Rô-ma 5 – Những Lợi Ích Của Việc Được Xưng Công Bình Nhờ Đức Tin

Rô-ma 5 – Những Lợi Ích Của Việc Được Xưng Công Bình Nhờ Đức Tin

“Trong toàn bộ Kinh Thánh, hầu như không có chương nào sánh được với đoạn văn hùng tráng này.” (Martin Luther)

A.Những lợi ích của niềm tin.

1.(1-2) Hòa bình và sự vững vàng của ân điển.

a.1Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin: Đến thời điểm này trong Thư Rô-ma, Phao-lô đã thuyết phục tất cả chúng ta rằng con đường duy nhất dẫn đến sự cứu rỗi là được xưng công bình nhờ ân sủng qua đức tin. Giờ đây, ông sẽ cho chúng ta biết những lợi ích thiết thực của điều này là gì, đồng thời giải thích rằng đó không chỉ là một ý tưởng thú vị.

i.Được xưng công bình bởi đức tin ám chỉ một phán quyết mang tính pháp lý. Rô-ma 1:18-3:20 đã kết tội chúng ta trước tòa án luật pháp của Đức Chúa Trời, vinh quang của Đức Chúa Trời và lương tâm của chúng ta. Sau đó, Phao-lô giải thích rằng nhờ những việc Chúa Giê-su đã làm, sự công bình của Đức Chúa Trời được ban cho tất cả những ai tin. Phán quyết có tội được biến đổi thành phán quyết tuyên bố vô tội: chúng ta được xưng công bình — và điều này đạt được nhờ đức tin.

b.1bthì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta: Đây là lợi ích đầu tiên. Bởi vì giá chuộc tội đã được trả trọn vẹn nhờ công việc của Chúa Giê-su trên thập tự giá, nên sự công bình của Đức Chúa Trời đối với chúng ta được thỏa mãn đời đời.

i.Đây không phải là sự bình an của Đức Chúa Trời được nói đến ở những nơi khác (như Phi-líp 4:7). Đây là sự hòa thuận với Đức Chúa Trời; cuộc chiến giữa Đức Chúa Trời và bản ngã của chúng ta đã kết thúc – và Ngài đã chiến thắng, giành được chúng ta (trong Chúa Giê-xu tại thập tự giá). Có những người không bao giờ biết rằng họ không bình an với Đức Chúa Trời, nhưng họ giống như những người lái xe phớt lờ đèn đỏ của xe cảnh sát trong gương chiếu hậu – họ đang gặp rắc rối ngay cả khi họ không biết điều đó, và rắc rối sẽ sớm ập đến với họ.

ii.Sự bình an này chỉ có thể đến qua Chúa Giê-xu Christ. Ngài và công việc của Ngài chính là toàn bộ nền tảng cho sự bình an của chúng ta. Thật vậy, Chúa Giê-su chính sự bình an của chúng ta (Ê-phê-sơ 2:14).

iii.Hãy nhớ rằng Kinh Thánh không nói chúng ta có hòa bình với ma quỷ, hòa bình với thế gian, hòa bình với xác thịt, hay hòa bình với tội lỗi. Cuộc sống đối với người Cơ Đốc vẫn là một cuộc chiến, nhưng đó không còn là cuộc chiến chống lại Đức Chúa Trời nữa – mà là chiến đấu Ngài. Một số tín hữu Cơ Đốc có xu hướng tin rằng cuộc chiến chống lại Đức Chúa Trời gần như là một lựa chọn tốt hơn, và đó là một lời dối trá nguy hiểm và đáng bị lên án.

iv.“Tôi rất vui khi thấy tội lỗi làm bạn đau lòng và bạn ghét nó. Càng ghét tội lỗi càng tốt. Một tâm hồn ghét tội lỗi chính là một tâm hồn yêu mến Đức Chúa Trời. Nếu tội lỗi chưa bao giờ khiến bạn đau khổ, thì Đức Chúa Trời chưa bao giờ ban ân sủng cho bạn.” (Charles Spurgeon)

c.2 là Đấng đã làm cho chúng ta cậy đức tin vào trong ơn nầy là ơn chúng ta hiện đương đứng vững|BD2020 chúng ta bởi đức tin cũng đã có lối vào trong ân điển này, là nơi mà chúng ta đứng vững ở trên: Đây là lợi ích thứ hai – chúng ta được đứng vững trong ân điển – trong ân huệ của Đức Chúa Trời, mà chúng ta không xứng đáng nhận. Ân điển này được ban cho qua Chúa Giê-su và được nhận lãnh bởi đức tin.

i.Ân điển (ân huệ Chúa ban cho chúng ta, mà chúng ta không xứng đáng) không chỉ là con đường dẫn đến sự cứu rỗi cho chúng ta, mà còn là sự mô tả về vị thế hiện tại của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời. Nó không chỉ là nguyên tắc khởi đầu của đời sống Cơ Đốc, mà còn là nguyên tắc xuyên suốt của đời sống Cơ Đốc. “Chúng ta đứng vững” được dịch từ thì hoàn thành, được dùng trong ngữ cảnh hiện tại với ý nghĩa về một thái độ liên tục.” (Morris)

ii.Nhiều Cơ Đốc nhân bắt đầu bằng ân điển, nhưng sau đó lại nghĩ rằng họ phải tiếp tục hướng đến sự hoàn thiện và trưởng thành bằng cách giao tiếp với Chúa dựa trên nguyên tắc luật pháp – tức là theo nguyên tắc về thành tích và công đức. Phao-lô đã bác bỏ chính cách tiếp cận này trong thư Ga-la-ti 3:2–3 và 5:1–4.

iii.Vị thế của chúng ta trong ân điển mang lại sự bảo đảm này: Thái độ hiện tại của Đức Chúa Trời đối với những ai tin vào Đức Chúa Giê-su Christ là thái độ đầy ân sủng, Ngài nhìn nhận họ qua lăng kính của niềm vui, vẻ đẹp và sự hài lòng. Ngài không chỉ yêu thương chúng ta; Ngài còn quý mến chúng ta vì chúng ta ở trong Đức Chúa Giê-su.

iv.Đứng trong ân điển có nghĩa là:

  • Tôi không cần phải chứng minh mình xứng đáng với tình yêu thương của Chúa.
  • Chúa là bạn của tôi.
  • Cánh cửa dẫn đến Ngài luôn rộng mở.
  • Tôi không còn bị ràng buộc bởi “bảng điểm” nữa – mọi nợ nần đã được giải quyết trong Chúa Giê-su.
  • Tôi dành nhiều thời gian hơn để ngợi khen Chúa và ít thời gian hơn để tự ghét bản thân.

v.“Những kẻ nổi loạn trước đây không chỉ được tha thứ bằng việc được miễn hình phạt thích đáng; họ còn được đưa vào vị trí được Chúa ưu ái đặc biệt – trong Ân điển chúng ta hiện đương đứng vững.” (Bruce)

vi.Thái độ đúng đắn của con người khi sống dưới ân sủng (William Newell)

  • Bí quyết lớn nhất là tin tưởng và chấp nhận được yêu thương ngay cả khi bản thân không xứng đáng.
  • Từ chối đưa ra những “quyết tâm” và “lời thề hứa”; bởi vì đó là tin tưởng vào xác thịt.
  • Mong đợi được ban phước lành, dù ngày càng nhận ra rõ hơn sự thiếu xứng đáng của bản thân.
  • Làm chứng về lòng nhân từ của Đức Chúa Trời, trong mọi lúc.
  • Chắc chắn về ân sủng tương lai của Đức Chúa Trời; nhưng vẫn luôn có lương tâm nhạy cảm hơn đối với Ngài.
  • Dựa vào bàn tay sửa phạt của Chúa như một dấu hiệu của lòng nhân từ Ngài.
  • Một người sống dưới ân điển, nếu giống như Phao-lô, sẽ không có gánh nặng nào về bản thân; nhưng lại có nhiều gánh nặng về người khác.

d.2là Đấng đã làm cho chúng ta cậy đức tin VÀO trong ơn nầy: Chúng ta chỉ có thể bước vào địa vị ân sủng này nhờ đức tin và qua Chúa Giê-su; chúng ta không thể tự mình đạt được địa vị này. Việc bước vào này không chỉ là bước vào một địa vị ân sủng, mà còn là bước vào chính các sân đình trên trời. Đây là một phước lành vượt xa sự hòa bình với Đức Chúa Trời. “Một người có thể được hòa giải với vị vua của mình, nhưng vẫn không nhất thiết được diện kiến ​​vua của mình.” (Poole)

i.Leon Morris về sự tiếp cận | có lối vào, quyền truy cập: “Ý tưởng này giống như việc được dẫn vào phòng tiếp kiến của một vị vua. Cách dịch là ‘được vào, lối vào’ là chưa đầy đủ, vì nó bỏ qua một thực tế rằng chúng ta không đến bằng sức riêng của mình, mà cần một ‘người dẫn đường’ – đó là Đấng Christ.”

ii.Wuest trích dẫn Thayer về sự tiếp cận: “Đó là mối quan hệ thân thiện với Chúa, nhờ đó chúng ta được Ngài chấp nhận và có sự chắc chắn rằng Ngài có thiện cảm với chúng ta.”

e.chúng ta cũng được đến gần (Chúng ta có quyền truy cập | have access): Thì hoàn thành của động từ “have access” cũng cho thấy đây là một quyền sở hữu lâu dài, vĩnh viễn. Bởi vì vị thế của chúng ta dựa trên ân điển, chúng ta thực sự có thể đứng vững và có được sự bình an, bởi vì chúng ta biết rằng quyền tiếp cận của chúng ta là một quyền sở hữu vĩnh viễn. Nó không thể bị tước đoạt vào một thời điểm nào đó sau này.

i.Và sự tiếp cận với Đức Chúa Trời này, hay sự được dẫn vào sự hiện diện thiêng liêng, phải được xem là một đặc ân vĩnh cửu. Chúng ta không được đưa đến với Đức Chúa Trời chỉ để có một cuộc gặp gỡ nhất thời, mà là để ở lại với Ngài; để trở thành người nhà của Đức Chúa Trời; và nhờ đức tin, được chiêm ngưỡng dung nhan Ngài, và bước đi trong ánh sáng của dung nhan Ngài. (Clarke)

f.2bvà chúng ta khoe mình trong sự trông cậy về vinh hiển Đức Chúa Trời: Đây là kết luận hợp lý cho sự bình an và vị thế ân điển như vậy. Khi chúng ta xây dựng mối quan hệ với Đức Chúa Trời dựa trên nguyên tắc việc làm, bất kỳ sự vui mừng nào cũng là kiêu ngạo và bất kỳ vinh quang nào chúng ta tưởng tượng ra đều thuộc về chính chúng ta, chứ không phải Đức Chúa Trời.

i.Từ “vui mừng” thường được dịch là khoe mình“. Nó có nghĩa là “sự tự tin chiến thắng, vui mừng.” (Morris)

ii.Đối với Phao-lô, hy vọng không bao giờ hàm ý sự không chắc chắn. JB Philipps dịch hy vọng thành “sự chắc chắn đầy niềm vui”..

g.Được xưng công bình bởi đức tin: Một lần nữa, tất cả điều này chỉ có ý nghĩa khi chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin. Nếu chúng ta không được xưng công bình bởi ân điển qua đức tin, thì chúng ta không có sự bình an với Đức Chúa Trời, và chúng ta không có vị thế ân điển hiện tại.

i.“Than ôi, thật ít người tin Chúa có lòng can đảm của đức tin! Khi một thánh đồ nào đó bắt đầu tin vào sự thật và sống trong sự tự do hân hoan, chúng ta thường nói (có lẽ trong lòng): ‘Ông ta hẳn là một người đặc biệt thánh thiện, tận hiến.’ Không, ông ta chỉ là một tội nhân nghèo khó như bạn, người đang tin vào sự dồi dào của ân sủng!” (Newell)

2.(3-4) Lời hứa về vinh quang cũng dành cho thời điểm hiện tại.

a.3Nào những thế thôi, nhưng chúng ta cũng khoe mình (vui mừng) trong hoạn nạn nữa: Phao-lô lường trước lời cáo buộc rằng ông quá “viển vông”, rằng vinh quang dành cho người Cơ Đốc chỉ dành cho cõi đời sau xa xôi. Phao-lô đáp lại: “Tôi biết hiện nay chúng ta phải chịu nhiều hoạn nạn, nhưng chúng ta cũng khoe mình (vui mừng) trong những hoạn nạn ấy.”

i.Phao-lô không nói những lời thuộc linh sáo rỗng. Thứ nhất, ông dùng những từ ngữ mạnh mẽ. Hoạn nạn là “một thuật ngữ mạnh mẽ. Nó không đề cập đến những bất tiện nhỏ nhặt, mà là những khó khăn thực sự” (Morris). Thứ hai, Phao-lô đã sống một cuộc đời đầy hoạn nạn. Phao-lô hiểu rõ sự thật này hơn hầu hết mọi người.

b.3bvì biết rằng hoạn nạn sanh sự nhịn nhục,: Chúng ta có thể khoe mình (vui mừng) trong những gian khổ (theo nghĩa đen là áp lực) bởi vì chúng là cơ hội để tạo ra sự kiên trì (sức chịu đựng).

i.Vận động viên chạy bộ phải chịu áp lực để rèn luyện sức bền. Thủy thủ phải ra khơi. Binh lính phải ra trận. Đối với người Cơ Đốc, hoạn nạn chỉ là một phần trong đời sống Cơ Đốc của chúng ta. Chúng ta không nên mong muốn hay hy vọng một đời sống Cơ Đốc không có hoạn nạn, nhất là vì:

  • Chúa sử dụng những thử thách một cách kỳ diệu trong cuộc sống của chúng ta.
  • Chúa biết chúng ta có thể chịu đựng được bao nhiêu gian khổ, và Ngài cân nhắc kỹ lưỡng mức độ gian khổ mà chúng ta phải đối mặt.
  • Những người không phải là tín đồ Cơ đốc giáo cũng phải đối mặt với hoạn nạn.

ii.“Một người Cơ đốc nhân nên sẵn lòng đón nhận sự thử thách; anh ta nên vui vẻ để đức tin của mình được kiểm chứng. Anh ấy có thể nói: ‘Nào, nếu muốn, thì cứ việc giáng búa xuống.’ Chẳng lẽ bạn lại muốn được đưa về thiên đàng trên một chiếc giường êm ái trải đầy lông vũ sao?” (Spurgeon)

iii.“Tôi từng nghe người ta khuyên người khác đừng cầu nguyện xin lòng kiên trì vì Chúa sẽ giáng xuống cho họ những thử thách. Nếu lòng kiên trì đến như vậy thì, ‘Chúa ơi, hãy mang đến những khó khăn.’ con cần lòng kiên trì!” (Smith)

iv.”Dù chúng ta sở hữu những phẩm chất nào đi nữa, khi nghịch cảnh ập đến, chúng sẽ càng được tôi luyện và phát triển hoàn thiện hơn nữa nhờ vào chính nghịch cảnh đó. Nếu một người sống theo xác thịt, yếu đuối, mù quáng, gian ác, nóng nảy, kiêu ngạo, v.v., thì hoạn nạn sẽ khiến người ấy càng mang tính xác thịt, yếu đuối, mù quáng, gian ác và dễ cáu gắt hơn. Ngược lại, nếu một người thuộc linh, mạnh mẽ, khôn ngoan, tin kính, hiền hòa và khiêm nhường, thì người ấy sẽ càng thuộc linh hơn, càng mạnh mẽ, khôn ngoan, đạo đức, hiền hòa và khiêm nhường hơn nữa.” (Martin Luther)

v.“‘Hoạn nạn sinh ra lòng kiên nhẫn,’ vị sứ đồ đã nói như vậy. Theo lẽ tự nhiên thì không phải như vậy. Hoạn nạn sinh ra sự thiếu kiên nhẫn, và sự thiếu kiên nhẫn sẽ bỏ lỡ những bài học kinh nghiệm, và biến thành sự tuyệt vọng. Hãy hỏi nhiều người đã mất con yêu dấu, hoặc đã mất hết tài sản, hoặc đã chịu đau đớn về thể xác, và họ sẽ nói với bạn rằng kết quả tự nhiên của hoạn nạn là sự bực dọc với sự an bài của Đấng Tể Trị, lòng chống nghịch Đức Chúa Trời, những hoài nghi, vô tín, thái độ gắt gỏng và đủ mọi điều xấu xa khác. Nhưng thật là một sự biến đổi diệu kỳ khi tấm lòng được Đức Thánh Linh đổi mới!” (Spurgeon)

c.4sự nhịn nhục sanh sự rèn tập, sự rèn tập sanh sự trông cậy: Đây là một chuỗi vàng của sự trưởng thành và chín chắn trong đức tin Cơ đốc. Một đức tính này xây dựng trên một đức tính khác khi chúng ta trưởng thành theo gương của Chúa Giê-su.

i.Hầu hết mọi tín đồ đều muốn phát triển nhân cách và có thêm niềm hy vọng. Những phẩm chất này nảy sinh từ sự kiên trì, mà sự kiên trì lại được rèn giũa qua những thử thách. Chúng ta có thể mong muốn có nhân cách tốt hơn và nhiều hy vọng hơn mà không phải trải qua thử thách, nhưng đó không phải là khuôn mẫu và kế hoạch của Đức Chúa Trời.

ii.Tôi thà để Chúa rải lên tôi sự kiên trì, phẩm chất tốt niềm hy vọng khi tôi đang ngủ. Tôi có thể thức dậy với tư cách là một người Cơ Đốc tốt hơn rất nhiều! Nhưng đó không phải là kế hoạch của Chúa dành cho tôi hay cho bất kỳ cơ đốc nhân nào.

iii. Vì vậy, chúng ta nói – một cách tỉnh táo và tôn trọng – về những hoạn nạn: “Lạy Chúa, xin hãy để chúng đến. Con biết Ngài yêu thương con, cân nhắc kỹ lưỡng mọi thử thách và có một mục đích đầy tình yêu thương cần thực hiện qua mỗi thử thách. Lạy Chúa, con sẽ không chủ động tìm kiếm thử thách hay hoạn nạn, nhưng con cũng sẽ không coi thường hay nản lòng khi chúng ập đến. Con tin tưởng vào tình yêu của Ngài trong mọi điều Ngài cho phép xảy ra.”

3.(5) Bằng chứng cho niềm hy vọng: Tình yêu của Chúa trong lòng chúng ta ngay bây giờ, được chứng minh bằng sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống của chúng ta.

a.5Vả, sự trông cậy không làm cho hổ thẹn: Hy vọng mà hoạn nạn gây dựng trong chúng ta không phải là hy vọng sẽ bị thất vọng. Chúng ta được bảo đảm điều này bởi vì Đức Chúa Trời đã chứng tỏ ý định hoàn thành công việc của Ngài trong chúng ta – bằng chứng chính là tình yêu của Đức Chúa Trời… được đổ đầy trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh, Đấng đã được ban cho chúng ta.

b.5bvì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta: Mỗi Cơ đốc nhân nên có một số trải nghiệm về điều này, để có nhận thức sâu sắc về tình yêu của Chúa dành cho chúng ta.

i.Những lập luận logic của Sứ đồ Phao-lô trong thư Rô-ma rất thuyết phục, nhưng sách Rô-ma không thiếu cảm xúc hay những trải nghiệm mãnh liệt với Đức Chúa Trời. Phao-lô muốn chúng ta có những suy nghĩ đúng đắn về Đức Chúa Trời, nhưng ông cũng muốn chúng ta có trải nghiệm đúng đắn với Đức Chúa Trời – tình yêu của Đức Chúa Trời… được đổ đầy trong lòng chúng ta.

ii.Tình yêu của Chúa không được ban cho chúng ta từng chút một, mà được tuôn đổ trong lòng chúng ta. Một số Cơ đốc nhân sống như thể đó chỉ là một dòng chảy nhỏ giọt, nhưng Chúa muốn chúng ta biết được sự tuôn đổ tình yêu của Ngài.

c.5cbởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta: Đây là cách tình yêu của Chúa được truyền tải – thông qua Đức Thánh Linh. Việc thiếu nhận thức về tình yêu của Đức Chúa Trời thường là do không liên tục được đầy dẫy Đức Thánh Linh và không bước đi trong Thánh Linh.

i.“Tình yêu của Chúa giống như ánh sáng soi rọi con mắt mù lòa cho đến khi Đức Thánh Linh mở mắt ra… nguyện xin Đức Thánh Linh hiện diện ngay lúc này trong mỗi chúng ta, để tuôn đổ tình yêu của Đức Chúa Trời vào lòng chúng ta.” (Spurgeon)

ii.Mọi Cơ Đốc nhân đều có Đức Thánh Linh (Rô-ma 8:9). Tuy nhiên, không phải Cơ Đốc nhân nào cũng sống trong sự đầy dẫy Đức Thánh Linh (Ê-phê-sô 5:18), và cũng không phải ai cũng bước đi theo Thánh Linh (Rô-ma 8:4-5).

4.(6-8) Mô tả về tình yêu của Chúa dành cho chúng ta.

a.6Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối: Phao-lô mô tả sự vĩ đại trong tình yêu của Đức Chúa Trời. Đó là tình yêu dành cho những người không xứng đáng, những kẻ yếu đuối, những người vô đạo và tội nhân. Điều này nhấn mạnh rằng lý do cho tình yêu của Đức Chúa Trời nằm ở chính Ngài, chứ không phải ở nơi chúng ta.

i.Những người này là ai? Ai là những kẻ vô đạo và gian ác mà Chúa Giê-su đã chết thay cho họ? Phao-lô dành hai chương rưỡi đầu tiên của Thư gửi tín hữu Rô-ma để cho chúng ta thấy rằng tất cả chúng ta đều chính là những người đó.

b.6bĐấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội: Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến vào đúng thời điểm, vào thời kỳ đã định. Có thể đối với một số người thì điều đó dường như là muộn màng, nhưng công việc của Chúa Giê-xu đã được thực hiện vào thời điểm hoàn hảo trong chương trình của Đức Chúa Trời: khi thời kỳ đã trọn, Đức Chúa Trời sai Con Ngài đến (Ga-la-ti 4:4).

Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến đúng thời điểm, vào đúng thời điểm thích hợp. Có thể đối với một số người thì điều đó có vẻ muộn, nhưng công việc của Chúa Giê-su đã được hoàn thành vào thời điểm hoàn hảo trong kế hoạch của Đức Chúa Trời: khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp (Ga-la-ti 4:4).

i.Thế giới đã được chuẩn bị về mặt tâm linh, kinh tế, ngôn ngữ, chính trị, triết học và địa lý cho sự đến của Chúa Giê-su và sự lan truyền của Tin Mừng.

ii.”Đúng thời kỳ đã định” cũng có nghĩa là Chúa Giê-xu đã chết vì chúng ta đúng vào thời điểm thích hợp nhất. Ngài đã chịu chết khi chúng ta còn là những tội nhân đang cần đến Đấng Cứu Thế. Thời điểm Ngài chọn là hoàn toàn thích hợp cho chúng ta.

c.6bĐấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội: Trong Rô-ma 3:25, Phao-lô đã đề cập đến khái niệm về sự hy sinh thay thế thông qua việc sử dụng thuật ngữ chỉ sự đền tội (hay của lễ đền tội). Tại đây, ông tái khẳng định ý tưởng này khi tuyên bố rằng Đấng Christ đã chết vì kẻ vô đạo. Từ ngữ Hy Lạp cổ được sử dụng ở đây là *huper*; từ này mang nghĩa là “vì lợi ích của,” “thay mặt cho,” hoặc “thay thế cho.”

i.Các đoạn khác trong Tân Ước nơi từ “huper” được sử dụng cũng giúp chúng ta hiểu rõ điều này. Trong Giăng 11:50, chúng ta đọc thấy: “Các ngươi cũng không nghĩ rằng việc một người chết thay [huper] cho dân chúng là điều có lợi cho chúng ta sao?” Ga-la-ti 3:13 nói: “Đức Chúa Jêsus đã cứu chuộc chúng ta khỏi lời nguyền rủa của luật pháp, bằng cách trở thành lời nguyền rủa thay [huper] cho chúng ta.”

ii.Vì vậy, để thực sự có thể nói rằng: “Chúa Giê-su đã chết vì tôi”, bạn cũng phải thừa nhận rằng: “Tôi không có sức lực để tự cứu mình. Tôi là kẻ vô đạo. Tôi là một tội nhân.” Chúa Giê-su đã chết để cứu rỗi và biến đổi những con người như vậy.

iii.”Bạn sẽ nói: “Ồ, tôi là một trong những kẻ tệ hại nhất thế gian.” Đấng Christ đã chết vì những kẻ tệ hại nhất thế gian. “Ồ, nhưng tôi chẳng có sức lực nào để trở nên tốt hơn.” Đấng Christ đã chết vì những kẻ bất lực. “Ồ, nhưng chính hoàn cảnh của tôi đã kết án tôi.” Đấng Christ đã chết vì những kẻ bị kết án theo luật pháp. “Chà, nhưng tình cảnh của tôi thật tuyệt vọng.” Đấng Christ đã chết vì những kẻ tuyệt vọng. Ngài là niềm hy vọng cho những ai tuyệt vọng. Ngài là Đấng Cứu Thế, không phải cho những người chỉ mới lạc lối một phần, mà cho những người đã hoàn toàn lạc lối.” (Spurgeon)

iv.”Nếu Đấng Christ đã chết vì kẻ vô đạo, thì sự thật này khiến họ không còn lý do nào để bào chữa nếu họ không đến với Ngài và tin nhận Ngài để được cứu rỗi. Nếu sự thể không phải như vậy, họ có thể đã biện bạch rằng: “Chúng tôi không xứng đáng để đến.” Nhưng bạn là kẻ vô đạo, và Đấng Christ đã chết vì kẻ vô đạo; vậy tại sao Ngài lại không chết vì bạn?” (Spurgeon)

d.7Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành: Tình yêu của Đức Chúa Trời vượt xa cả những tình yêu tốt đẹp nhất giữa con người với nhau. Một người tốt có thể chấp nhận cái chết đầy cao cả vì một người “xứng đáng” – chẳng hạn như một người công bình hay một người lương thiện. Nhưng Chúa Giê-xu đã chết vì những kẻ chẳng hề công bình hay lương thiện.

Trong tư tưởng của Phao-lô, liệu có sự khác biệt nào giữa một người công bình và một người tốt không? Sự khác biệt trong thư Rô-ma 5:7 dường như nằm ở chỗ: người công bình chỉ dừng lại ở mức độ đó – tức là sống công bình trong đời sống cá nhân nhưng có lẽ lại thiếu sự cảm thông đối với người khác. Ngược lại, người tốt còn vượt xa hơn thế nhờ có thêm lòng nhân từ và đức tính hay làm ơn.

e.8Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết: Cái chết của Người Con thể hiện tình yêu của Chúa Cha như thế nào? Bởi vì việc sai phái Người Con duy nhất là điều khó khăn hơn đối với Chúa Cha, và bởi vì chính Đức Chúa Trời [Chúa Cha] đang ở trong Đấng Christ, hòa giải thế gian với chính Ngài (2 Cô-rinh-tô 5:19).

i.“Thật dễ dàng để coi thập tự giá là minh chứng cho sự thờ ơ của Thiên Chúa—một Đấng đã để cho Chúa Giê-su vô tội bị những kẻ gian ác bắt giữ, tra tấn và đóng đinh mà Ngài chẳng hề can thiệp… Trừ khi ta hiểu rằng Chúa Cha và Đấng Christ là một, bằng không thì thập tự giá không thể hiện tình yêu của Thiên Chúa.” (Morris)

ii.Công việc của Chúa Giê-su trên thập tự giá vì chúng ta là bằng chứng tối thượng về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho bạn. Ngài có thể ban thêm bằng chứng khác, nhưng không thể có bằng chứng nào lớn lao hơn thế. Nếu thập tự giá là sự bày tỏ tột cùng về tình yêu của Đức Chúa Trời, thì đó cũng là sự bày tỏ tột cùng về lòng thù hận của con người. Nó cũng chứng minh rằng sự thù hận tột cùng của con người không thể đánh bại tình yêu tột cùng của Đức Chúa Trời.

iii.Sự thể hiện tình yêu của Đức Chúa Trời không nằm chủ yếu ở việc Chúa Giê-xu đã chết, mà được thể hiện qua việc Ngài chết vì ai – đó là những tội nhân không xứng đáng và những kẻ nổi loạn chống lại Ngài.

5.(9-11) Sự cứu rỗi khỏi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời.

a.9Huống chi nay chúng ta đã nhờ huyết Ngài được xưng công bình, thì sẽ nhờ Ngài được cứu khỏi cơn thạnh nộ là dường nào! BD2011 9Bây giờ nhờ huyết Ngài chúng ta đã được xưng công bình, thì trong tương lai cũng nhờ chính Ngài, chúng ta sẽ được cứu khỏi cơn thịnh nộ bội phần hơn biết bao: Nếu chúng ta được xưng công bình bởi công việc của Chúa Giê-su, chúng ta có thể chắc chắn rằng chúng ta cũng sẽ nhờ Ngài được cứu khỏi cơn thạnh nộ là dường nào! Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời—điều được bày tỏ từ trời nghịch lại mọi sự vô đạo và bất chính của loài người (Rô-ma 1:18)—đã trút xuống Chúa Giê-xu, Đấng gánh thay cho người tin Chúa.

i.Theo bản tính tự nhiên, một số người thường có khuynh hướng nghĩ rằng “9Huống chi nay…” theo chiều hướng bất lợi cho chính mình khi đối diện với những lời hứa tuyệt vời của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Ngài muốn họ thấy rõ một sự thật: Tình yêu và lòng nhân từ mà Đức Chúa Trời dành cho chúng ta còn bội phần hơn biết bao, và chúng ta càng có lý do vững chắc bội phần hơn biết bao để đặt trọn niềm tin nơi Ngài.

ii.Được cứu khỏi cơn thịnh nộ: Cơn thịnh nộ của ai? Cơn thịnh nộ công bình của Đức Chúa Trời. Thật vậy, chúng ta cần được cứu khỏi thế gian, xác thịt và ma quỷ, nhưng trên hết, chúng ta cần được giải cứu khỏi cơn thịnh nộ công bình của Đức Chúa Trời.

iii.John Trapp nói “bội phần hơn biết bao”: “Việc đưa con người đến với ân điển là một công trình vĩ đại hơn của Đức Chúa Trời so với việc đưa họ từ trạng thái ân điển đến vinh quang; bởi lẽ tội lỗi cách xa ân điển hơn nhiều so với khoảng cách từ ân điển đến vinh quang”

b.10Vì nếu khi chúng ta còn là thù nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà đã được hòa thuận với Ngài bởi sự chết của Con Ngài: Nếu Đức Chúa Trời đã bày tỏ tình yêu thương lớn lao như vậy đối với chúng ta khi còn là thù nghịch cùng Đức Chúa Trời, thì hãy thử nghĩ xem chúng ta sẽ được hưởng những phước hạnh nào khi đã được hòa giải với Ngài! Nếu Đức Chúa Trời làm điều lớn lao đến thế cho kẻ thù của Ngài, thì Ngài còn làm nhiều hơn biết bao cho bạn hữu của Ngài!

i.Wuest, trích dẫn Alford: “Người đã được hòa giải không chỉ có lòng tin chắc rằng mình sẽ thoát khỏi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, mà còn có sự tin quyết đầy đắc thắng – niềm hy vọng hân hoan nơi Đức Chúa Trời.”

c.10bthì huống chi nay đã hòa thuận rồi, chúng ta sẽ nhờ sự sống của Con ấy mà được cứu là dường nào! Sự hòa giải này không chỉ hữu ích khi chúng ta qua đời; nó còn tác động đến cuộc sống của chúng ta ngay bây giờ. Đức Chúa Trời mãi mãi không còn đối xử với những người tin Ngài dựa trên sự thịnh nộ nữa. Ngài có thể sửa phạt họ như một người Cha yêu thương, nhưng không phải để trừng phạt hay bắt họ đền tội. Đức Chúa Trời chỉ cho phép sự sửa phạt nhằm mục đích uốn nắn, sửa dạy và hướng dẫn đầy yêu thương.

d.Được cứu khỏi cơn thịnh nộ nhờ Ngài… chúng ta được hòa giải với Đức Chúa Trời nhờ sự chết của Con Ngài… 11 Nào những thế thôi, chúng ta lại còn khoe mình trong Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, nhờ Ngài mà chúng ta hiện nay đã được sự hòa thuận: Điểm mấu chốt được nhấn mạnh rất rõ ràng. Điều quan trọng là những gì chúng ta có được nhờ Chúa Giê-xu. Những gì chúng ta đạt được nhờ nỗ lực của chính mình chẳng có ý nghĩa gì và cũng không thể giúp ích được cho chúng ta. Tất cả đều qua Chúa Giê-xu..

B.Hai Con Người.

1.(12) Sự lan rộng của tội lỗi trong toàn thể nhân loại.

a.12Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian: Sứ đồ Phao-lô coi Sáng thế ký chương 3 là hoàn toàn đúng về mặt lịch sử. Theo Phao-lô (và theo lời Chúa Giê-su, như Ngài nói trong Ma-thi-ơ 19:4-6), A-đam và Ê-va là những người có thật và những việc họ làm vẫn còn ảnh hưởng đến tận ngày nay.

i.Điều quan trọng cần hiểu là câu chuyện về A-đam và Ê-va không phải là một đoạn văn tùy chọn để chấp nhận hay bác bỏ, hoặc được giải thích theo nghĩa ẩn dụ. Theo chủ đề của Phao-lô ở đây trong Rô-ma 5, bạn không thể loại bỏ lẽ thật của Sáng thế ký 3 mà không loại bỏ những nguyên tắc đặt nền tảng cho sự cứu rỗi của chúng ta.

ii.“Đối với Phaolô, A-đam không chỉ là một cá nhân lịch sử, người đàn ông đầu tiên; ông còn là ý nghĩa của tên ông trong tiếng Hê-bê-rơ – ‘nhân loại’. Toàn thể nhân loại được xem là đã tồn tại ban đầu trong A-đam.” (Bruce)

b.12Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian: Phao-lô không chứng minh điều này, ông chỉ đơn giản chấp nhận nó là sự thật từ Sáng thế ký chương 3 – tội lỗi xâm nhập vào thế gian qua A-đam. Điều đáng chú ý là A-đam chịu trách nhiệm về sự sa ngã của loài người, chứ không phải Ê-va. Ê-va bị lừa dối khi phạm tội, nhưng A-đam phạm tội với đầy đủ ý thức (1 Ti-mô-thê 2:14).

c.12blại bởi tội lỗi mà có sự chết: Cái chết đã xâm nhập vào thế gian và lan rộng đến mọi người do tội lỗi của A-đam. Đức Chúa Trời đã hứa với A-đam rằng: “ Ngày nào ngươi ăn trái cây đó, chắc chắn ngươi sẽ chết” (Sáng thế ký 2:17). Nguyên tắc về cái chết đã được đưa vào thế gian khi A-đam phạm tội và nó đã ngự trị trên trái đất kể từ đó. Mỗi ngôi mộ là bằng chứng câm lặng về sự lan rộng và thống trị của tội lỗi kể từ thời A-đam.

d.12cthì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội: Vì cái chết và tội lỗi có mối liên hệ với nhau, chúng ta có thể biết rằng tất cả mọi người đều là tội nhân – bởi vì tất cả đều phải chịu sự chết. Một người vô tội không phải chịu sự chết, nhưng vì mọi người đều phải chịu sự chết – ngay cả đứa trẻ sơ sinh nhất – điều đó chứng tỏ rằng toàn thể [nhân loại] đã phạm tội trong A-đam.

i.Điều này nghe có vẻ lạ lẫm đối với những người có tư tưởng cá nhân chủ nghĩa như chúng ta, nhưng Phao-lô dạy rõ ràng rằng tất cả chúng ta đều đã phạm tội “trong” A-đam. A-đam là tổ phụ chung của mọi người trên trái đất; mọi con người từng sống đều nằm “trong” cấu trúc di truyền của A-đam. Do đó, toàn thể nhân loại thực sự đã phạm tội trong A-đam..

ii.“Trong trường hợp này, mọi người đều phạm tội có nghĩa là ‘tất cả những người phạm tội trong A-đam’; tội lỗi của A-đam là tội lỗi của tất cả mọi người.” (Morris)

iii.Con người vốn là sinh vật hữu hạn – phải đối mặt với cái chết – ngay cả trước khi chính họ phạm bất kỳ tội lỗi nào. Vì sự hữu hạn là hậu quả của tội lỗi, điều này cho thấy chúng ta trở thành những kẻ có tội do tội lỗi của A-đam, chứ không phải do tội lỗi cá nhân của chính mình.

iv.Chúng ta có thể không thích thực tế rằng mình bị biến thành tội nhân bởi hành động của một người khác. Chúng ta có thể phản đối và nói: “Tôi muốn tự đứng trên đôi chân của mình, chứ không muốn bị biến thành tội nhân chỉ vì hành động của một người khác.” Tuy nhiên, việc được trở nên công bình nhờ công lao của một người khác chỉ công bằng nếu chúng ta cũng bị biến thành tội nhân bởi công việc của người khác. Nếu chúng ta không bị biến thành tội nhân bởi A-đam, thì không công bằng khi chúng ta được xưng công bình bởi Chúa Giê-su.

e.hết thảy mọi người: Sự thật này có thể khiến chúng ta khó chịu, nhưng đó vẫn là sự thật. Ngay cả một đứa trẻ sơ sinh nhất cũng là tội nhân, phải chịu sự chết. Đa-vít đã hiểu điều này khi ông viết: “Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi” (Thi thiên 51:5).

i.Chúng ta cũng có thể biết rằng mình sinh ra đã là tội nhân vì những lý do khác nữa. Thứ nhất, hãy nghĩ đến sự ích kỷ và hay giận dữ ngay cả ở những đứa trẻ sơ sinh. Thứ hai, hãy nghĩ đến việc chúng ta chẳng bao giờ cần phải dạy con cái làm điều xấu – chúng tự học những điều đó, với “A-đam cũ” là người truyền đạt những bài học ấy.

ii.Nếu trẻ sơ sinh là những kẻ có tội, liệu điều đó có nghĩa là chúng sẽ xuống địa ngục không? Không hẳn vậy. Thứ nhất, chúng ta biết rằng con cái của những người tin Chúa được thánh hóa nhờ sự hiện diện của cha mẹ tin Chúa (1 Cô-rinh-tô 7:14). Thứ hai, Đa-vít có sự đảm bảo rằng đứa con sơ sinh của ông sẽ được gặp ông trên thiên đàng (2 Sa-mu-ên 12:23). Cuối cùng, chúng ta biết rằng vào cuối cùng, Đức Chúa Trời, Đấng phán xét cả thế gian, sẽ làm điều công bình (Sáng Thế Ký 18:25).

iii.Nếu có những đứa trẻ có cha mẹ không tin Chúa được vào thiên đàng, thì điều quan trọng là phải hiểu rằng điều đó không phải vì chúng vô tội. Là con cái của A-đam – người đã phạm tội – mỗi chúng ta cũng sinh ra đã mang tội lỗi. Nếu những đứa trẻ đó thực sự được vào thiên đàng, thì không phải vì chúng là những người vô tội xứng đáng được vào thiên đàng, mà là vì lòng thương xót dồi dào, vô bờ bến của Đức Chúa Trời cũng đã được ban cho chúng.

2.(13-14) Trả lời một ý kiến phản đối: “Tôi tưởng chúng ta là những kẻ có tội vì đã vi phạm Luật pháp.”

a.13 Vì, trước khi chưa có luật pháp, tội lỗi đã có trong thế gian, song chưa có luật pháp, thì cũng không kể là tội lỗi: Chúng ta biết rằng tận căn nguyên gốc rễ, chúng ta trở thành tội nhân là do A-đam chứ không phải vì chúng ta tự mình vi phạm luật. Chúng ta biết điều này bởi vì tội lỗi và sự chết đã tồn tại trong thế gian trước khi Luật pháp được ban hành.

i.Luật pháp đã đến quá muộn để ngăn chặn tội lỗi và sự chết, đồng thời cũng quá yếu ớt để giải cứu con người khỏi tội lỗi và sự chết.

b.14 Nhưng từ A-đam cho đến Môi-se, sự chết đã cai trị cả đến những kẻ chẳng phạm tội giống như tội của A-đam: Sự thống trị tuyệt đối và không khoan nhượng của sự chết – ngay cả trước khi luật pháp được ban hành vào thời Môi-se – chứng tỏ rằng con người đã ở dưới quyền lực của tội lỗi ngay cả trước khi có Luật pháp. sự chết đã cai trị cả đến những kẻ chẳng phạm tội giống như tội của A-đam, qua đó cho thấy nguyên lý của tội lỗi vẫn luôn hiện hữu và tác động trong mỗi con người.

c.A-đam, 14blà người làm hình bóng của Đấng phải đến: Phao-lô trình bày A-đam như một hình bóng – một hình ảnh, một sự đại diện – cho Chúa Giê-su. Cả A-đam và Chúa Giê-su đều là những con người hoàn toàn vô tội ngay từ ban đầu, và cả hai đều đã thực hiện những hành động mang lại hệ quả cho toàn thể nhân loại.

3.(15-17) Sự khác biệt giữa công việc của A-đam và công việc của Chúa Giê-su.

a.15 Song tội lỗi chẳng phải như sự ban cho của ân điển: Adam đã phạm một lỗi lầm gây hậu quả cho toàn thể nhân loại – do lỗi lầm của Adam mà nhiều người phải chết. Chúa Giê-su ban một ân điển nhưng không, mang lại hệ quả cho toàn thể nhân loại nhưng theo một cách khác. Nhờ ân điển của Chúa Giê-su, ân điển của Đức Chúa Trời… đã tuôn tràn trên nhiều người. Việc làm của Adam mang lại sự chết, còn việc làm của Chúa Giê-su mang lại ân điển.

b.15bVì nếu bởi tội lỗi của chỉ một người mà mọi kẻ khác đều phải chết, thì huống chi ơn của Đức Chúa Trời và sự ban cho trong ơn Ngài tỏ ra bởi một người là Đức Chúa Jêsus Christ, chan chứa cho hết thảy mọi người khác là dường nào! 16 Lại sự ban cho nầy chẳng phải như việc xảy đến bởi một người phạm tội đâu: Sự phán xét bởi chỉ một tội mà làm nên đoán phạt; nhưng sự ban cho của ân điển thì sau nhiều tội rồi, dẫn đến sự xưng công bình: Điều này bắt đầu mô tả hậu quả từ sự phạm tội của A-đam. Tiếp theo đó là những điều khác nữa: Sự phán xét bởi chỉ một tội mà làm nên đoán phạt;, và sự chết đã cai trị trên nhân loại. Tuy nhiên, cũng có những tác động từ ân điển mà Chúa Giê-xu ban cho: ân điển dư dật cho nhiều người, sự xưng công bình (vì nhiều sự vi phạm đã được đặt lên Chúa Giê-xu); ân điển dư dật; món quà sự công bình; và sự cai trị trong sự sống.

i.“Phao-lô không nói rằng sự chết thống trị tất cả chúng ta vì tất cả chúng ta đều phạm tội; ông nói rằng sự chết thống trị tất cả chúng ta vì A-đam đã phạm tội” (Morris)

c.17 Vả, nếu BỞI TỘI MỘT NGƯỜI mà sự chết đã cai trị bởi một người ấy, thì huống chi những kẻ nhận ân điển và sự ban cho của sự công bình cách dư dật, họ sẽ nhờ một mình Đức Chúa Jêsus Christ mà cai trị trong sự sống là dường nào! Có thể nói rằng cả A-đam và Chúa Giê-xu đều là những vị vua, và mỗi người đều thiết lập một triều đại. Dưới thời A-đam, sự chết cai trị. Còn dưới thời Chúa Giê-xu, chúng ta có thể cai trị trong sự sống thông qua Đấng duy nhất, Chúa Giê-xu Christ.

i.Thật kinh ngạc khi nghĩ đến việc sự chết đã thống trị một cách tuyệt đối như thế nào dưới thời A-đam. Mọi người sinh ra đều sẽ chết – tỷ lệ tử vong là 100%. Không ai thoát khỏi cái chết. Khi một đứa trẻ chào đời, vấn đề không phải là liệu nó sẽ sống hay chết – chắc chắn nó sẽ chết; câu hỏi duy nhất chỉ là khi nào. Chúng ta thường coi thế giới này là nơi của sự sống, nhưng thực ra đây là nơi của sự chết, và hàng tỷ thi thể con người đã được chôn vùi vào lòng đất qua bao thế kỷ chính là minh chứng cho điều đó. Tuy nhiên, Phao-lô nói rằng sự cai trị của sự sống qua Chúa Giê-su chắc chắn hơn nhiều. Việc người tin Chúa được trị vì trong sự sống nhờ Chúa Giê-xu là điều còn chắc chắn hơn cả cái chết hay đóng thuế!

4.(18) Tóm tắt: Hai Con Người.

a.18 Vậy, như bởi chỉ một tội mà sự đoán phạt rải khắp hết thảy mọi người thể nào, thì bởi chỉ một việc công bình mà sự xưng công bình, là sự ban sự sống, cũng rải khắp cho mọi người thể ấy: Dựa vào đoạn Kinh Thánh này, A-đam và Chúa Giê-su đôi khi được gọi là “hai con người”. Cả hai đại diện cho toàn thể nhân loại, và mỗi người đều được xác định thuộc về A-đam hoặc Chúa Giê-su. Khi sinh ra, chúng ta mang thân phận gắn liền với A-đam (bản sắc-identification); nhưng chúng ta có thể được tái sinh để mang thân phận (bản sắc-identification) gắn liền với Chúa Giê-su.

i.Quan điểm coi A-đam và Chúa Giê-su là hai đại diện cho nhân loại đôi khi được gọi là Thần học Đại diện (Federal Theology), hoặc họ còn được gọi là các “Người đứng đầu đại diện” (Federal Heads). Cách gọi này xuất phát từ mô hình chính quyền đại diện, trong đó các đại diện được lựa chọn để thay mặt cho những người đã bầu ra họ; theo đó, A-đam đại diện cho những người thuộc về ông, còn Chúa Giê-su đại diện cho dân của Ngài.

ii.Một lần nữa, ai đó có thể phản đối: “Nhưng tôi chưa bao giờ chọn để Adam đại diện cho tôi.” Tất nhiên là bạn đã chọn rồi! Bạn đã đồng nhất mình với Adam ngay từ tội lỗi đầu tiên bạn phạm phải. Điều hoàn toàn đúng là chúng ta sinh ra đã mang trong mình sự đồng nhất với Adam, nhưng chúng ta cũng lựa chọn điều đó thông qua những hành vi tội lỗi cá nhân của mình.

b.sự đoán phạt rải khắp hết thảy mọi người thể nào, thì bởi chỉ một việc công bình mà sự xưng công bình: Kết quả của sự lựa chọn này – giữa A-đam và Chúa Giê-xu – mang ý nghĩa quyết định tất cả. Nếu chọn A-đam, chúng ta sẽ nhận lãnh sự phán xétán phạt. Nếu chọn Chúa Giê-xu, chúng ta sẽ nhận được ân điển và sự xưng công chính như một món quà ban cho nhưng không từ Đức Chúa Trời.

c.sự ban sự sống, cũng rải khắp cho mọi người thể ấy: Điều này có nghĩa là mọi người đều được xưng công chính nhờ ân điển miễn phí chăng? Dù không đưa ra lựa chọn cá nhân, mỗi người đều đã nhận lãnh sự rủa sả từ sự phạm tội của A-đam. Vậy, có phải mọi người—bất kể quyết định cá nhân của họ ra sao—đều sẽ nhận được lợi ích từ sự vâng phục của Chúa Giê-xu không? Hoàn toàn không. Thứ nhất, Phao-lô làm rõ rằng sự ban cho của ân điển không giống như sự phạm tội; chúng không giống nhau về kết quả cũng như cách áp dụng. Thứ hai, Phao-lô mô tả công việc của Chúa Giê-xu là một sự ban cho của ân điển xuyên suốt ba câu Kinh Thánh, trong khi ông không bao giờ dùng những thuật ngữ này để nói về công việc của A-đam. Bản chất của một ân điển là nó phải được tiếp nhận bởi đức tin. Cuối cùng, trong toàn bộ Tân Ước, Phao-lô dạy một cách dứt khoát rằng không phải ai cũng sẽ được cứu.

i.Vậy thì ân huệ miễn phí đã đến với tất cả mọi người theo nghĩa nào? Nó đến theo nghĩa là ân huệ đó đã được ban tặng, nhưng không nhất thiết phải được nhận lấy.

ii.Quan điểm cho rằng tất cả mọi người đều được cứu rỗi bởi công việc của Chúa Giê-su, dù họ có biết điều đó hay không, được gọi là thuyết phổ quát (universalism). “Nếu ở đây đang giảng dạy học thuyết phổ quát, thì Phao-lô sẽ tự mâu thuẫn với chính mình, vì ông đã mô tả con người sẽ bị hủy diệt vì tội lỗi.” (Harrison)

5.(19) Tóm tắt các điểm tương phản.

19 Vì, như bởi sự không vâng phục của một người mà mọi người khác đều thành ra kẻ có tội, thì cũng một lẽ ấy, bởi sự vâng phục của một người mà mọi người khác sẽ đều thành ra công bình.

a.”như bởi sự không vâng phục của một người | (A-đam) mà mọi người khác đều thành ra kẻ có tội“: Sự vâng phục của Chúa Giê-su khiến nhiều người trở nên công bình. Mỗi người đại diện đều truyền đạt tác động của công việc mình đến những người “đi theo” họ.

b.”mà mọi người khác đều thành ra kẻ có tội: Phao-lô nhấn mạnh lại điểm này một lần nữa. Về căn bản, chúng ta đã trở thành tội nhân bởi hành động của A-đam. Tất nhiên, chúng ta đã chọn đứng về phía A-đam khi chính mình phạm tội. Tuy nhiên, nguyên tắc vẫn là: vì một người khác đã khiến chúng ta trở thành tội nhân, nên chúng ta cũng có thể được kể là công chính nhờ công việc của một người khác.

i.Đây là cách duy nhất để công việc của Chúa Giê-su mang lại lợi ích cho chúng ta. Nếu mỗi người phải tự chịu trách nhiệm cho chính mình, mà không có sự đại diện của cả A-đam lẫn Chúa Giê-su, thì tất cả chúng ta đều sẽ hư mất. Sẽ không ai được cứu rỗi, bởi vì mỗi người trong chúng ta đều phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Chỉ có một người vô tội hành động thay mặt chúng ta mới có thể cứu rỗi chúng ta, và việc Ngài hành động thay mặt chúng ta là công bằng, bởi vì chính một người khác đã đẩy chúng ta vào tình cảnh này khi hành động thay mặt chúng ta.

ii.Nếu tôi cướp ngân hàng và bị kết tội, một người bạn sẽ không thể nói với thẩm phán rằng: “Thưa quan tòa, tôi yêu quý người bạn của mình và muốn chịu án tù thay cho bạn tôi. Tôi sẽ đứng ra nhận hình phạt mà lẽ ra anh ta phải chịu.” Thẩm phán sẽ trả lời: “Thật vô lý. Chúng tôi sẽ không trừng phạt anh vì tội lỗi của bạn anh. Làm vậy thật bất công. Anh ta phạm tội thì chính anh ta phải chịu hình phạt.” Việc một người khác gánh chịu hình phạt thay cho tôi chỉ được coi là công bằng nếu tôi bị kết tội vì hành động của người khác gây ra.

iii.Người nào nói rằng: “Tôi không muốn để A-đam hay Chúa Giê-xu đại diện cho mình; tôi muốn tự đại diện cho chính mình” là người không hiểu hai điều. Thứ nhất, họ không hiểu rằng thực ra việc này không tùy thuộc vào chúng ta. Không phải chúng ta đặt ra các quy tắc, mà là Đức Chúa Trời. Thứ hai, họ không hiểu rằng sự công chính của cá nhân chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời chẳng khác nào những chiếc áo bẩn thỉu, nhơ nhớp (Ê-sai 64:6). Đối với Đức Chúa Trời, sự công chính của cá nhân chúng ta là một thứ giả mạo đáng ghê tởm; vì vậy, việc tự mình đứng ra biện hộ chắc chắn sẽ dẫn đến sự hư mất đời đời.

6.(20a) Mục đích của Luật Pháp.

a.20 Vả, luật pháp đã xen vào, hầu cho tội lỗi gia thêm;: Phao-lô đã chỉ cho chúng ta thấy rằng luật pháp không biện minh cho chúng ta. Giờ đây, ông cho thấy rằng tự bản thân luật pháp thậm chí không biến chúng ta thành tội nhân – chính A-đam đã gây ra điều đó. Vậy luật pháp phục vụ mục đích gì? Luật pháp có một mục đích rõ ràng và một phần trong đó là để tội lỗi trở nên lộ rõ ​​và gia tăng. Luật pháp làm cho tội lỗi của con người trở nên rõ ràng và trầm trọng hơn bằng cách đặt nó vào sự tương phản trực diện với tiêu chuẩn thánh khiết của Đức Chúa Trời.

i.Những khuyết điểm của một viên đá quý càng lộ rõ ​​khi được đặt cạnh một viên đá hoàn hảo hoặc trên một phông nền tương phản. Luật pháp trọn vẹn của Đức Chúa Trời phơi bày những khiếm khuyết của chúng ta và làm cho tội lỗi của chúng ta trở nên rõ rệt.

b.20bnhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm, thì ân điển lại càng dư dật hơn nữa: Có một cách khác mà luật pháp khiến tội lỗi gia tăng. Vì bản chất tội lỗi trong lòng tôi, mỗi khi nhìn thấy một lằn ranh, tôi lại muốn vượt qua nó. Theo nghĩa này, luật pháp khiến tội lỗi gia tăng bởi vì nó vạch ra những ranh giới rõ ràng giữa đúng và sai mà trái tim tội lỗi của tôi muốn phá vỡ. Do đó, luật pháp khiến tôi phạm tội nhiều hơn – nhưng không phải vì luật pháp có gì sai, mà chỉ vì có điều gì đó sai trái sâu sắc trong bản chất con người.

7.(20b-21) Triều đại ân điển.

a.20bnhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm, thì ân điển lại càng dư dật hơn nữa: Nếu tội lỗi đã gia tăng dưới luật pháp, thì ân điển lại càng gia tăng bội phần nhờ Chúa Giê-xu. Theo nghĩa đen, cụm từ “càng dư dật hơn” có nghĩa là “vô cùng nhiều”. Chúa làm cho ân điển của Ngài càng dư dật hơn trước tội lỗi đang tràn lan!

i.Chúng ta có thể đã nghĩ rằng, ở nơi tội lỗi đã gia thêm, cơn giận hay sự phán xét của Đức Chúa Trời sẽ càng gia tăng hơn nữa. Nhưng tình yêu của Đức Chúa Trời thật kỳ diệu đến nỗi, ân điển lại càng gia tăng hơn nữa ở chính nơi mà lẽ ra chúng ta đã mong đợi cơn thịnh nộ.

ii.Nếu ân điển vượt trội hơn tội lỗi, thì chúng ta biết rằng không thể nào phạm tội nhiều hơn ân điển của Chúa. Chúng ta không thể phạm tội nhiều hơn mức Chúa có thể tha thứ, nhưng chúng ta có thể từ chối ân điển và sự tha thứ của Ngài.

b.21hầu cho tội lỗi đã cai trị làm nên sự chết thể nào: Như Phao-lô đã nói trước đó, tội lỗi đã cai trị trong sự chết. Nhưng ân điển cũng cai trị. Sự cai trị của ân điển được đặc trưng bởi sự công chính và sự sống đời đời, và nhờ Chúa Giê-xu.

i.ân điển cũng cai trị bởi sự công bình. Nhiều người cho rằng nơi nào ân điển ngự trị, nơi đó sẽ có sự coi thường sự công bình và thái độ hời hợt đối với tội lỗi. Nhưng đó hoàn toàn không phải là sự cai trị của ân điển. Phao-lô đã viết trong một bức thư khác về điều mà ân điển dạy chúng ta: “¹Vì ân sủng của Ðức Chúa Trời đã được bày tỏ để đem ơn cứu rỗi đến mọi người.¹² Ân sủng ấy dạy chúng ta phải từ bỏ nếp sống tội lỗi và những đam mê trần tục, để sống đứng đắn, chính trực, và tin kính đạo đức trong đời này,” (Tít 2:11-12). Ân điển ngự trị qua sự công bình,ân điển dạy chúng ta sự công bình.

ii.Ân điển ban cho sự sống đời đời. Ân điển của Chúa ban cho chúng ta điều gì đó và dẫn dắt chúng ta đến một nơi nào đó. Nó ban cho nhiều hơn cả sự sống bất tận. Sự sống đời đời mang ý nghĩa về một chất lượng sống hiện tại, chất lượng sống của Chúa, được ban cho chúng ta ngay bây giờ – chứ không chỉ khi chúng ta chết.

iii.Ân điển ngự trị qua Chúa Giê-su. Có một Vua trong vương quốc nơi ân điển ngự trị, và Vua đó là Chúa Giê-su. Một đời sống ân điển là tất cả về Chúa Giê-su và người khác, chứ không phải về bản thân tôi. Một đời sống ân điển không hướng đến bản thân vì nó hiểu rằng ân huệ không xứng đáng này của Chúa được ban cho mà không cần bất kỳ lý do nào từ bản thân. Tất cả lý do đều ở trong Chúa Giê-su; không có lý do nào ở trong tôi. Ân điển không ngự trị qua bản thân, mà qua Chúa Giê-su.

c.21bthì ân điển cũng cai trị bởi sự công bình thể ấy, đặng ban cho sự sống đời đời bởi Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta: Ở đâu ân điển ngự trị, ở đó tiêu chuẩn công chính của Đức Chúa Trời sẽ được tôn trọng. Người theo chủ nghĩa luật pháp lo sợ rằng sự cai trị của ân điển sẽ tạo cớ cho những tấm lòng gian ác tự do phạm tội, nhưng Kinh Thánh không có nỗi lo sợ đó. Ân điển không dung túng tội lỗi; ân điển đối diện trực diện với nó và vượt lên trên nó để chế ngự nó. Ân điển không nhắm mắt làm ngơ trước sự không công bình; ân điển đối đầu với tội lỗi bằng sự chuộc tội trên thập tự giá và chiến thắng giành được tại ngôi mộ trống mở.

i.Ân điển không phải là bạn của tội lỗi; nó là kẻ thù không đội trời chung của tội lỗi. “Như hơi nóng đối lập với cái lạnh, ánh sáng đối lập với bóng tối, thì ân điển đối lập với tội lỗi. Lửa và nước cũng không thể cùng tồn tại trong một vật chứa, cũng như ân điển và tội lỗi không thể cùng tồn tại trong một trái tim.” (Thomas Benton Brooks)

ii.Trong tác phẩm kinh điển *Thiên Lộ Trình* (Pilgrim’s Progress) của John Bunyan, có một nhân vật tuyệt vời mang tên “Ông Trung Thực” (Mr. Honest). Ông đã đi trên con đường hành hương và chứng kiến ​​biết bao người bạn đồng hành—có những người khởi đầu đầy mạnh mẽ, táo bạo nhưng rồi lại quay bước trở lui; lại có những người vấp ngã ngay từ đầu nhưng cuối cùng lại hoàn tất hành trình một cách tốt đẹp. Một số người bắt đầu với đức tin tràn đầy nhưng kết thúc trong sự hoài nghi, trong khi những người khác lại càng thêm vững tin khi bước đi trên con đường ấy. Rõ ràng, Ông Trung Thực rất am hiểu về hành trình của đời sống Cơ Đốc nhân, và ông đã đúc kết tất cả sự hiểu biết đó trong những lời cuối cùng của mình:

“Ông Trung Thực gọi bạn bè đến và bảo: “Tôi sắp qua đời nhưng sẽ không lập di chúc. Còn về sự chính trực của mình, tôi sẽ mang nó theo cùng”… Khi ngày ra đi đã đến, ông chuẩn bị bước qua dòng sông. Lúc bấy giờ, nước sông ở vài nơi đã tràn khỏi bờ; tuy nhiên, khi còn sống, ông Trung Thực đã dặn một người tên là Lương Tâm Tốt (Good-conscience) đến gặp mình tại đó. Người ấy đã đến, chìa tay ra và giúp ông vượt qua sông. Những lời cuối cùng của ông Trung Thực là: “Ân điển cai trị!” Thế là ông giã từ cõi đời.”

©1996–present The Enduring Word Bible Commentary by David Guzik –
nguồn: https://enduringword.com/bible-commentary/romans-5/