sự vô luật pháp hơn nữa. Sự công bình dẫn đến sự thánh thiện – mà sự thánh thiện lại càng dẫn đến sự công bình hơn nữa. Điều này mô tả sức mạnh năng động của thói quen chúng ta và cách chúng ta tiến bước theo hướng mà chúng ta được chỉ dẫn.
i.Hãy tưởng tượng bốn cái cây xếp thành một hàng: cây đầu tiên mới một năm tuổi, cây thứ hai là năm năm tuổi, cây thứ ba mười năm và cây cuối cùng 15 năm. Cây nào sẽ khó nhổ lên khỏi mặt đất nhất? Rõ ràng, chúng ta càng duy trì một thói quen lâu dài thì càng khó loại bỏ nó – một nguyên tắc áp dụng cho cả điều tốt lẫn điều xấu.
d.20 Vả, khi anh em còn làm tôi mọi tội lỗi, thì đối với sự công bình anh em được tự do: Ý của Phao-lô gần như mang tính hài hước. Khi chúng ta còn là nô lệ của tội lỗi, chúng ta thực sự được tự do – tự do về sự công bình. Tự do kiểu gì vậy!
e.21 Thế thì anh em đã được kết quả gì? Ấy là quả mà anh em hiện nay đương hổ thẹn; vì sự cuối cùng của những điều đó tức là sự chết. 22 Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng: Để sống trong chiến thắng trước tội lỗi, chúng ta phải có cách suy nghĩ đúng đắn về kết quả của tội lỗi. Câu nói: “Kết cục của những điều đó là sự chết” có nghĩa là kết quả cuối cùng của tội lỗi là sự chết – chứ không phải niềm vui. Nhưng kết cục cuối cùng của sự công bình là sự sống đời đời.
i.Trong lúc bị cám dỗ, những lẽ thật này có vẻ không thực tế – vì vậy chúng ta phải dựa vào Lời Chúa. Khi bị cám dỗ, đức tin nhắc nhở chúng ta về hậu quả cay đắng của tội lỗi, ngay cả khi cảm xúc của chúng ta có thể quên đi điều đó.
f.23Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta: Khi bạn làm việc vì tội lỗi, tiền công của bạn là sự chết. Khi chúng ta phục vụ Đức Chúa Trời, chúng ta không nhận được tiền công – nhưng Ngài hào phóng ban cho chúng ta gói phúc lợi tuyệt vời nhất mà ta có thể tưởng tượng được.
i.tiền công của tội lỗi : “Mỗi tội nhân đều phải trả giá cho điều này bằng sự phục vụ lâu dài, gian khổ và đau đớn. Ôi! Con người phải chịu đựng biết bao nhiêu gian khổ để xuống địa ngục! Họ lao động vì tội lỗi từ sáng sớm đến tối muộn; và chẳng phải công lý thiêng liêng sẽ mắc nợ họ hay sao, nếu không ban cho họ phần thưởng xứng đáng với những gì họ đã làm?”(Clarke)
ii.Trả lời câu hỏi của ông từ Rô-ma 6:15, Phao-lô đã làm rõ: Với tư cách là những người tin Chúa, chúng ta đã được đổi chủ. Người Cơ Đốc phải chiến đấu chống lại ngay cả những tội lỗi thỉnh thoảng, bởi vì chúng ta cần làm việc cho và làm việc dưới sự chỉ đạo của Chủ mới của mình. Chúng ta không nên làm việc cho chủ cũ nữa.
nguồn: https://enduringword.com/bible-commentary/romans-6/
công cụ dịch: translate.google.de/; deeple.com, và chỉnh sửa