Công bình miễn phí bởi ân điển của Ngài

Được xưng công bình một cách miễn phí bởi ân điển của Ngài

A.Sự công bình trong phán quyết của Đức Chúa Trời.

1.(1-2) Ưu điểm của dân tộc Giu-đa.

a.1 Vậy thì, sự trổi hơn của người Giu-đa là thể nào, hay là phép cắt bì có ích gì chăng? BD2020 ¹ Vậy thì, ưu thế của người Giu-đa là gì? Hay lợi ích của việc cắt bì là chi? Phao-lô đã giải thích rõ ràng trong Rô-ma chương 2 rằng việc sở hữu luật pháp hay phép cắt bì sẽ không cứu được người Giu-đa. Nếu đúng như vậy, thì lợi thế của việc trở thành “dân được Đức Chúa Trời tuyển chọn” là gì?

i.Suy cho cùng, nếu Đức Chúa Trời không thiên vị ai cả (Rô-ma 2:11), thì việc là người Giu-đa có ích lợi gì?

b.2Ích lớn đủ mọi đàng. Trước hết là điều nầy: Ấy là lời phán (Lời sấm truyền |λόγιον (logion) oracles) của Đức Chúa Trời đã phó cho dân Giu-đa: Phao-lô biết rằng Đức Chúa Trời đã ban cho dân Giu-đa rất nhiều ân huệ. Đặc biệt, Ngài đã giao phó cho họ những lời sấm truyền của Đức Chúa Trời, —tức là sự mặc khải được ghi chép lại của Ngài trước thời Chúa Giê-xu. Ngài đã ban Lời Ngài cho dân Giu-đa, và đó là một món quà vô cùng quý giá.

i.“Đây là đặc ân cao quý nhất của họ, rằng họ là người giữ thư viện của Chúa, rằng kho báu thiên đàng này được giao cho họ.” (Trapp)

ii.Sau đó, Phao-lô sẽ nói rõ hơn về lợi thế của người Giu-đa trong Rô-ma 9:4, giải thích rằng Y-sơ-ra-ên cũng được nhận làm con nuôi, được vinh quang, được lập giao ước, được ban luật pháp, được phục vụ Đức Chúa Trời và được ban những lời hứa.

2.(3-4) Sự vô tín của người Giu-đa không làm cho Đức Chúa Trời sai.

a.3Mà làm sao! Nếu một vài người trong bọn họ không thành tín, thì sự không thành tín của họ có làm cho sự thành tín của Đức Chúa Trời ra hư không sao? Việc toàn thể dân Giu-đa đến thời điểm đó đã chối bỏ Phúc Âm không có nghĩa là lòng thành tín của Đức Chúa Trời đối với họ là vô ích. Cũng không có nghĩa là công việc của Đức Chúa Trời ra hư không hay không có hiệu quả.

i.“Tôi phải nói, cũng như Phao-lô rằng, ‘Nếu một số người không tin thì sao?’ Điều này không có gì mới; vì luôn có những người chối bỏ sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Vậy thì sao? Tốt hơn hết là bạn và tôi nên tiếp tục tin, tự mình thử nghiệm, chứng minh sự thành tín của Đức Chúa Trời, và sống trong Đấng Christ, Chúa chúng ta, mặc dù chúng ta thấy một nhóm người hoài nghi khác, rồi một nhóm khác, và một nhóm khác nữa, và cứ thế tiếp tục vô tận. Phúc âm không phải là sự thất bại, như nhiều người trong chúng ta đều biết.” (Spurgeon)

b.4Chẳng hề như vậy! Thà xưng Đức Chúa Trời là thật và loài người là giả dối, như có chép rằng: Ấy vậy Chúa sẽ được xưng công bình trong lời phán của Ngài, và sẽ được thắng khi chịu xét đoán. [Thi Tv 51:4Thi Tv 51:4Thi Tv 51:4]Thi Tv 51:4

: Phao-lô nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời sẽ được xưng công bình trong mọi việc Ngài làm. Cuối cùng, sự kiện sẽ chứng minh rằng ngay cả sự không công bình của chúng ta bằng cách nào đó cũng đã bày tỏ sự công bình và vinh quang của Ngài, dù chỉ là trong sự phán xét.

i.“Nếu có ai nói rằng lời hứa của Đức Chúa Trời đã không thành hiện thực đối với mình, thì hãy tự xét lại lòng mình và đường lối của mình; người ấy sẽ nhận ra rằng mình đã rời xa con đường duy nhất mà qua đó Đức Chúa Trời có thể làm trọn lời hứa của Ngài một cách phù hợp với sự thánh khiết và chân thật của Ngài.” (Clarke)

ii.Spurgeon nói về việc hãy để Chúa là chân lý nhưng mọi người đều dối trá: “Đây là một cách diễn đạt kỳ lạ, mạnh mẽ; nhưng không hề quá mạnh mẽ. Nếu Chúa phán một điều, và mọi người trên thế gian nói một điều khác, thì Chúa là chân lý, còn mọi người đều giả dối. Chúa phán sự thật và không thể nói dối. Chúa không thể thay đổi; lời của Ngài, cũng như chính Ngài, là bất biến. Chúng ta phải tin vào sự thật của Đức Chúa Trời ngay cả khi không ai khác tin vào điều đó. Sự đồng thuận chung của dư luận chẳng có ý nghĩa gì đối với một Cơ Đốc nhân. Anh ta tin vào lời Đức Chúa Trời, và anh ta coi trọng điều đó hơn là ý kiến chung của loài người.”

3.(5) Một sự phản đối liên quan đến sự bất chính của con người và sự công bình của Đức Chúa Trời.

a.5Song nếu sự không công bình của chúng ta tỏ ra sự công bình của Đức Chúa Trời, thì sẽ nói làm sao? Phao-lô dẫn lại lập luận phản bác của một người đối lập: “Nếu sự không công bình của tôi bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, thì làm sao Ngài có thể phán xét tôi được? Xét cho cùng, tội lỗi của tôi góp phần mang lại cho Ngài vinh hiển lớn lao hơn—và điều đó thật tốt chứ sao”

b.5bKhi Đức Chúa Trời giáng cơn giận thì Ngài không công bình sao? Paul rất quen thuộc với lối suy nghĩ rằng: “Đức Chúa Trời nắm quyền kiểm soát mọi sự. Ngay cả sự gian ác của tôi cuối cùng cũng sẽ chứng minh sự công bình của Ngài. Vì vậy, nếu Ngài trút cơn thịnh nộ xuống tôi thì Ngài là Đấng không công bình, bởi lẽ tôi chỉ là một quân cờ trong tay Ngài mà thôi.”

i.Về mặt lý thuyết, ví dụ điển hình nhất về người có thể đặt ra câu hỏi này chính là Giu-đa. Bạn có thể hình dung Giu-đa biện hộ cho mình như thế nào không? “Lạy Chúa, con biết mình đã phản bội Chúa Giê-xu, nhưng Ngài đã dùng việc đó để tạo ra điều tốt lành. Thực ra, nếu con không làm điều đó thì Chúa Giê-xu đã chẳng bao giờ phải lên thập tự giá. Hành động của con thậm chí còn ứng nghiệm Kinh Thánh. Làm sao Ngài có thể xét đoán con được?” Câu trả lời dành cho Giu-đa có thể là: “Đúng vậy, Đức Chúa Trời đã dùng sự gian ác của ngươi, nhưng đó vẫn là sự gian ác của chính ngươi. Trong lòng ngươi hoàn toàn không có động cơ nào tốt lành hay trong sạch cả. Việc Đức Chúa Trời biến điều ác của ngươi thành điều thiện chẳng phải là công lao gì của ngươi. Ngươi vẫn là kẻ có tội trước mặt Đức Chúa Trời.”

c.5cTôi nói như cách người ta nói: Điều này không có nghĩa là Phao-lô không được Đức Thánh Linh soi dẫn và không có thẩm quyền sứ đồ. Thay vào đó, ông giải thích rằng chỉ khi ở cương vị con người – hơn nữa là một con người đã sa ngã – thì người ta mới dám chất vấn sự công bình của Đức Chúa Trời.

4.(6-8) Câu trả lời của Phao-lô cho lời phản đối được nêu ra.

a.6Chẳng hề như vậy! Nếu vậy thì Đức Chúa Trời đoán xét thế gian thể nào? Phao-lô dễ dàng bác bỏ câu hỏi của đối thủ. Nếu mọi việc đúng như đối thủ của ông đề xuất, thì Đức Chúa Trời không thể phán xét ai cả.

i.Đúng là Đức Chúa Trời sẽ dùng cả sự không công bình của con người để hoàn thành công việc của Ngài và mang lại sự ngợi khen cho danh Ngài – việc Giu-đa phản bội Chúa Giê-su là một ví dụ điển hình. Tuy nhiên, một phần trong cách Đức Chúa Trời tôn vinh chính Ngài trong tội lỗi của con người là bằng cách phán xét sự không công bình đó một cách công bình.

b.Đức Chúa Trời sẽ phán xét thế gian như thế nào? Cả Phao-lô lẫn độc giả của ông đều biết chắc rằng ngày phán xét sẽ đến, khi một số người sẽ được tha bổng và một số người sẽ bị kết án. Ông không cần phải tranh luận về điểm này; nó chỉ đơn giản là được hiểu trong nền văn hóa đó.

i.Phao-lô hiểu rằng Đức Chúa Trời sẽ phán xét thế gian, cả người Giu-đa lẫn dân ngoại. Nhiều người Giu-đa thời Phao-lô cho rằng Đức Chúa Trời sẽ kết án dân ngoại tội lỗi của họ, nhưng sẽ cứu người Giu-đa bất chấp tội lỗi của họ.

c.7Nhưng, nếu lẽ thật Đức Chúa Trời bởi sự nói dối của tôi mà được sự vinh hiển lớn hơn, thì sao tôi còn bị đoán xét như kẻ có tội?  Phao-lô nhắc lại lời phản đối của một người tưởng tượng: “Nếu Đức Chúa Trời muốn tôn vinh Ngài qua sự dối trá của tôi, thì làm sao Ngài có thể xét đoán tôi được, khi tôi dường như gián tiếp làm tăng vinh quang của Ngài?”

d.8Vậy thì, sao chúng ta không làm sự dữ cho được sự lành, như kẻ gièm pha đã cáo và quyết rằng chúng ta dạy điều ấy? Sự đoán phạt những người đó là công bình: Đây là một sự xuyên tạc giáo lý của Phao-lô về sự xưng công bình bởi đức tin, và là một sự mở rộng lời phản bác của người đặt câu hỏi tưởng tượng. Nếu bạn suy nghĩ đủ sâu về đối thủ của Phao-lô, bạn sẽ kết luận: “Hãy phạm tội càng nhiều càng tốt để Đức Chúa Trời được tôn vinh hơn nữa.” Điều này cho thấy một cách để xem xét một giáo lý là mở rộng ý nghĩa và hệ quả của nó và xem bạn sẽ đi đến đâu.

i.Dĩ nhiên, “hãy làm điều ác để điều thiện được đến” không phải là lời dạy của Phao-lô. Ông đã bị vu khống là dạy điều này. Tuy nhiên, vẫn có thể hiểu tại sao lời buộc tội này lại xuất phát từ việc Phao-lô rao giảng một cách tự do về sự tha thứ và sự cứu rỗi bởi ân điển qua đức tin nơi Chúa Giê-su, chứ không phải việc làm.

ii.Hầu hết các bài giảng của Cơ Đốc giáo đều rất xa rời phúc âm thật về ân điển miễn phí mà Phao-lô đã giảng đến nỗi không ai có thể vu khống rằng họ đã dạy “ hãy làm điều ác để điều lành có thể đến ”. Nếu đôi khi chúng ta thấy mình bị buộc tội rao giảng một phúc âm “quá cởi mở” và quá tập trung vào đức tin, ân điển và công việc của Chúa thì chúng ta thấy mình cũng giống như Phao-lô.

e.Sự lên án họ là chính đáng : Phao-lô thậm chí sẽ không đáp trả một sự bóp méo Phúc Âm vô lý như vậy. Ông chỉ nói về những người dạy những điều như vậy hoặc cáo buộc Phao-lô dạy họ, sự lên án của họ là chính đáng. Đức Chúa Trời đúng đắn khi lên án bất cứ ai dạy hoặc tin vào những điều như vậy.

i.Việc bóp méo món quà miễn phí vinh quang của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-su thành một cái cớ để phạm tội có lẽ là đỉnh điểm của sự đồi trụy của con người. Nó lấy đi món quà tuyệt vời nhất của Đức Chúa Trời, bóp méo và chế giễu nó. Sự bóp méo này tội lỗi đến nỗi Phao-lô để dành nó lại sau cùng, bởi vì nó vượt xa sự đồi trụy của người ngoại đạo (Rô-ma 1:24-32), vượt xa sự giả hình của người đạo đức giả (Rô-ma 2:1-5), và vượt xa sự tự tin sai lầm của người Giu-đa (Rô-ma 2:17-29).

B.Kết luận: Tội lỗi chung của nhân loại trước mặt Thiên Chúa.

1.(9) Tội lỗi của cả người Giu-đa và người Ngoại trước mặt Đức Chúa Trời.

a.9Thế nào! Chúng ta có điều gì hơn chăng? Chẳng có: Vì Phao-lô sinh ra và lớn lên trong dòng dõi Giu-đa (Phi-líp 3:4-6), nên khi ông nói “ chúng ta”, ông muốn nói “ chúng ta, những người Giu-đa”. Vấn đề là, về bản chất, người Giu-đa không xứng đáng với Đức Chúa Trời hơn người ngoại đạo hay người theo chủ nghĩa đạo đức. Phao-lô chứng minh rằng người ngoại đạo, người theo chủ nghĩa đạo đức, và người Giu-đa đều ở dưới tội lỗi và bị kết án.

b.9bvì chúng ta đã tỏ ra rằng người Giu-đa và người Gờ-réc thảy đều phục dưới quyền tội lỗi: Đây là một cụm từ mạnh mẽ. Nó nói về sự nô lệ của chúng ta đối với tội lỗi, nghĩa đen là “ bị bán cho tội lỗi ”. Theo bản chất, mọi người đều biết thế nào là nô lệ của tội lỗi, cả người Giu-đa lẫn người Hy Lạp.

i.“Dưới quyền lực của tội lỗi, nhưng chủ yếu là dưới cảm giác tội lỗi.” (Poole)

ii.Morris nhận định về cụm từ “dưới quyền tội lỗi“: “Ông xem tội lỗi như một bạo chúa cai trị, khiến những kẻ phạm tội phải chịu cảnh ‘dưới quyền’ nó (theo bản Jerusalem Bible là ‘dưới sự thống trị của tội lỗi’); họ không thể nào thoát khỏi ách thống trị đó.”

2.(10-18) Cựu Ước chứng kiến sự đồi trụy và tội lỗi chung của nhân loại.

10 như có chép rằng: Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không. 11 Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời.

12Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích;

Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không. [Thi Tv 14:1-3; RoRm 53:3] Thi Tv 14:1-3; RoRm 53:3

13 Họng chúng nó như huyệt mả mở ra;

Dùng lưỡi mình để phỉnh gạt; [Thi Tv 5:9]

Thi Tv 5:9

Dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang. [Thi Tv 140:3Thi Tv 140:3Thi Tv 140:3]

Thi Tv 140:3

14 Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng. [Thi Tv 10:7]

15 Chúng nó có chân nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu.

16 Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn,

17 Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an. [EsIs 59:7,8]

18 Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nó. [Thi Tv 36:1]

a.10Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không: Những trích dẫn từ Thi Thiên (Thi Thiên 14:1-3 ; 5:9 ; 140:3 ; 10:7 và 36:1) và từ Ê-sai 59:7-8 đều ủng hộ cho câu mở đầu này.

i.Phao-lô quan sát tình trạng của con người từ đầu đến chân. Ông bắt đầu từ phần đầu và đi dần xuống đôi chân. Warren Wiersbe gọi đoạn Kinh Thánh này là “bản chụp X-quang về người tội lỗi hư mất, từ đầu đến chân.”

ii.Cái nhìn về thân phận con người này thật ảm đạm. Vậy đâu là ý nghĩa của tất cả những điều đó? Sứ đồ Phao-lô muốn chúng ta hiểu rằng con người hoàn toàn bất lực trong việc tự cứu chính mình. Sự sa ngã đã ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong bản chất con người, và việc liệt kê các bộ phận cơ thể bị tha hóa bởi sự sa ngã chính là minh chứng cho điều này.

b.10Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không: Khi Đức Chúa Trời không tìm thấy ai là người công bình, đó là vì thực sự không có ai cả. Không phải là có những người mà Ngài đơn giản là không nhìn thấy. Ngoại trừ Chúa Giê-xu Christ, chưa từng có một người nào thực sự công bình. “Ngay cả A-đam cũng không phải là người công bình: Ông chỉ là người vô tội—không có sự hiểu biết về điều thiện và điều ác.” (Newell)

c.11Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời: Chúng ta tự lừa dối mình khi nghĩ rằng con người, tự bản thân họ, thực sự tìm kiếm Đức Chúa Trời. Nhưng chẳng phải mọi tôn giáo, nghi lễ và tập tục từ thuở sơ khai đều chứng tỏ rằng con người đang tìm kiếm Đức Chúa Trời hay sao? Hoàn toàn không phải vậy. Khi con người chủ động tìm kiếm, họ không tìm kiếm Đức Chúa Trời chân thật—tức Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh. Thay vào đó, họ lại tìm kiếm một thần tượng do chính mình tạo ra.

i.“Bạn đã thực hiện nghi thức thờ phượng này, nhưng lại chẳng hề tìm kiếm Đức Chúa Trời. Ta chán ngấy sự sùng đạo sáo rỗng ấy. Ta thấy điều đó ở khắp mọi nơi; đó không phải là sự tương giao với Đức Chúa Trời, cũng chẳng phải là sự đến gần Ngài; thực ra, Đức Chúa Trời hoàn toàn không hiện diện trong đó.” (Spurgeon)

d.Chúng cùng nhau trở nên vô ích : Từ “vô ích” mang ý nghĩa trái cây thối. Nó ám chỉ một thứ gì đó đã luôn tệ hại và do đó trở nên vô dụng.

e.13Họng chúng nó như huyệt mả mở ra: Với những trích dẫn từ Thi Thiên này, Phao-lô kêu gọi hầu như mọi bộ phận trên cơ thể con người phạm tội. Cổ họng, lưỡi, môi, miệng, chân mắt đều chứa đầy tội lỗi và sự phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời.

i.Chân chúng nhanh như cắt, sẵn sàng đổ máu: “Để biết thêm chi tiết, hãy đọc báo hàng ngày!” (Newell). Ví dụ, tờ Los Angeles Times đưa tin rằng năm 1992, số vụ giết người ở Quận Los Angeles đã đạt mức kỷ lục 800 vụ.

f.Không có sự kính sợ Đức Chúa Trời trước mắt họ: Điều này tóm tắt toàn bộ tư tưởng đó. Mọi tội lỗi và sự nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời đều bắt nguồn từ việc chúng ta thiếu lòng tôn kính đúng mực đối với Ngài. Ở đâu có tội lỗi, ở đó Không có sự kính sợ Đức Chúa Trời.

i.John Calvin nói về sự kính sợ Chúa : “Tóm lại, như dây cương để kiềm chế sự gian ác của chúng ta, thì khi thiếu nó, chúng ta cảm thấy tự do để chiều theo mọi loại dâm ô.”

3.(19-20) Tóm lại: luật pháp không thể cứu chúng ta khỏi tội lỗi và hình phạt mà nó đáng phải chịu.

19 Vả, chúng ta biết rằng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp, hầu cho miệng nào cũng phải ngậm lại, cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời;

a.Luật pháp nói gì : Phao-lô chỉ ra rằng sự mô tả khủng khiếp này về tội lỗi tột cùng của con người đến với chúng ta trong luật pháp ; và nó có mục đích dành cho những người sống dưới luật pháp, để làm im lặng mọi lời chỉ trích và chứng minh tội lỗi chung của nhân loại – rằng cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời.

i.“Chúng ta có thể nói thêm rằng, mặc dù tất cả những tệ nạn được liệt kê ở đây không được tìm thấy rõ ràng ở mỗi cá nhân, nhưng chúng có thể được quy cho bản chất con người một cách chính đáng và đúng đắn, như chúng ta đã quan sát.” (Calvin)

b.19Vả, chúng ta biết rằng những điều mà luật pháp nói, là nói cho mọi kẻ ở dưới luật pháp: Nếu Đức Chúa Trời phán như vậy với những người có luật pháp và cố gắng làm theo luật pháp, thì rõ ràng là không có xác thịt nào được xưng công bình trước mặt Ngài bởi những việc làm theo luật pháp.

i.Hãy nhớ rằng nhiều người Giu-đa thời Phao-lô đã lấy mọi đoạn Kinh Thánh Cựu Ước mô tả về điều ác và chỉ áp dụng cho dân ngoại – chứ không phải cho chính họ. Phao-lô nói rõ rằng Đức Chúa Trời phán với những người ở dưới luật pháp.

c.20vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi. Luật pháp không thể cứu chúng ta. Luật pháp không thể xưng công bình cho bất kỳ ai. Luật pháp hữu ích trong việc cho chúng ta biết về tội lỗi, nhưng không thể cứu chúng ta.

i.Từ thời A-đam và Ê-va, con người đã cố gắng biện minh cho mình bằng việc làm theo luật pháp. Trong Vườn Địa Đàng, A-đam đã cố gắng làm cho mình được đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng cách lấy lá vả che thân – và ông đã thất bại. Trong sách Gióp, sách cổ nhất trong Kinh Thánh, vấn đề được trình bày rõ ràng: làm sao một người có thể được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời? (Gióp 9:2). Đức Chúa Trời đã làm rõ một phần câu trả lời ở đây qua Phao-lô – câu trả lời không nằm ở việc làm lành, mà nằm ở việc làm theo luật pháp.

ii.Chúng ta cần hiểu sâu sắc điều này như thế nào – rằng không một xác thịt nào được xưng công bình bởi những việc làm theo luật pháp !

  • Điều này có nghĩa là luật pháp đã bị phá vỡ, giờ đây chỉ có thể kết án chúng ta – nó không bao giờ có thể cứu chúng ta.
  • Điều này có nghĩa là ngay cả khi chúng ta có thể bắt đầu tuân giữ luật pháp của Chúa một cách hoàn hảo thì điều đó cũng không thể bù đắp được sự bất tuân trong quá khứ hoặc xóa bỏ tội lỗi hiện tại.
  • Điều này có nghĩa là việc tuân giữ luật pháp KHÔNG PHẢI là cách Chúa cứu rỗi hay ban phước theo Giao ước Mới.

d.Vì luật pháp cho phép chúng ta biết tội lỗi : Cách diễn giải câu này của JB Phillip thật ấn tượng. Ông viết: “ Chính đường thẳng của Luật pháp cho thấy chúng ta gian dối đến mức nào.

i.“Để tránh trường hợp có ai đó cho rằng luật này là vô ích, ông tiếp tục chỉ ra tác dụng của nó, nhưng lại hoàn toàn trái ngược với ý định ban đầu của họ” (Poole)

C.Sự mặc khải về sự công bình của Đức Chúa Trời.

1.(21) Sự mặc khải về sự công bình.

21 Nhưng hiện bây giờ, sự công bình của Đức Chúa Trời, mà luật pháp và các đấng tiên tri đều làm chứng cho, đã bày tỏ ra ngoài luật pháp:

a.Nhưng bây giờ : Những lời này cung cấp sự chuyển tiếp vinh quang nhất từ sự phán xét của Rô-ma 3:20 sang sự biện minh của Rô-ma 3:21.

i.Nhưng giờ đây, chúng ta nói về sự mới mẻ trong công việc của Đức Chúa Trời nơi Chúa Giê-su Christ – đó thực sự là một Giao Ước Mới. Việc được Luật Pháp và các Tiên Tri làm chứng nhắc nhở chúng ta rằng công việc của Đức Chúa Trời trong thời xưa vẫn còn tiếp diễn.

b.Ngoài luật pháp : Luật pháp không thể cứu chúng ta, nhưng Đức Chúa Trời bày tỏ sự công bình sẽ cứu chúng ta, ngoài luật pháp. Đây chính là cốt lõi của kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-su Christ. Đó là sự cứu rỗi được ban cho ngoài luật pháp, ngoài việc chúng ta xứng đáng và xứng đáng, ngoài công trạng của chúng ta.

c.Được Luật Pháp và các Tiên Tri làm chứng : Sự công bình này không phải là điều mới lạ. Phao-lô không “phát minh” ra nó. Nó đã được tiên tri từ lâu, được Luật Pháp và các Tiên Tri làm chứng. Cựu Ước nói rằng sự công bình này sẽ đến.

d.Ngoài luật pháp : Sự công bình của Đức Chúa Trời không được bày tỏ ngoài Cựu Ước, nhưng được bày tỏ ngoài nguyên tắc luật pháp. Nó nằm ngoài mối quan hệ pháp lý với Đức Chúa Trời, dựa trên ý tưởng về việc kiếm được và xứng đáng được hưởng công đức trước mặt Ngài.

i.“Người Hy Lạp đặt lên hàng đầu cụm từ tuyệt vời này ngoài luật pháp (choris nomou) và điều này nêu rõ nhất sự tách biệt hoàn toàn của sự công bình của Thiên Chúa này khỏi bất kỳ luật lệ nào, bất kỳ công việc nào của con người, bất kể là gì.” (Newell)

ii.Sự công bình của Đức Chúa Trời không được ban cho chúng ta như một sự bù đắp cho khoảng trống giữa khả năng tuân giữ luật pháp của chúng ta và tiêu chuẩn hoàn hảo của Ngài. Sự công bình không được ban cho để bổ sung cho sự công bình của riêng chúng ta, mà được ban cho hoàn toàn tách biệt với sự công bình mà chúng ta đã cố gắng đạt được.

2.(22) Sự công bình này được truyền đạt cho con người như thế nào.

22 tức là sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi sự tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, cho mọi người nào tin. Chẳng có phân biệt chi hết,

a.Cho tất cả và trên tất cả những ai tin : Trong Rô-ma 3:21, Phao-lô cho chúng ta biết sự công bình này không đến từ việc làm theo luật pháp, mà đến từ bên ngoài luật pháp. Giờ đây, Phao-lô cho chúng ta biết sự công bình cứu rỗi này đến từ đức tin nơi Chúa Giê-su Christ, ban cho tất cả và trên tất cả những ai tin.

b.Nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su Christ : Sự công bình của Đức Chúa Trời không đến từ đức tin; mà đến từ đức tin. Chúng ta không kiếm được sự công bình bởi đức tin. Chúng ta nhận được sự công bình nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su Christ.

i.Nhờ đức tin “chỉ ra sự thật rằng đức tin không phải là một công trạng, một điều kiện để đạt được sự cứu rỗi. Nó chỉ là phương tiện để ban tặng ân sủng.” (Morris)

ii.“Nhưng đức tin không phải là ‘tin cậy’ hay ‘mong đợi’ Đức Chúa Trời làm điều gì đó, mà là nương cậy vào lời chứng của Ngài về thân vị của Đấng Christ là Con Ngài, và công việc của Đấng Christ vì chúng ta trên thập tự giá… Sau đức tin cứu rỗi, cuộc sống tin cậy bắt đầu … tin cậy luôn trông đợi những gì Đức Chúa Trời sẽ làm; nhưng đức tin thấy rằng những gì Đức Chúa Trời phán đã được thực hiện, và tin vào Lời Đức Chúa Trời, tin chắc rằng lời đó là đúng, và đúng đối với chính chúng ta.” (Newell)

c.Vì không có sự khác biệt nào cả : Không có cách nào khác để đạt được sự công bình này. Sự công bình này không đạt được nhờ vâng giữ luật pháp; mà là sự công bình nhận được, nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su Christ.

i.“Có một cuốn sách nhỏ tựa đề, Mỗi người tự làm luật sư cho mình. Ngày nay, theo một số người, dường như mỗi người đều phải tự làm cứu tinh cho chính mình; nhưng nếu tôi có, giả sử; một tá sách Phúc Âm, và tôi phải phân loại chúng, rồi trao Phúc Âm đúng cho đúng người, thì tôi sẽ lâm vào tình thế khó khăn biết bao! Tôi tin rằng, nhiều khi, tôi sẽ trao Phúc Âm của bạn cho người khác, và Phúc Âm của người khác cho bạn; và tất cả sẽ thật hỗn loạn! Nhưng giờ đây, chúng ta có một phương thuốc chữa lành phổ quát… Huyết và sự công bình của Chúa Giê-su Christ sẽ cứu rỗi bất cứ ai tin cậy Ngài, vì ‘không có sự khác biệt nào cả.’” (Spurgeon)

3.(23-24) Nhu cầu phổ quát của con người và lời đề nghị phổ quát của Thiên Chúa.

23 vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, 24 và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jêsus Christ

a.Được xưng công bình : Phao-lô phát triển lời dạy của mình về sự cứu rỗi xung quanh ba chủ đề.

  • Sự biện minh là hình ảnh từ tòa án.
  • Sự cứu chuộc là hình ảnh từ thị trường nô lệ.
  • Sự chuộc tội là hình ảnh từ thế giới tôn giáo, mô tả sự xoa dịu Chúa bằng sự hy sinh.
  1. Sự xưng công bình giải quyết vấn đề tội lỗi của con người trước Đấng Phán Xét công bình. Sự cứu chuộc giải quyết vấn đề con người bị nô lệ bởi tội lỗi, thế gian và ma quỷ. Sự chuộc tội giải quyết vấn đề xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa của chúng ta.

b.Mọi người đều đã phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời : Lời tuyên bố phổ quát này được đáp lại bằng một lời đề nghị phổ quát để được xưng công bình một cách miễn phí bởi ân điển của Ngài. Lời này dành cho tất cả những ai tin.

i.Morris, trích dẫn Moule: “Kẻ điếm, kẻ dối trá, kẻ giết người, đều thiếu điều đó; nhưng bạn cũng vậy. Có lẽ họ đứng dưới đáy một mỏ, còn bạn trên đỉnh núi Alps; nhưng bạn cũng chẳng thể chạm đến những vì sao như họ.” Ai cũng thiếu sót, nhưng ai cũng có thể được xưng công bình nhờ ân điển của Ngài.

công đạt được sự vinh quang của Chúa : Không thể diễn tả hết mọi cách chúng ta thiếu sót, nhưng đây là bốn cách quan trọng mà con người không đạt được sự vinh quang của Chúa.

i.Chúng ta không tôn vinh Chúa đúng mức qua lời nói, suy nghĩ và hành động của mình.

ii.Chúng ta không đủ điều kiện để nhận được, và do đó từ chối vinh quang và phần thưởng mà Đức Chúa Trời ban cho những tôi tớ trung thành.

iii.Chúng ta không thể phản ánh đúng vinh quang của Chúa bằng cách từ chối biến đổi theo hình ảnh của Ngài.

iv.Chúng ta không đạt được vinh quang cuối cùng mà Chúa sẽ ban cho dân Ngài vào lúc kết thúc lịch sử.

d.Được xưng công bình nhưng không bởi ân điển Ngài : Ở trong tình trạng tội lỗi như vậy, cách duy nhất chúng ta có thể được xưng công bình là được xưng công bình một cách nhưng không. Chúng ta hoàn toàn không thể mua được điều đó bằng việc làm tốt của mình. Nếu nó không được ban cho một cách miễn phí, chúng ta sẽ không thể có tất cả. Vì vậy, chúng ta được xưng công bình nhưng không bởi ân điển Ngài – ân huệ không công bình của Ngài, được ban cho chúng ta mà không cần biết chúng ta xứng đáng với điều gì. Đó là một sự ban cho hoàn toàn do động cơ của người ban cho, và không bị thúc đẩy bởi bất cứ điều gì nơi người nhận.

i.Tự do là từ Hy Lạp cổ dorean. Cách từ này được sử dụng trong các đoạn Tân Ước khác giúp chúng ta hiểu từ này. Ma-thi-ơ 10:8 (Các ngươi đã được cho không, thì hãy cho không) và Khải Huyền 22:17 (Ai muốn, hãy lấy nước sự sống cách nhưng không) cho thấy từ này có nghĩa là thực sự tự do, không chỉ là “rẻ” hay “giảm giá”. Có lẽ cách sử dụng nổi bật nhất của từ Hy Lạp cổ dorean là trong Giăng 15:25 : Họ ghét tôi vô cớ (dorean). Cũng như không có trong Chúa Giê-su đáng bị con người ghét, thì cũng không có gì trong chúng ta đáng được xưng công bình – mọi lý do đều ở nơi Đức Chúa Trời.

ii.Calvin về việc sử dụng cả hai từ tự do ân điển : “Ông lặp lại từ này để chỉ ra rằng toàn bộ là từ Chúa, và không có gì từ chúng ta… để chúng ta không tưởng tượng ra một nửa loại ân điển, ông khẳng định mạnh mẽ hơn những gì ông muốn nói bằng sự lặp lại, và tuyên bố chỉ dành cho lòng thương xót của Chúa toàn bộ vinh quang của sự công bình của chúng ta.”

e.Nhờ sự cứu chuộc trong Chúa Giê-su Christ : Một lần nữa, Phúc Âm của Phao-lô tập trung hoàn toàn vào Chúa Giê-su Christ. Sự cứu rỗi có thể đạt được nhờ sự cứu chuộc trong Ngài. Đức Chúa Trời không thể ban cho chúng ta sự công bình của Ngài ngoài Chúa Giê-su Christ.

f.Sự cứu chuộc : Điều này mang ý nghĩa mua lại một điều gì đó, và đòi hỏi phải trả giá. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời trả giá, nên chúng ta được xưng công bình một cách nhưng không.

i.Từ được dịch là cứu chuộc có nguồn gốc từ việc mô tả việc thả tù binh chiến tranh khi trả một cái giá và được gọi là “tiền chuộc”. Theo thời gian, từ này được mở rộng để bao gồm việc giải phóng nô lệ, một lần nữa bằng cách trả một cái giá.

ii.Ý niệm về sự cứu chuộc có nghĩa là Chúa Giê-su đã mua chuộc chúng ta; do đó, chúng ta thuộc về Ngài. Phao-lô đã diễn đạt ý tưởng này trong một lá thư khác: Vì anh em đã được mua bằng giá cao; vậy hãy tôn vinh Đức Chúa Trời trong thân thể và tâm linh anh em, là những điều thuộc về Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 6:20).

4.(25-26) Cái chết của Chúa Giê-su đã đáp ứng sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời như thế nào.

25 là Đấng Đức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia, 26 trong buổi Ngài nhịn nhục; tức là Ngài đã tỏ sự công bình Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra mình là công bình và xưng công bình kẻ nào tin đến Đức Chúa Jêsus.

a.Đấng mà Đức Chúa Trời đã lập lên làm của lễ chuộc tội : Chúa Giê-su, qua sự chết (bởi huyết Ngài) đã trở thành của lễ chuộc tội (của lễ thay thế) cho chúng ta. Khi Ngài chịu phán xét thay cho chúng ta, Đức Chúa Cha có thể chứng minh sự công bình của Ngài trong sự phán xét tội lỗi, đồng thời tha thứ cho những người đáng bị phán xét.

i.Wuest nói về sự chuộc tội: “Từ này, trong hình thức cổ điển, được dùng để chỉ hành động xoa dịu các vị thần Hy Lạp bằng một lễ hiến tế… nói cách khác, lễ hiến tế được dâng lên để xoa dịu cơn giận của vị thần.”

ii.Bản NIV dịch sự cầu thay sự hy sinh chuộc tội ; bản Living Bible dịch là: chịu hình phạt cho tội lỗi của chúng ta.

b.Sự cứu chuộc : Từ Hy Lạp cổ đại (hilasterion) để chỉ sự cứu chuộc cũng được dùng trong bản Septuagint để chỉ nắp thi ân, nắp đậy Hòm Giao Ước, nơi huyết tế lễ được rảy lên để chuộc tội. Mặc dù có thể nói rằng đoạn văn này có nghĩa là “Chúa Giê-su là nắp thi ân của chúng ta”, nhưng có lẽ nó mang ý nghĩa trực tiếp hơn là sự cứu chuộc – một của lễ thay thế.

i.Đồng thời, ý tưởng về “ngai thương xót” không nên bị bỏ qua như một minh họa về sự cầu thay. Bên trong Hòm Giao Ước là bằng chứng về tội lỗi lớn của con người: các bảng luật pháp; manna đã nhận được một cách vô ơn; cây gậy trổ hoa của A-rôn, cho thấy sự từ chối của con người đối với sự lãnh đạo của Đức Chúa Trời. Phía trên Hòm Giao Ước là những biểu tượng về sự hiện diện thánh khiết của Đức Chúa Trời ngự trên ngai vàng trong các chê-ru-bim bằng vàng tuyệt đẹp. Ở giữa hai bên là ngai thương xót, và khi huyết tế lễ được rảy lên ngai thương xót vào Ngày Chuộc Tội (Lê-vi Ký 16), cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đã được ngăn chặn vì một người thay thế đã bị giết thay cho những tội nhân đến bởi đức tin. Chúng ta thực sự có thể nói rằng Chúa Giê-su là “ngai thương xót” của chúng ta, đứng giữa những tội nhân có tội và sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.

c.Đấng mà Đức Chúa Trời đã lập ra làm của lễ chuộc tội : Điều này cho thấy Chúa Giê-su không hề xoa dịu một người Cha miễn cưỡng, không muốn Ngài phải kiềm chế cơn thịnh nộ của Ngài. Thay vào đó, chính Đức Chúa Cha đã khởi xướng sự chuộc tội: Đấng mà Đức Chúa Trời đã lập ra.

d.Bỏ qua tội lỗi : Đức Chúa Trời, trong sự nhẫn nại của Ngài, đã bỏ qua tội lỗi của những thánh đồ Cựu Ước đã tin cậy nơi Đấng Mê-si sẽ đến. Tại thập tự giá, những tội lỗi ấy không còn được bỏ qua nữa, mà đã được trả giá.

i.Ý tưởng là thông qua lễ tế động vật trong Cựu Ước, những ai tin vào Đấng Mê-si sẽ đến với đức tin, tội lỗi của họ đã được “che đậy” bởi một loại “giấy nợ” hay giấy hứa. Sự che đậy tạm thời đó đã được chuộc lại để được trả giá trọn vẹn trên thập tự giá.

ii.Công trình của Chúa Giê-su trên thập tự giá đã giải thoát Đức Chúa Trời khỏi lời buộc tội rằng Ngài đã bỏ qua tội lỗi đã phạm trước thập tự giá. Những tội lỗi đó đã được bỏ qua trong một thời gian, nhưng cuối cùng chúng đã được trả giá.

e.Để Ngài có thể công bình và là Đấng xưng công bình cho người có đức tin nơi Chúa Giê-xu : Trên thập tự giá, Đức Chúa Trời đã chứng minh sự công bình của Ngài bằng cách ban cho con người sự xưng công bình (một phán quyết hợp pháp là “không có tội”), trong khi vẫn hoàn toàn công bình (vì hình phạt công bình của tội lỗi đã được trả trên thập tự giá).

i.Thật dễ dàng để thấy ai đó chỉ có thể công bằng – chỉ cần đày mọi tội nhân xuống địa ngục, như một thẩm phán công minh sẽ làm. Thật dễ dàng để thấy ai đó chỉ có thể là người biện hộ – chỉ cần nói với mọi tội nhân rằng: “Tôi tuyên bố ân xá. Tất cả các ngươi đều được tuyên bố là ‘vô tội’”. Nhưng chỉ có Chúa mới có thể tìm ra cách vừa công bằng vừa là người biện hộ cho người có đức tin nơi Chúa Giê-su.

ii.“Ở đây chúng ta học được rằng Đức Chúa Trời đã định sẵn để thể hiện rõ ràng nhất cả công lý lẫn lòng thương xót của Ngài. Về công lý của Ngài, khi đòi hỏi một sự hy sinh, và hoàn toàn từ chối ban ơn cứu rỗi cho thế giới hư mất bằng bất kỳ cách nào khác; và về lòng thương xót của Ngài, khi cung cấp sự hy sinh mà công lý của Ngài đòi hỏi.” (Clarke)

5.(27) Việc khoe khoang về sự cứu rỗi đến qua phúc âm của Chúa Giê-su Christ bị loại trừ.

27 Vậy thì sự khoe mình ở đâu? Đã bị trừ bỏ rồi. Bởi luật pháp nào? Luật pháp của việc làm chăng? Không phải, nhưng bởi luật pháp của đức tin.

a.Vậy thì khoe khoang ở đâu? Nó không nên ở đâu cả. Bởi vì chúng ta được xưng công bình nhờ ân điển của Ngài, nên không có chỗ cho sự tự khen hay tự đề cao.

b.Theo luật nào? Sự khoe khoang và kiêu ngạo không bị loại trừ vì có một đoạn luật cụ thể nào đó chống lại chúng. Thay vào đó, sự kiêu ngạo bị loại trừ vì nó hoàn toàn không tương thích với sự cứu rỗi mà chúng ta được ban cho cách tự do nhờ đức tin. Sự khoe khoang bị loại trừ bởi luật đức tin.

c.Theo luật đức tin : Không có chỗ cho sự khoe khoang! Đây là lý do tại sao con người tự nhiên ghét việc được xưng công bình một cách miễn phí bởi ân điển của Ngài. Ân điển hoàn toàn từ chối công nhận những công trạng (tưởng tượng) của họ và không hề cho họ chỗ cho lòng kiêu ngạo.

6.(28-30) Sự biện minh (sự tha bổng trước tòa án của Đức Chúa Trời) được tìm thấy, cho cả người Giu-đa và người Ngoại, ngoài các hành vi của luật pháp.

28 vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không bởi việc làm theo luật pháp. 29 Hay là, Đức Chúa Trời chỉ là Đức Chúa Trời của dân Giu-đa sao? Há chẳng phải cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại ư? Phải, Ngài cũng là của dân ngoại nữa; 30 vì chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm cho kẻ chịu cắt bì được xưng công bình bởi đức tin, cũng làm cho kẻ không chịu cắt bì được xưng công bình bởi đức tin nữa.

a.Được xưng công bình bởi đức tin, không cần phải làm theo luật pháp: Không phải chúng ta được xưng công bình bởi đức tin cộng với bất cứ việc làm nào theo luật pháp mà chúng ta có thể làm. Chúng ta được xưng công bình chỉ bởi đức tin, không cần phải làm theo luật pháp.

i.“Vì mọi công việc của luật pháp đều bị cấm, chỉ còn lại đức tin. Luther đã diễn giải như vậy, và từ thời của ông, Sola Fide đã trở thành một khẩu hiệu.” (Lenski)

b.Ngoài việc làm theo luật pháp : Chẳng phải Gia-cơ đã mâu thuẫn với điều này trong những đoạn như Gia-cơ 2:14-26 sao? Làm sao chúng ta có thể nói rằng chỉ có đức tin mới cứu được, ngoài việc làm theo luật pháp ?

i.Chỉ có đức tin chân thật mới cứu rỗi, nhưng đức tin chân thật, đức tin cứu rỗi, có một đặc tính riêng biệt. Nó không chỉ đơn thuần là đồng ý với một số sự kiện nhất định, mà còn là hướng dẫn tâm trí và ý chí theo sự đồng thuận với Đức Chúa Trời. Toàn bộ mục đích của sách Gia-cơ là mô tả đặc tính của đức tin cứu rỗi này.

ii.Calvin giải thích: “Những gì James nói, rằng con người không chỉ được xưng công bình bởi đức tin, mà còn bởi việc làm, hoàn toàn không mâu thuẫn với quan điểm trước đó [về sự xưng công bình chỉ bởi đức tin]. Sự dung hòa giữa hai quan điểm này chủ yếu phụ thuộc vào xu hướng lập luận mà James theo đuổi. Bởi vì vấn đề với ông không phải là làm thế nào con người đạt được sự công bình trước mặt Đức Chúa Trời, mà là làm thế nào họ chứng minh cho người khác thấy rằng họ được xưng công bình; vì mục đích của ông là bác bỏ những kẻ đạo đức giả, những kẻ khoác lác rằng họ có đức tin… James không có ý gì khác ngoài việc con người không được tạo ra hoặc chứng minh là công bình bởi một đức tin giả tạo hoặc vô ích, và con người phải chứng minh sự công bình của mình bằng việc làm.”

c.Vâng, cũng dành cho dân ngoại nữa : Sự công bình này được ban cho cả người Giu-đa lẫn dân ngoại. Tính chất phổ quát của lời ban này được chứng minh bằng một sự thật đơn giản: Chẳng phải Ngài cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại sao? Dĩ nhiên là có. Nếu chỉ có một Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của dân ngoại cũng như Ngài là Đức Chúa Trời của người Giu-đa. Việc công nhận Ngài là Đức Chúa Trời hoàn toàn tùy thuộc vào dân ngoại.

d.Chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng sẽ xưng công bình cho người chịu cắt bì bởi đức tin, và xưng công bình cho người không chịu cắt bì bởi đức tin : Sự công bình này không chỉ dành cho cả người Giu-đa lẫn dân ngoại, mà cả người Giu-đa lẫn dân ngoại đều được xưng công bình theo cùng một cách. Vì một Đức Chúa Trời xưng công bình cho cả người Giu-đa lẫn dân ngoại, nên Ngài xưng công bình cho họ theo cùng một cách: bởi đức tin… bởi đức tin.

7.(31) Vậy thì luật pháp thế nào?

31 Vậy, chúng ta nhân đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.

a.Vậy thì chúng ta có làm cho luật pháp trở nên vô hiệu bởi đức tin không? Chúng ta có thể thấy ai đó có thể hỏi: “Nếu luật pháp không làm cho chúng ta nên công bình, thì nó có ích gì? Hỡi Phao-lô, anh vừa làm cho luật pháp trở nên vô hiệu. Anh đang đi ngược lại luật pháp của Đức Chúa Trời.”

b.Chắc chắn là không! Dĩ nhiên, Phao-lô không hề làm cho luật pháp trở nên vô hiệu. Như Sứ đồ sẽ chứng minh trong Rô-ma 4, luật pháp đã báo trước sự đến của phúc âm về sự công bình bởi đức tin, chứ không phải bởi việc làm theo luật pháp. Do đó, phúc âm thiết lập luật pháp, ứng nghiệm những lời tiên tri của chính nó.

nguồn: https://enduringword.com/bible-commentary/romans-3/