Rô-ma 4 – Áp-ra-ham và Đa-vít chứng tỏ sự công chính không nhờ việc làm

Rô-ma 4 – Áp-ra-ham và Đa-vít chứng tỏ sự công bình không nhờ việc làm.

A.Áp-ra-ham được xưng công bình nhờ đức tin.

1.(1-3) Áp-ra-ham không được xưng công bình bởi việc làm, nhưng được xưng công bình bởi đức tin.

a.1Vậy, chúng ta sẽ nói Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, theo xác thịt đã được ích gì? Tiếp nối ý tưởng đã bắt đầu trong Rô-ma 3:21, Phao-lô đặt câu hỏi: “Liệu ý niệm về sự xưng công bình nhờ đức tin, không phụ thuộc vào các việc làm của luật pháp, có khiến những gì Đức Chúa Trời đã làm trong Cựu Ước trở nên vô nghĩa hay không?”

b.2Thật thế, nếu Áp-ra-ham đã được xưng công bình bởi việc làm, thì có cớ khoe mình; nhưng trước mặt Đức Chúa Trời không có như vậy. Để trả lời câu hỏi đó, Phao-lô lấy Áp-ra-ham làm ví dụ, người được dân Giu-đa  thời bấy giờ kính trọng nhất – thậm chí còn hơn cả “George Washington” đối với người dân Mỹ.

c.Vì nếu Áp-ra-ham được xưng công bình bởi việc làm, thì ông có điều để khoe khoang: Nếu ai có thể được xưng công bình bởi việc làm, người đó sẽ có điều để khoe khoang. Tuy nhiên, sự khoe khoang như vậy chẳng là gì trước mặt Đức Chúa Trời (nhưng trước mặt Đức Chúa Trời không có như vậy).

i.Sự khoe khoang này chẳng có giá trị gì trước mặt Đức Chúa Trời; vì ngay cả khi việc làm có thể khiến một người được xưng công bình, thì theo một nghĩa nào đó, người ấy vẫn không đạt được vinh quang của Đức Chúa Trời. (Rô-ma 3:23).

ii.Sự khoe khoang này chẳng có ý nghĩa gì vì trước mặt Đức Chúa Trời, bởi vì trước mặt Đức Chúa Trời, mọi sự giả dối đều bị lột trần, và rõ ràng là không ai có thể thực sự được xưng công bình nhờ việc làm.

d.3Vì Kinh thánh có dạy chi? Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người: Cựu Ước không nói rằng Áp-ra-ham được kể là công bình nhờ vào việc làm của mình. Thay vào đó, Sáng-thế Ký 15:6 chép rằng Áp-ra-ham đã tin Đức Chúa Trời, và điều đó được kể cho ông là sự công bình.

i.Phao-lô khẳng định rõ ràng: Sự công bình của Áp-ra-ham không đến từ việc làm những việc lành, mà đến từ đức tin nơi Đức Chúa Trời. Đó là sự công bình đạt được nhờ đức tin.

ii.Nhìn chung, các giáo sư Giu-đa thời Phao-lô quan niệm rằng Áp-ra-ham được xưng công bình nhờ vào việc làm của mình—tức là nhờ việc tuân giữ Luật pháp. Các văn bản của các Rabi Giu-đa cổ đại ghi lại rằng: “Chúng ta thấy rằng Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã tuân giữ trọn vẹn Luật pháp ngay cả trước khi Luật pháp được ban hành,” và: “Áp-ra-ham đã hoàn hảo trong mọi việc làm của mình trước mặt Chúa” Các Rabi lập luận rằng Áp-ra-ham đã tuân giữ Luật pháp một cách hoàn hảo ngay cả trước khi Luật pháp được công bố, thông qua việc tuân giữ theo trực giác hoặc thực hiện trước khi có quy định chính thức.

iii.Sứ đồ Phao-lô không nói rằng Áp-ra-ham được xưng công bình trong mọi việc làm của ông, nhưng Đức Chúa Trời đã kể Ab-ra-ham là người công bình. Sự xưng công bình của chúng ta không nằm ở chỗ Đức Chúa Trời làm cho chúng ta hoàn toàn công bình, mà là ở chỗ Ngài kể chúng ta là người hoàn toàn công bình. Sau khi được kể là người công bình, Đức Chúa Trời bắt đầu làm cho chúng ta thực sự công bình, đỉnh điểm là sự phục sinh của chúng ta.

iv.“Từ *logizomai* mang nghĩa là ‘được tính, được kể’ hay ‘được ghi nhận’. Trong các văn bản thế tục thời đó, từ này được dùng để chỉ hành động ‘ghi vào tài khoản của ai đó’ hoặc ‘ký gửi hàng hóa vào kho’— ví dụ: ‘Tôi ban hành chỉ thị chung về tất cả các khoản thanh toán thực tế đã nộp cho chính quyền hoặc được ghi nhận vào tài khoản của chính quyền’. Tương tự như vậy, Đức Chúa Trời đã tính sự công bình cho Áp-ra-ham, ký gửi sự công bình ấy cho ông và ghi nhận nó vào tài khoản của ông… Áp-ra-ham sở hữu sự công bình cũng giống như cách một người sở hữu khoản tiền đã được gửi vào tài khoản ngân hàng của mình vậy.” (Wuest)

v.Sáng thế ký 15:6 không cho chúng ta biết người khác đánh giá Áp-ra-ham như thế nào. Thay vào đó, nó cho chúng ta biết Đức Chúa Trời đánh giá ông như thế nào. “Môi-se [trong Sáng thế ký] không cho chúng ta biết người ta nghĩ gì về ông [Áp-ra-ham], mà là ông được đánh giá như thế nào trước tòa án của Đức Chúa Trời.” (Calvin)

vi.Hãy nhớ rằng sự công bình không chỉ đơn thuần là sự vắng mặt của điều ác và tội lỗi. Đó là một điều tốt đẹp tích cực, có nghĩa là Đức Chúa Trời không chỉ tuyên bố chúng ta vô tội, mà còn là người công bình.

2.(4-5) Sự phân biệt giữa ân điển và việc làm.

a.4Vả, đối với kẻ nào làm việc, thì tiền công không kể là ơn, nhưng kể như là nợ: Khái niệm về ân điển trái ngược với nguyên tắc về việc làm; ân điển liên quan đến việc nhận lãnh món quà được Chúa ban tặng cách tự do, còn việc làm liên quan đến việc tích lũy công đức trước mặt Chúa.

i.Wuest bàn về *charis* – từ tiếng Hy Lạp cổ thường được dịch là “ân điển” (grace): “Trong văn chương cổ điển, từ này chỉ một ân huệ được ban phát từ tấm lòng hào phóng tự nguyện, không hề mong cầu hay đòi hỏi sự đền đáp. Tất nhiên, ân huệ ấy luôn được dành cho bạn hữu chứ chẳng bao giờ dành cho kẻ thù… Tuy nhiên, khi xuất hiện trong Tân Ước, *charis* đã vươn mình một bước tiến vượt bậc, bởi lẽ ân huệ mà Đức Chúa Trời ban tại đồi Gô-gô-tha lại dành cho chính những kẻ thù nghịch Ngài.”

b.4btiền công không kể là ơn, nhưng kể như là nợ: Một hệ thống dựa trên việc làm cố gắng đặt Đức Chúa Trời vào thế phải có nghĩa vụ với chúng ta, khiến Ngài nợ chúng ta ân huệ nhờ vào cách cư xử tốt đẹp của chúng ta. Theo lối suy nghĩ dựa trên việc làm, Đức Chúa Trời phải ban cho chúng ta sự cứu rỗi hoặc phước lành nhờ vào những việc làm tốt của chúng ta.

i.Ở đây, Đức Chúa Trời không ca ngợi sự lười biếng. “Sự đối lập không chỉ đơn thuần là giữa người làm việc và người không làm việc, mà là giữa người làm việc và người không làm việc nhưng có đức tin.”  (Murray)

c.5còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình: Sự công bình không bao giờ được kể cho người đến với Đức Chúa Trời dựa trên việc làm; thay vào đó, nó được ban cho người tin Đấng xưng người có tội (ungodly) là công bình.

d.tin Đấng xưng người có tội là công bình: Đây chính là những người mà Đức Chúa Trời xưng công bình – những người có tội (ungodly). Chúng ta có thể nghĩ rằng Đức Chúa Trời chỉ xưng công bình cho người công bình, nhưng nhờ những gì Chúa Giê-su đã làm trên thập tự giá, Đức Chúa Trời có thể xưng công bình cho những kẻ có tội (ungodly).

i.Không phải là Đức Chúa Trời hài lòng với tình trạng kẻ có tội (ungodly). của chúng ta. Chúng ta được xưng công bình không phải vì sự không tin kính của mình, mà là bất chấp sự không tin kính đó.

ii.Morris trích dẫn Denney: “Cụm từ đầy nghịch lý ‘Đấng xưng công bình cho kẻ có tội (ungodly), không hàm ý rằng sự xưng công bình chỉ là một điều hư cấu—dù là về mặt pháp lý hay bất kỳ khía cạnh nào khác—mà thay vào đó, nó là một phép lạ.”

e.5bthì đức tin của kẻ ấy kể là công bình cho mình: Cũng như Áp-ra-ham, đức tin của chúng ta cũng được kể là sự công bình. Đây không phải là sự sắp đặt đặc biệt chỉ dành riêng cho Áp-ra-ham. Chúng ta cũng có thể bước vào mối quan hệ này với Đức Chúa Trời.

i.Qua đó, chúng ta hiểu rằng không có hai con đường cứu rỗi – được cứu rỗi bởi việc làm qua việc giữ luật trong Cựu Ước và được cứu rỗi bởi ân điển qua đức tin trong Tân Ước. Tất cả những ai đã được cứu rỗi – dù là trong Cựu Ước hay Tân Ước – đều được cứu rỗi bởi ân điển qua đức tin, qua mối quan hệ yêu thương tin cậy với Đức Chúa Trời. Nhờ Giao Ước Mới, chúng ta có những lợi ích của sự cứu rỗi mà các thánh đồ trong Cựu Ước không có, nhưng chúng ta không có một phương thức khác của sự cứu rỗi.

3.(6-8) Đa-vít và phước lành của sự xưng công bình nhờ đức tin.

a.6Ấy vậy, vua Đa-vít cũng tỏ ra cái phước của người mà Đức Chúa Trời kể cho là công bình chẳng bởi việc làm, mà rằng: Vua Đa-vít trong Cựu Ước biết cảm giác của một tội nhân đáng tội là như thế nào. Ông biết sự nghiêm trọng của tội lỗi và sự tốt lành khi được tha thứ thực sự. Ông biết phước lành của người được Đức Chúa Trời ban cho sự công bình không bởi việc làm. Nếu Đa-vít bị phán xét chỉ dựa trên việc làm, thì Đa-vít hẳn đã bị Đức Chúa Trời công bình kết án; tuy nhiên, ông biết từ kinh nghiệm bản thân rằng Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình, được khỏa lấp tội lỗi mình! (Thi thiên 32:1)

i.“Không một tội nhân nào, dù cố gắng đến mấy, có thể tự mình cất đi tội lỗi của chính mình và trong sạch trở lại, không còn mặc cảm tội lỗi. Không một khoản tiền nào, không một khoa học nào, không một kỹ năng sáng tạo nào, không một đội quân hàng triệu người nào, hay bất kỳ quyền lực trần gian nào khác có thể cất bỏ khỏi người tội lỗi một tội lỗi nhỏ và sự mặc cảm tội lỗi của nó. Một khi đã phạm phải, mọi tội lỗi và sự mặc cảm tội lỗi sẽ bám chặt lấy người tội lỗi như chính cái bóng của họ, bám chặt đến muôn đời trừ khi Chúa cất bỏ chúng đi.” (Lenski)

b.7Phước thay cho kẻ, lỗi mình được tha thứ, Tội mình được che đậy! 8 Phước thay cho người mà Chúa chẳng kể tội lỗi cho! Đa-vít đồng quan điểm với Áp-ra-ham về ý niệm sự công bình được kể cho – một sự tốt lành được ban cho chứ không phải do công lao mà chính mình kiếm được.

i.“Những kẻ đối nghịch chúng ta, tức những người theo phe Giáo hoàng, phản đối việc quy sự công chính của Đấng Christ cho chúng ta; họ bắt bẻ chính từ ngữ này… thế mà Sứ đồ lại dùng từ đó đến mười lần trong chương này.” (Poole)

c.7Phước thay cho kẻ ấy: Trong Thi Thiên được trích dẫn (Thi Thiên 32:1-2), Đa-vít nói về phước hạnh dành cho người được thanh tẩy bởi được kể là công bình, chứ không phải cho người được xưng công bình nhờ việc làm. Điều này tập trung vào những gì Chúa Trời ban cho chúng ta (sự công bình của Chúa Giê-xu), thay vì những gì chúng ta làm cho Ngài.

4.(9-12) Áp-ra-ham được kể là người công bình trước khi ông chịu phép cắt bì; vì vậy ông không được kể là người công bình phép cắt bì.

a.9Vậy, lời luận về phước đó chỉ chuyên về kẻ chịu cắt bì mà thôi sao? Cũng cho kẻ không chịu cắt bì nữa. Vả, chúng ta nói rằng đức tin của Áp-ra-ham được kể là công bình cho người. Nếu chúng ta được Đức Chúa Trời kể là công bình bởi đức tin, chứ không phải bởi phép cắt bì (hoặc bất kỳ nghi lễ nào khác), thì phước lành được đề cập trong Rô-ma 4:7 có thể được ban cho những người ngoại bang chưa chịu phép cắt bì bởi đức tin.

b.10 Nhưng được kể thế nào? Khi người đã chịu cắt bì rồi, hay là khi người chưa chịu cắt bì? Ấy không phải sau khi người chịu cắt bì, bèn là trước. Áp-ra-ham được kể là người công bình trong Sáng thế ký 15:6. Ông không nhận được giao ước cắt bì cho đến Sáng thế ký 17, tức là ít nhất 14 năm sau đó. Vì vậy, sự công bình của ông không dựa trên phép cắt bì, mà dựa trên đức tin.

c.11Vậy, người đã nhận lấy dấu cắt bì, như dấu ấn của sự công bình mà người đã được bởi đức tin, khi chưa chịu cắt bì; hầu cho làm cha hết thảy những kẻ tin mà không chịu cắt bì, đặng họ được kể là công bình: Thật vậy, Áp-ra-ham—cha của tất cả những người có đức tin—đã được kể là công bình ngay khi ông chưa chịu phép cắt bì! Vậy thì, làm sao có thể nói (như một số người thời Phao-lô đã làm) rằng người ngoại phải chịu phép cắt bì thì Đức Chúa Trời mới kể họ là công bình?

i.Đối với người Giu-đa thời Phao-lô, ý nghĩa của việc cắt bì không chỉ dừng lại ở khía cạnh xã hội. Đó là điểm khởi đầu cho một đời sống tuân giữ Luật Môi-se: “Tôi lại rao cho mọi người chịu cắt bì rằng, họ buộc phải vâng giữ trọn cả luật pháp” (Ga-la-ti 5:3).

d.12và cũng làm cha những kẻ chịu cắt bì, tức là cha những kẻ không những chịu cắt bì thôi, lại cũng noi theo dấu đức tin mà Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã có trước khi chưa chịu cắt bì vậy: Người Giu-đa thời Phao-lô cho rằng phép cắt bì chứng tỏ họ là hậu duệ đích thực của Áp-ra-ham. Phao-lô khẳng định rằng, để được gọi Áp-ra-ham là tổ phụ chúng ta, người ta phải bước đi theo dấu chân đức tin mà chính Áp-ra-ham đã bước đi.

i.“Áp-ra-ham là tổ phụ chúng ta” là một cụm từ quan trọng, một cụm từ mà người Giu-đa cổ đại hết sức trân trọng. Họ không cho phép người ngoại đạo đã chịu phép cắt bì cải đạo sang Giu-đa giáo gọi Áp-ra-ham là “tổ phụ chúng ta” trong hội đường. Người ngoại đạo cải đạo phải gọi Áp-ra-ham là “cha của anh, của bạn”, và chỉ những người Giu-đa chính gốc mới được gọi Áp-ra-ham là “tổ phụ chúng ta”. Phao-lô bác bỏ sự phân biệt đó và khẳng định rằng, nhờ đức tin, tất cả mọi người đều có thể gọi: Áp-ra-ham là “tổ phụ chúng ta”.

ii.Chắc hẳn những độc giả Giu-đa đọc bức thư này đã rất ngạc nhiên khi thấy Phao-lô gọi Áp-ra-ham là tổ phụ của những người không chịu phép cắt bì! Đức tin, chứ không phải phép cắt bì, mới là mối liên hệ thiết yếu với Áp-ra-ham. Có đức tin của Áp-ra-ham (cùng sự công bình được ban cho ông nhờ đức tin đó) quan trọng hơn nhiều so với việc có phép cắt bì của Áp-ra-ham.

iii.William Barclay giải thích rằng các thầy dạy Giu-đa thời Phao-lô có một câu nói: “Điều gì được chép về Áp-ra-ham thì cũng được chép về con cháu ông”, nghĩa là những lời hứa dành cho Áp-ra-ham cũng mở rộng đến con cháu ông. Phao-lô hoàn toàn đồng ý với nguyên tắc này, và mở rộng nguyên tắc được xưng công bình bởi đức tin cho tất cả con cháu thuộc linh của Áp-ra-ham, những người tin, “12bhọ cũng noi theo dấu đức tin mà Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã có trước khi chưa chịu cắt bì vậy“.

5.(13-15) Lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham dựa trên nguyên tắc đức tin, chứ không phải luật pháp hay việc làm.

a.13 Vả, ấy chẳng phải bởi luật pháp mà có lời hứa cho Áp-ra-ham hoặc dòng dõi người lấy thế gian làm gia nghiệp, bèn là bởi sự công bình của đức tin: Vì tất cả những giao kèo của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham, I-sác và Gia-cốp đều diễn ra trước khi Luật Môi-se được ban hành, nên chúng ta không thể nói rằng những lời hứa đó dựa trên luật pháp. Thay vào đó, những lời hứa đó dựa trên việc Đức Chúa Trời tuyên bố Áp-ra-ham là người công bình nhờ đức tin.

i.“Đức tin là nền tảng của phước lành từ Chúa. Abraham quả thật là một người được Chúa ban phước, nhưng ông trở thành người kế tự thế gian dựa trên một nguyên tắc hoàn toàn khác – đơn giản đó là đức tin.” (Newell)

b.13blời hứa cho Áp-ra-ham … là bởi sự công bình của đức tin 14 Vì, nếu bởi luật pháp mà được hưởng gia nghiệp, thì đức tin ra vô ích, lời hứa cũng bỏ rồi: Luật pháp không thể đưa chúng ta vào những phước lành trong lời hứa của Chúa. Điều này không phải vì luật pháp xấu, mà vì chúng ta không thể nào vâng giữ trọn được luật pháp.

c.15vì luật pháp sanh ra sự giận: Việc chúng ta không thể tuân giữ luật pháp (vì phạm luật pháp của chúng ta) có nghĩa là luật pháp về cơ bản trở thành phương tiện thể hiện cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đối với chúng ta, nhất là khi ta coi đó là nguyên tắc để được xưng công bình và để tương giao với Ngài.

d.15bsong đâu không có luật pháp, thì đó cũng không có sự phạm luật pháp: Làm sao Phao-lô lại có thể nói như vậy? Bởi vì “’Vi phạm’ (transgression) là từ chính xác để chỉ hành động vượt qua một ranh giới, cụ thể là hành động vi phạm một điều răn đã được quy định rõ ràng” (Morris). Nơi nào không có ranh giới, thì ở đó không có sự vi phạm thực sự.

i.Có tội lỗi không nằm ở việc “vi phạm” Luật pháp Môi-se. Gốc rễ của tội lỗi không nằm ở việc vi phạm luật pháp, mà là ở việc phá vỡ lòng tin với Chúa; ở việc chối bỏ mục đích yêu thương, quan tâm của Ngài trong mỗi điều răn của Ngài. Trước khi A-đam phạm tội, ông đã phá vỡ lòng tin với Chúa – do đó, kế hoạch cứu chuộc của Chúa tập trung vào mối quan hệ của tình yêu tin cậy – đức tin – thay vì việc tuân giữ luật pháp. Khi chúng ta xây dựng mối tương giao với Đức Chúa Trời dựa trên việc tuân giữ luật pháp thay vì tình yêu dựa trên sự tin cậy, chúng ta đang hành động đi ngược lại toàn bộ kế hoạch của Ngài.

B.Noi theo gương Áp-ra-ham.

1.(16) Sự xưng công bình theo ân điển, nhờ đức tin.

16Vậy nên, bởi đức tin mà người ta trở nên kẻ ăn gia tài, hầu cho sự ấy được bởi ân điển, và cho lời hứa được chắc chắn cho cả dòng dõi Áp-ra-ham, chẳng những cho dòng dõi dưới quyền luật pháp, mà cũng cho dòng dõi có đức tin của Áp-ra-ham, là tổ phụ hết thảy chúng ta.

BHĐ 16Cho nên, bởi đức tin mà lời hứa do ân điển được bảo đảm cho cả dòng dõi Áp-ra-ham, không những cho dòng dõi dưới quyền luật pháp mà cho cả dòng dõi đức tin của Áp-ra-ham, cũng là tổ phụ của tất cả chúng ta

a.Điều đó bởi đức tin phù hợp với ân điển (dịch từ bản tiếng anh): Đức tin có mối liên hệ với ân điển cũng giống như việc làm có mối liên hệ với luật pháp. Ân điển và luật pháp là những nguyên tắc, còn đức tin và việc làm là phương tiện để chúng ta theo đuổi những nguyên tắc đó trong mối quan hệ của mình với Đức Chúa Trời.

i.Nói một cách chính xác về mặt kỹ thuật, đức tin đơn thuần thôi không cứu chúng ta. Chúng ta được cứu rỗi bởi ân điển của Chúa, và ân điển được tiếp nhận bởi đức tin.

b.Đó là bởi đức tin: Sự cứu rỗi là bởi đức tin chứ không phải điều gì khác. Chúng ta chỉ có thể nhận được sự cứu rỗi nhờ đức tin, trên nền tảng của ân điển. Ân điển không thể đạt được nhờ vào việc làm—dù là việc làm trong quá khứ, hiện tại hay những việc hứa hẹn sẽ thực hiện. Điều này là bởi vì, theo định nghĩa, ân sủng được ban tặng mà không phụ thuộc vào bất kỳ điều gì ở người nhận nó.

i.“Ân điển và đức tin tương đồng và sẽ cùng đi trên một cỗ xe, nhưng ân điển và công đức lại trái ngược nhau và kéo theo những con đường trái ngược nhau, vì vậy Đức Chúa Trời không chọn cách kết hợp chúng lại với nhau.” (Spurgeon)

c.bởi đức tin mà lời hứa do ân điển được bảo đảm cho cả dòng dõi Áp-ra-ham: Lời hứa chỉ có thể bảo đảm nếu nó dựa trên ân điển. Nếu luật pháp là nền tảng cho sự cứu rỗi của chúng ta, thì sự cứu rỗi ấy sẽ tùy thuộc vào việc chúng ta tuân giữ luật pháp như thế nào – mà chẳng ai có thể giữ luật pháp đủ trọn vẹn để được cứu nhờ đó cả. Một lời hứa cứu rỗi dựa trên luật pháp sẽ không bao giờ có thể bảo đảm được.

i.Nếu lời hứa “được ban cho bởi luật pháp, thì nó sẽ không bảo đảm và không đáng tin cậy, bởi vì con người là yếu đuối, không có khả năng thực hiện nó.” (Poole)

d.mà cho cả dòng dõi đức tin của Áp-ra-ham, cũng là tổ phụ của tất cả chúng ta: Nếu mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời là theo ân điển (không phải theo phép cắt bì hay việc giữ luật), thì mối quan hệ đó dành cho những người có đức tin của Abraham, ngay cả khi họ không thuộc dòng dõi của ông.

i.Một người ngoại đạo có thể nói: “Tôi không phải là người Giu-đa, tôi không thuộc về luật pháp; nhưng tôi thuộc về đức tin của Áp-ra-ham,” và người đó sẽ được cứu rỗi giống như một tín đồ Giu-đa tin vào Chúa Giê-su.

e.Áp-ra-ham, cũng là tổ phụ của tất cả chúng ta: Sự ứng nghiệm lời hứa trong Sáng-thế Ký 17:4–5 được thể hiện rõ ràng không chỉ nơi dòng dõi của Áp-ra-ham qua Y-sác, mà hơn hết là ở vai trò của ông như là cha của tất cả những ai có đức tin—và những người tin này đến từ mọi dân tộc dưới bầu trời.

2.(17-18) Sức mạnh ban sự sống của Đức Chúa Trời mà Áp-ra-ham tin tưởng.

a.17y như lời chép rằng: Ta đã lập ngươi làm cha nhiều dân tộcSaSt 17:5

: Cũng như cần một công việc ban sự sống mang tính siêu nhiên để biến Áp-ra-ham thành cha về thể xác của nhiều dân tộc, thì cũng cần một công việc ban sự sống siêu nhiên để biến ông thành cha về thuộc linh của nhiều dân tộc.

b.17bthật người là cha chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, tức là Đấng người đã tin, là Đấng ban sự sống cho kẻ chết, gọi những sự không có như có rồi: Những công trình của Đức Chúa Trời này chứng tỏ khả năng của Ngài trong việc coi những điều không hiện hữu (như sự công bình của chúng ta) như thể chúng hiện hữu (như việc Ngài coi chúng ta là người công bình).

i.Nếu Đức Chúa Trời có thể làm cho tử cung đã chết của Sarah sống lại, thì Ngài cũng có thể kêu gọi những người chết trong tội lỗi và sự vi phạm (Ê-phê-sô 2:1) đến sự sống mới trong Chúa Giê-su.

ii.“Tôi được an ủi rất nhiều khi Chúa nói về tôi là người công bình, được xưng công bình, được vinh hiển, nên thánh, trong sạch và gọi là thánh. Chúa có thể nói về những điều như vậy trước khi chúng tồn tại, bởi vì Ngài biết chúng sẽ tồn tại.” (Smith)

c.18Người cậy trông khi chẳng còn lẽ trông cậy, cứ tin, và trở nên cha của nhiều dân tộc, theo lời đã phán cho người rằng: Dòng dõi ngươi sẽ như thể ấy: Quyền năng ban sự sống này đã được hoàn thành nơi Áp-ra-ham khi ông tin. Quyền năng ấy thể hiện rõ ràng cả về mặt tự nhiên và thuộc linh.

i.Tấm gương của Áp-ra-ham cũng giúp chúng ta hiểu bản chất của đức tin. Việc Áp-ra-ham có con trai là Y-sác là một phép lạ, nhưng đó không phải là sự thụ thai đồng trinh. Đức tin của Áp-ra-ham không có nghĩa là ông không làm gì cả và chỉ chờ đợi Chúa tạo ra một đứa con trong bụng Sa-ra. Áp-ra-ham và Sa-ra đã có quan hệ vợ chồng và tin tưởng vào Chúa để có được kết quả kỳ diệu. Điều này cho chúng ta thấy rằng đức tin không có nghĩa là không làm gì cả, mà là làm mọi việc với lòng tin tưởng và dựa vào Chúa.

ii.“Tất cả những người tin thật, giống như Áp-ra-ham, đều vâng phục. Vâng phục là đức tin được thể hiện qua hành động. Bạn phải bước theo dấu chân đức tin của tổ phụ Áp-ra-ham. Đức tin của ông không đứng yên, nó đã tiến bước; và bạn cũng phải tiến bước bằng cách vâng phục Đức Chúa Trời vì bạn tin Ngài. Đức tin không kèm theo việc làm là đức tin chết, và sẽ không thể xưng công bình cho ai cả.” (Spurgeon)

iii.“Giác quan điều chỉnh trí tưởng tượng, lý trí điều chỉnh giác quan, nhưng đức tin điều chỉnh cả hai. Giác quan nói rằng điều đó sẽ không xảy ra; lý trí nói rằng điều đó không thể xảy ra; còn đức tin bảo rằng điều đó có thể xảy ra và sẽ xảy ra, bởi vì tôi có một lời hứa về điều ấy.” (Trapp)

3.(19-22) Bản chất đức tin của Áp-ra-ham.

a.19 Người thấy thân thể mình hao mòn, vì đã gần đầy trăm tuổi, và thấy Sa-ra không thể sanh đẻ được nữa, song đức tin chẳng kém: Đức tin của Áp-ra-ham vốn mạnh mẽ nhưng còn càng mạnh mẽ thêm. Ông càng mạnh mẽ trong đức tin.

i.Ý tưởng dường như là đức tin của Áp-ra-ham được củng cố; nhưng Phao-lô cũng có thể muốn nói rằng Áp-ra-ham được củng cố bởi đức tin của mình – chắc chắn cả hai đều đúng.

ii.Chúng ta cần được củng cố đức tin như thế nào ! “Hỡi anh em thân mến, dù đức tin chỉ nhỏ bé thôi cũng đủ cứu rỗi bạn nếu đó là đức tin chân thật; tuy nhiên, có nhiều lý do khiến bạn nên tìm cách gia tăng đức tin ấy.” (Spurgeon)

iii.Spurgeon biết rằng các mục sư và nhà thuyết giáo đặc biệt cần được củng cố thêm trong đức tin. Đôi khi, ông chia sẻ ngay trên bục giảng về những cuộc đấu tranh nội tâm của chính mình trong vấn đề này, nhưng cũng muốn khẳng định rõ ràng rằng không bao giờ được phép dung túng cho những sự hoài nghi hay lo sợ đó: “Thưa quý thính giả, bất cứ khi nào thấy chúng tôi – những người làm công tác giảng dạy – tỏ ra nghi ngờ hay sợ hãi, xin đừng thương hại mà hãy quở trách chúng tôi. Chúng tôi không có quyền lưu lại nơi Lâu đài Nghi ngờ (Doubting Castle). Xin đừng tìm đến thăm chúng tôi ở đó. Hãy noi gương chúng tôi chừng nào chúng tôi còn bước theo Đấng Christ; nhưng nếu chẳng may chúng tôi sa vào Vũng Lầy Tuyệt Vọng (Slough of Despond) đáng sợ kia, hãy đến và kéo chúng tôi lên – dù có phải túm lấy tóc chúng tôi đi nữa – nhưng tuyệt đối đừng để chính mình cũng sa chân vào đó.” (Spurgeon)

iv.“Tôi không nghĩ rằng sẽ có nhiều người được biến đổi nếu chúng ta không trông đợi Đức Chúa Trời ban phước cho Lời Ngài và tin chắc rằng Ngài sẽ làm điều đó. Chúng ta đừng ngạc nhiên hay kinh ngạc khi nghe tin có một hay vài chục người được biến đổi; trái lại, điều đáng kinh ngạc phải là việc hàng ngàn người không được biến đổi khi họ nghe những lẽ thật thiêng liêng ấy, và khi chúng ta cầu xin Đức Thánh Linh tác động trên Lời Ngài bằng quyền năng thiên thượng. Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho chúng ta tùy theo đức tin của mình. Đó là quy tắc trong vương quốc của Ngài: ‘Điều gì xảy ra cho ngươi sẽ tùy theo đức tin của ngươi.’ Hỡi Chúa, xin ban cho các tôi tớ của Ngài thêm đức tin! Xin cho chúng con tin tưởng Ngài một cách vững chắc!” (Spurgeon)

b.BD2011 19Ðức tin của ông không hề suy giảm, mặc dù thân thể ông coi như đã chết, vì lúc ấy ông đã gần một trăm tuổi, và dạ bà Sa-ra không còn thể sinh con: Trong đức tin, Áp-ra-ham không nhìn vào hoàn cảnh (thân thể ông và việc tử cung của Sa-ra đã chết) mà ông nhìn vào lời hứa của Đức Chúa Trời.

i.Trong Rô-ma 4:19, có sự không chắc chắn về mặt văn bản liệu chúng ta nên đọc là “ông coi thân thể mình như đã chết” hay là “ông không coi trọng thân thể mình”. Cả hai cách hiểu đều có thể đúng, mặc dù cách hiểu thứ hai có vẻ hợp lý hơn.

c.20 Người chẳng có lưỡng lự hoặc hồ nghi về lời hứa Đức Chúa Trời, nhưng càng mạnh mẽ trong đức tin, và ngợi khen Đức Chúa Trời: Đức tin của ông không hề lung lay; và điều đó làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Dù là một thử thách lớn, Áp-ra-ham vẫn kiên định trong đức tin.

i.“Khi không có vấn đề gì gây tranh cãi, quả thực—như tôi đã từng nói—không ai phủ nhận quyền năng tuyệt đối của Đức Chúa Trời; thế nhưng, ngay khi có điều gì đó cản trở tiến trình thực hiện lời hứa của Ngài, chúng ta lại hạ thấp quyền năng của Ngài xuống khỏi vị thế tối cao.” (Calvin)

d.21 vì tin chắc rằng điều chi Đức Chúa Trời đã hứa, Ngài cũng có quyền làm trọn được. 22 Cho nên đức tin của người được kể cho là công bình: Đức tin của Áp-ra-ham đến từ việc ông hoàn toàn tin chắc vào khả năng của Đức Chúa Trời trong việc thực hiện những gì Ngài đã hứa.

i.Có phải Đức Chúa Trời của bạn quá nhỏ bé? Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham đã có thể thực hiện những gì Ngài đã hứa, và Áp-ra-ham hoàn toàn tin chắc điều đó.

ii.Một số người không đến với Chúa Giê-su hoặc không tiến xa hơn với Ngài vì họ không hoàn toàn tin chắc rằng những gì Ngài đã hứa, Ngài cũng có thể thực hiện được. Họ nghĩ: “với người khác thì được đấy, nhưng với tôi sẽ không được.” Suy nghĩ này là một sự tấn công của ma quỷ vào đức tin và phải bị bác bỏ.

e.BD2011 21bÐức Chúa Trời có khả năng làm thành những gì Ngài đã hứa: Loại đức tin này nhìn thấy công việc của Chúa đã được hoàn thành. Nó nhìn thấy công việc của Chúa được hoàn thành trong phạm vi trước mắt (Isaac được sinh ra để ứng nghiệm lời hứa) và trong phạm vi đời đời (được kể là công bình cho người).

4.(23-25) Sự xưng công bình của Áp-ra-ham và của chúng ta.

a.23 Vả, ấy chẳng phải chỉ vì một mình người mà có chép rằng đức tin người đã được kể cho là công bình: Đức Chúa Trời không chỉ tuyên bố Áp-ra-ham là người công bình nhờ đức tin; ông là một tấm gương mà chúng ta được kêu gọi noi theo – điều đó cũng dành cho chúng ta. Niềm tin của Phao-lô thật vinh quang: Điều đó sẽ được tính cho cả chúng ta, những người tin; điều này không chỉ dành cho Áp-ra-ham, mà còn dành cho chúng ta nữa.

b.24 nhưng cũng vì chúng ta nữa, đức tin sẽ được kể là công bình cho chúng ta, là kẻ tin Đấng đã làm cho Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta, sống lại từ trong kẻ chết: Khi nói về đức tin và đức tin cứu rỗi nơi Chúa Giê-su, điều quan trọng là phải nhấn mạnh rằng chúng ta muốn nói đến niềm tin vào công việc của Ngài trên thập tự giá (25 Ngài đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta) và sự chiến thắng của Ngài trên tội lỗi và sự chết (25bvà sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta) là điều cứu rỗi chúng ta. Có nhiều đức tin giả dối không bao giờ có thể cứu rỗi, và chỉ có đức tin vào những gì Chúa Giê-su đã hoàn thành trên thập tự giá và qua ngôi mộ trống mới có thể cứu rỗi chúng ta.

  • Đức tin vào các sự kiện lịch sử trong cuộc đời Chúa Giê-xu sẽ không đem lại sự cứu rỗi.
  • Đức tin vào vẻ đẹp trong cuộc đời Chúa Giê-xu sẽ không đem lại sự cứu rỗi.
  • Đức tin vào tính xác thực hay sự tốt lành trong những lời dạy của Chúa Giê-xu sẽ không đem lại sự cứu rỗi.
  • Đức tin vào thần tính và thẩm quyền làm Chúa của Ngài sẽ không đem lại sự cứu rỗi.
  • Chỉ có đức tin vào những gì CHÚA GIÊ-XU thực sự đã làm cho chúng ta trên thập tự giá mới đem lại sự cứu rỗi. (ND: Chúa Giê-xu, Đấng bước vào dòng lịch sử, Ngôi Lời trở nên xác thịt, Đấng không hề phạm tội, Đức Chúa Trời trong xác thịt, đã chết trên thập tự giá)

c.25bvà sống lại vì sự xưng công bình của chúng ta: Sự phục sinh chiếm một vị trí thiết yếu trong sự cứu chuộc của chúng ta, bởi vì nó chứng tỏ Đức Chúa Cha hoàn toàn hài lòng với công việc của Con Ngài trên thập tự giá. Điều đó chứng minh rằng những gì Chúa Giê-su đã làm trên thập tự giá thực sự là một của lễ hoàn hảo do Đấng vẫn luôn giữ vẹn sự hoàn hảo dâng lên, ngay cả khi Ngài đã gánh lấy tội lỗi của thế gian.

i.25 Ngài đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta: Từ Hy Lạp cổ được dịch là “giao nộp” (paradidomi) được dùng để chỉ việc bỏ tù người ta hoặc giao họ cho công lý. “Ở đây, nó nói về hành động xét xử của Đức Chúa Cha giao nộp Đức Chúa Con cho công lý, đòi hỏi sự trả giá cho tội lỗi của con người.” (Wuest)

ii.”Sự phục sinh của Chúa Giê-su luôn bao gồm cái chết hy sinh của Ngài, nhưng điều đó lại làm nổi bật lên tính toàn vẹn của cái chết ấy. Nếu cái chết đã giữ Ngài lại, thì Ngài đã thất bại; nhưng vì Ngài đã được phục sinh từ cõi chết, nên sự hy sinh của Ngài đã đủ; Đức Chúa Trời đã xác nhận điều đó bằng cách khiến Ngài sống lại.” (Lenski)

iii.“Đấng Christ đã làm trọn công việc công bình, để chúng ta được xưng công bình, và được cứu rỗi qua sự chết và sự thương khó của Ngài, nhưng hiệu lực và sự trọn vẹn của công trình ấy đối với chúng ta lại phụ thuộc vào sự phục sinh của Ngài… Câu Kinh Thánh này là bản tóm tắt của toàn bộ Tin Mừng.” (Poole)

iv.Trong chương này, Phao-lô đã chứng minh rõ ràng rằng Cựu Ước không hề mâu thuẫn với phúc âm về sự cứu rỗi bởi ân điển qua đức tin. Trái lại, phúc âm là sự ứng nghiệm của Cựu Ước, và Áp-ra-ham – người được xưng công bình bởi đức tin – là hình mẫu của chúng ta.

https://enduringword.com/bible-commentary/romans-4/