Rô-ma 1 – Nhân Loại Có Tội Trước Mặt Đức Chúa Trời

Rô-ma 1 – Nhân Loại Có Tội Trước Mặt Đức Chúa Trời

A.Tầm quan trọng và tác động của Thư Phao-lô gửi tín đồ Rô-ma.

1.Ảnh hưởng của người Rô-ma đối với Augustine.

a.Vào mùa hè năm 386, một chàng trai trẻ khóc nức nở trong sân sau nhà một người bạn. Anh biết cuộc đời tội lỗi và sự phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời đã khiến anh trở nên trống rỗng và cảm thấy như đã chết; thế nhưng, anh lại chẳng thể nào tìm đâu ra đủ sức mạnh để đưa ra một quyết định dứt khoát và thực sự dành cho Chúa Giê-su Christ. Khi đang ngồi đó, anh nghe thấy lũ trẻ đang chơi đùa và chúng gọi nhau bằng những lời này: “Hãy cầm lấy và đọc đi! Hãy cầm lấy và đọc đi!”

b.Nghĩ rằng Chúa có một thông điệp muốn gửi đến anh qua lời nói của bọn trẻ, anh nhặt một cuộn giấy để gần đó và bắt đầu đọc: “Chớ nộp mình vào sự quá độ và say sưa, buông tuồng và bậy bạ, rầy rà và ghen ghét; 14 nhưng hãy mặc lấy Đức Chúa Jêsus Christ, chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó.” (Rô-ma 13: 13b-14). Anh không đọc thêm nữa; anh không cần phải làm thế. Nhờ quyền năng của Lời Chúa, Augustine đã có được đức tin để dâng trọn đời mình cho Chúa Giê-su Christ ngay lúc đó.

2.Ảnh hưởng của thư Rôma đối với Martin Luther.

a.Vào tháng 8 năm 1513, một tu sĩ giảng dạy về Sách Thi Thiên cho các sinh viên chủng viện, nhưng đời sống nội tâm của ông lại đầy rẫy hỗn loạn. Trong quá trình học tập, ông bắt gặp Thi Thiên 31:1b: Xin hãy lấy công bình Ngài mà giải cứu tôi.“. Đoạn Kinh Thánh này khiến Luther bối rối; làm sao sự công bình của Chúa lại có thể làm gì khác ngoài việc kết án ông xuống địa ngục như một hình phạt công bằng cho tội lỗi của ông? Luther cứ mãi suy nghĩ về Rô-ma 1:17, câu nói rằng, “vì trong Tin lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin.”

b.Tu sĩ Luther tiếp tục nói: “Ngày đêm tôi suy ngẫm cho đến khi… tôi thấu hiểu chân lý rằng sự công bình của Đức Chúa Trời chính là sự công bình mà nhờ đó, qua ân điển và lòng thương xót vô bờ bến, Ngài xưng công bình cho chúng ta bởi đức tin. Vì thế, tôi cảm thấy mình được tái sinh và như bước qua những cánh cửa rộng mở vào thiên đàng… Đoạn Kinh Thánh này của Phao-lô đã trở thành cánh cửa dẫn vào thiên đàng đối với tôi.” Martin Luther đã được tái sinh, và cuộc Cải cách bắt đầu từ trong trái tim ông.

3.Ảnh hưởng của thư Rôma đối với John Wesley.

a.Vào tháng 5 năm 1738, một mục sư và nhà truyền giáo thất bại đã miễn cưỡng đến một buổi học Kinh Thánh nhỏ, nơi có người đọc to đoạn chú giải thư Rôma của Martin Luther.

b.Như Wesley, nhà truyền giáo thất bại, đã nói sau này: “Trong khi ông ấy đang mô tả sự thay đổi mà Đức Chúa Trời thực hiện trong lòng người qua đức tin nơi Đấng Christ, tôi cảm thấy lòng mình ấm lên một cách kỳ lạ. Tôi cảm thấy mình đã tin cậy nơi Đấng Christ, chỉ một mình Đấng Christ, để được cứu rỗi, và tôi được ban cho sự đảm bảo rằng Ngài đã cất đi tội lỗi của tôi, ngay cả tội lỗi của riêng tôi.” John Wesley đã được cứu rỗi vào đêm đó tại London.

4.Hãy xem xét lời chứng của những người này về thư Rôma:

a.Martin Luther đã ca ngợi thư Rôma: “Đây là phần quan trọng nhất của Tân Ước và là tin lành hoàn hảo… là hình ảnh thu nhỏ tuyệt đối của tin lành.”

b.Người kế nhiệm của Luther, Philip Melancthon, gọi thư Rôma là “tập hợp các giáo lý Cơ đốc”.

c.John Calvin đã nói về sách Rôma rằng: “Khi ai hiểu được bức thư này, người đó sẽ được mở ra một con đường dẫn đến sự hiểu biết toàn bộ Kinh Thánh.”

d.Samuel Coleridge, nhà thơ và nhà phê bình văn học người Anh, từng nói rằng thư của Phaolô gửi cho người Rô-ma là “Tác phẩm sâu sắc nhất hiện có”.

e.Frederick Godet, nhà thần học người Thụy Sĩ thế kỷ 19, gọi sách Rôma là “Nhà thờ lớn của đức tin Cơ đốc”.

f.G. Campbell Morgan từng nhận định rằng Thư Rô-ma là “trang văn chương bi quan nhất mà đôi mắt bạn từng đọc” và đồng thời, “bài thơ lạc quan nhất mà đôi tai bạn từng nghe.”

g.Richard Lenski viết rằng sách Rôma “không còn nghi ngờ gì nữa, là bức thư năng động nhất trong tất cả các bức thư của Tân Ước, ngay cả khi nó được viết vào thời kỳ đỉnh cao trong sự nghiệp sứ đồ của Phao-lô.”

5.Chúng ta cũng nên nhớ lời của Sứ đồ Phi-e-rơ về các thư của Phao-lô: Lại phải nhìn biết rằng sự nhịn nhục lâu dài của Chúa chúng ta cốt vì cứu chuộc anh em, cũng như Phao-lô, anh rất yêu dấu của chúng ta, đã đem sự khôn ngoan được ban cho mình mà viết thư cho anh em vậy. 16 Ấy là điều người đã viết trong mọi bức thơ, nói về những sự đó, ở trong có mấy khúc khó hiểu, mà những kẻ dốt nát và tin không quyết đem giải sai ý nghĩa, cũng như họ giải sai về các phần Kinh thánh khác, chuốc lấy sự hư mất riêng về mình” (2 Phi-e-rơ 3:15-16).

a.Sách Rô-ma chứa đựng những chân lý có thể thay đổi cuộc sống, nhưng để hiểu được những gì Đức Thánh Linh đã phán qua Sứ đồ Phao-lô, chúng ta cần phải nỗ lực và kiên trì.

B.Giới thiệu.

1.(1) Phao-lô tự giới thiệu mình với các tín đồ Cơ đốc ở Rôma.

1 Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm sứ đồ, để riêng ra đặng giảng Tin lành Đức Chúa Trời.

a.Phao-lô: Cuộc đời và sứ mệnh của Sứ đồ Phao-lô (còn được gọi là Sau-lơ thành Tạt-sơ) được ghi chép đầy đủ trong Công vụ các Sứ đồ 8-28, cũng như Ga-la-ti 1-2 và 2 Cô-rinh-tô 11-12.

i.Hầu như tất cả mọi người đều đồng ý rằng Phao-lô đã viết thư Rô-ma từ thành Cô-rinh-tô khi ông trú đông ở đó trong chuyến truyền giáo thứ ba của mình, như được mô tả trong Công vụ 20:2-3. Điều này dựa trên Rô-ma 16:1 và 16:23 cùng với 1 Cô-rinh-tô 1:14. Nhiều nhà bình luận cho rằng thời điểm viết thư nằm trong khoảng từ năm 53 đến 58 sau Công nguyên.

ii.Khi Phaolô viết sách Rôma, ông đã là một nhà truyền giáo Cơ Đốc được khoảng 20 năm. Trên đường đến Giê-ru-sa-lem, ông có ba tháng ở Cô-rinh-tô mà không có nhiệm vụ cấp bách nào. Có lẽ ông nghĩ đây là thời điểm tốt để viết trước cho các tín đồ ở Rô-ma, một hội thánh mà ông dự định sẽ đến thăm sau chuyến đi đến Giê-ru-sa-lem.

iii.Khi Phao-lô cố gắng đến Rô-ma, Đức Thánh Linh đã cảnh báo ông về mối nguy hiểm đang chờ đợi ông ở Giê-ru-sa-lem (Công vụ 21:10-14). Nếu ông không thể đến Rô-ma thì sao? Khi đó, ông phải viết cho họ một bức thư toàn diện đến nỗi các tín đồ ở Rô-ma được nghe Tin Lành mà Phao-lô đã rao giảng, ngay cả khi chính Phao-lô không thể đến thăm họ.

iv.Vì tất cả những điều này, thư Rô-ma khác biệt so với nhiều bức thư khác mà Phao-lô đã viết cho các hội thánh. Các bức thư khác trong Tân Ước tập trung nhiều hơn vào hội thánh, những thách thức và vấn đề của hội thánh. Thư Rô-ma lại tập trung nhiều hơn vào Đức Chúa Trời và kế hoạch cứu chuộc vĩ đại của Ngài.

Chúng ta biết rằng Thư gửi tín đồ Rô-ma được các tín đồ ở Rôma trân trọng; bức thư của Clement thành Rôma năm 96 sau Công nguyên cho thấy ông rất am tường thư của Phaolô. Có thể ông đã thuộc lòng bức thư này và việc đọc nó đã trở thành một phần của hầu hết mọi buổi họp của Hội Thánh Rôma. Ngoài ra, nhiều học giả (trong đó có Bruce và Barclay) tin rằng một phiên bản đã được chỉnh sửa của thư Rôma – không có những lời đề cập cá nhân trong Rôma 16 – đã được phân phát rộng rãi trong các Hội Thánh sơ khai như một bản tóm tắt giáo lý của các sứ đồ.

b.Một tôi tớ… một sứ đồ: Sự tự nhận dạng của Phao-lô rất quan trọng. Trước hết, ông là tôi tớ của Chúa Giê-xu Christ,thứ hai, ông được kêu gọi làm sứ đồ.

i.Có một số từ Hy Lạp cổ đại được sử dụng để chỉ nô lệ, nhưng ý nghĩa đằng sau từ “người tôi tớ” (doulos) là “sự tận tụy hoàn toàn và tuyệt đối, chứ không phải sự hèn hạ vốn là tình trạng bình thường của nô lệ.” (Morris)

ii.“Tôi tớ của Chúa Giê-xu Christ là một danh hiệu cao quý hơn vua chúa thế gian.” (Poole)

c.được biệt riêng cho Tin Lành của Đức Chúa Trời: Ý nghĩa của việc trở thành một sứ đồ là bạn đóng vai trò như một đại sứ hay sứ giả đặc biệt. Thông điệp của Phao-lô là tin lành (Tin Lành, tin mừng) của Đức Chúa Trời. Đó là tin lành của Đức Chúa Trời theo nghĩa là nó thuộc về Đức Chúa Trời trên trời. Đây không phải là một tin lành do Phao-lô tự bịa ra; ông chỉ đơn giản là một sứ giả của tin lành Đức Chúa Trời.

i.được biệt riêng cho Tin Lành của Đức Chúa Trời: “Thánh đồ Phaolô ở đây có thể ám chỉ đến thân phận trước đây của mình là một người Pha-ri-si, nghĩa đen là người ly khai, hay người bị tách biệt. Trước đây ông được biệt riêng để phục vụ giáo phái của mình; giờ đây ông được biệt riêng để phục vụ Tin Lành của Đức Chúa Trời.” (Clarke)

ii.“Một số người cho rằng Phao-lô ám chỉ đến tên gọi người Pha-ri-si, xuất phát từ sự tách biệt: khi còn là người Pha-ri-si, ông ấy tách biệt để tuân giữ luật pháp của Đức Chúa Trời; và giờ đây, khi là một tín đồ Cơ đốc, ông tách biệt để tuân giữ tin lành của Đức Chúa Trời.” (Poole)

d.Tin lành của Đức Chúa Trời: Các thư tín khác trong Tân Ước tập trung nhiều hơn vào Hội Thánh và những thách thức, vấn đề của Hội Thánh; thư Rô-ma lại tập trung nhiều hơn vào Đức Chúa Trời.Đức Chúa Trời là từ quan trọng nhất trong thư tín này. Thư Rô-ma là cuốn sách nói về Đức Chúa Trời. Không có chủ đề nào được đề cập đến với tần suất cao như chủ đề về Đức Chúa Trời. Mọi điều Phao-lô đề cập trong thư này đều liên hệ với Đức Chúa Trời. Trong nỗ lực hiểu những gì sứ đồ đang nói về sự công bình, sự xưng công bình, và những điều tương tự, chúng ta không nên bỏ qua sự tập trung to lớn của ông vào Đức Chúa Trời.” (Morris)

i.Từ “Đức Chúa Trời ” xuất hiện 153 lần trong thư Rô-ma; trung bình cứ 46 từ lại xuất hiện một lần – tần suất này cao hơn bất kỳ sách nào khác trong Tân Ước. Để so sánh, hãy lưu ý tần suất xuất hiện của các từ khác trong thư Rô-ma: luật pháp (72x), Đấng Christ (65x), tội lỗi (48x), Chúa (43x) và đức tin (40x). Thư Rô-ma đề cập đến nhiều chủ đề khác nhau nhưng xét trên mọi khía cạnh, đây là một cuốn sách về Đức Chúa Trời.

ii.Có rất nhiều từ quan trọng trong vốn từ vựng của thư Rô-ma mà chúng ta cần phải hiểu. Bruce trích dẫn lời tựa của Tyndale cho thư Rô-ma: “Trước hết, chúng ta phải chú ý kỹ lưỡng đến cách diễn đạt của vị sứ đồ, và trên hết là phải hiểu Phao-lô muốn nói gì qua những từ này – Luật pháp, Tội lỗi, Ân điển, Đức tin, Sự công bình, Xác thịt, Thánh Linh, và những từ tương tự – nếu không, dù bạn đọc đi đọc lại bao nhiêu lần, công sức của bạn cũng sẽ trở nên vô ích.”

2.(2-6) Phao-lô giới thiệu tin lành của mình cho người Rô-ma.

a.2 là Tin lành xưa kia Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri Ngài mà hứa trong Kinh thánh: Tin lành này không phải là mới, và cũng không phải là một phát minh khéo léo của con người. Thế giới của Phao-lô rất giống với thế giới của chúng ta, với những người thích những giáo lý và học thuyết “mới”. Tuy nhiên, Phao-lô không mang đến điều gì mới mẻ, mà là điều đã có từ rất lâu trong kế hoạch của Đức Chúa Trời.

b.3về Con Ngài, theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra, 4theo thần linh của thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta,: Đây là trọng tâm của Tin lành Phaolô, là “mặt trời” mà mọi thứ khác xoay quanh. Trọng tâm của Cơ đốc giáo không phải là một giáo lý hay một hệ thống đạo đức, mà là một Đấng (một Nhân cách | Thân vị): Chúa Giê-xu Christ.

i.Chúa Giê-su này vừa có nguồn gốc con người (sinh ra từ dòng dõi Đa-vít theo xác thịt), vừa có sự hiện hữu vĩnh hằng (được tuyên bố là Con của Đức Chúa Trời). Bằng chứng về tính người của Chúa Giê-su là sự giáng sinh làm người của Ngài; bằng chứng về thần tính của Ngài là sự phục sinh từ cõi chết.

ii.Sự phục sinh của Chúa Giê-su cho thấy quyền năng thiêng liêng của Ngài vì Ngài đã sống lại bằng chính quyền năng của mình: ” Hãy phá hủy đền thờ này đi, và trong ba ngày ta sẽ dựng lại ” (Giăng 2:19).

iii.“Theo một nghĩa nào đó, trước khi phục sinh, Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời trong sự yếu đuối, nhưng sau đó, Ngài là Con Đức Chúa Trời trong quyền năng.” (Morris)

c.4được tuyên bố là Con quyền năng của Đức Chúa Trời (BD2002): Từ Hy Lạp cổ đại này (horizo) xuất phát từ ý tưởng “giới hạn, xác định, quyết định hoặc giới hạn”, và do đó từ “horizon”  dùng để chỉ đường chân trời, đường thẳng xác định phần xa nhất có thể nhìn thấy của trái đất so với bầu trời. Trong ngữ cảnh này, từ đó biểu thị một sự thể hiện các sự kiện rõ ràng và đầy đủ đến mức không thể tranh cãi.” (Clarke)

d.Chúa Giê-xu Christ, Chúa chúng ta: Điều này có nghĩa là Sứ đồ Phao-lô gọi Chúa Giê-su là Chúa: “Thuật ngữ này có thể chỉ là một cách xưng hô lịch sự giống như cách chúng ta gọi Ngài. Nhưng nó cũng có thể được dùng để chỉ vị thần mà người ta thờ phượng. Tuy nhiên, bối cảnh thực sự quan trọng là việc sử dụng thuật ngữ này trong bản dịch tiếng Hy Lạp của Cựu Ước để dịch danh xưng thiêng liêng, Yahweh… Những người Cơ Đốc sử dụng Kinh Thánh bản này sẽ quen thuộc với thuật ngữ này như là từ đồng nghĩa với thần thánh.” (Morris)

e.5nhờ Ngài chúng ta đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, để đem mọi dân ngoại đến sự vâng phục của đức tin, vì danh Ngài: Tin lành của Phao-lô tác động đến đời sống mỗi người. Đó không phải là lý thuyết hay triết học thú vị, mà là Tin Lành thay đổi cuộc đời.

i.Tin lành đã ban cho Phao-lô và Hội thánh ân điển và chức vụ sứ đồ, và một trong những lý do hai ơn huệ đó được ban cho là để sản sinh ra sự vâng phục đức tin. “Nếu không có ân điển, sự ưu ái, ân huệ và sự giúp đỡ đặc biệt của Đức Chúa Trời, ông đã không thể trở thành một sứ đồ.” (Clarke)

ii.Tin lành đủ lớn lao và vĩ đại cho toàn thế giới; nó phải được lan tỏa để tác động đến mọi quốc gia.

iii.Tin Lành đã đến với các tín đồ Cơ đốc ở Rô-ma, chứng tỏ rằng 6 trong các dân ấy anh em cũng đã được gọi bởi Đức Chúa Jêsus Christ.

3.(7-15) Mong muốn của Phao-lô được đến Rôma.

a.7gởi cho hết thảy những người yêu dấu của Đức Chúa Trời tại thành Rô-ma: Phao-lô chưa từng đến Rôma và ông cũng không phải là người sáng lập Hội Thánh Rôma. Điều này làm cho sách Rô-ma trở nên khác biệt vì hầu hết các thư của Phao-lô đều gửi cho các Hội Thánh do ông thành lập. Có vẻ như Hội Thánh ở Rôma bắt đầu một cách khá tự phát khi các tín đồ Cơ đốc đến thành phố lớn của Đế quốc và định cư ở đó. Cũng không có bằng chứng Kinh Thánh hay lịch sử nào cho thấy Sứ đồ Phi-e-rơ đã sáng lập Hội Thánh ở Rôma.

i.Công vụ các Sứ đồ 2:10 mô tả rằng có những người từ Rôma trong số người Giu-đa có mặt vào ngày Lễ Ngũ Tuần; vì vậy khi họ trở về nhà, đã có một cộng đồng Cơ Đốc ở Rôma. Ngoài ra, nguồn gốc của Hội Thánh ở Rôma có phần không rõ ràng, nhưng các tín đồ Cơ Đốc liên tục di cư đến Rôma từ khắp các vùng của Đế quốc. Chúng ta không nên ngạc nhiên khi một Hội Thánh được thành lập ở đó một cách tự phát, mà không cần được một sứ đồ trực tiếp thành lập.

ii.Dù vậy, nhờ những người quen chung hoặc qua các chuyến đi của mình, Phao-lô biết tên nhiều tín đồ Cơ Đốc tại Rô-ma, bởi ông đã nhắc đến họ trong thư Rô-ma chương 16. Dù Phao-lô chỉ biết nhiều tín đồ Cơ Đốc tại Rô-ma qua quan hệ quen biết, ông vẫn biết hai điều về họ và về mọi tín đồ Cơ Đốc chân chính. Ông biết họ được Đức Chúa Trời yêu thương và họ là những thánh đồ.

iii.được 7bkêu gọi trở nên dân thánh của Ngài (Bản hiện đại 2017): “Bạn sẽ nhận thấy rằng các từ ‘trở nên‘ được các dịch giả thêm vào; nhưng mặc dù được thêm vào, chúng thực sự không cần thiết cho ý nghĩa. Những tín đồ ở Rô-ma này được ‘kêu gọi trở thành thánh đồ’. Họ không được kêu gọi vì họ vốn đã là thánh đồ; mà họ trở thành thánh đồ thông qua lời kêu gọi đó.” (Spurgeon)

b.7cNguyền cho anh em được ân điển và sự bình an từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ!: Phao-lô trang trọng gửi lời chào thân mật tới độc giả, kết hợp lời chúc ân điển theo phong cách Hy Lạp với lời chúc bình an theo truyền thống Giu-đa. Ân điển và bình an này không phải là lời chúc tốt lành của con người; chúng là những món quà đến Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ!

c.8Trước hết, tôi nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, vì hết thảy anh em mà tạ ơn Đức Chúa Trời tôi về đức tin anh em đã đồn khắp cả thế gian: Phao-lô tạ ơn vì danh tiếng tốt đẹp của hội thánh tại Rô-ma. Nhờ vị trí địa lý, hội thánh này có tầm ảnh hưởng và cơ hội đặc biệt để tôn vinh Chúa Giê-su khắp Đế quốc.

i.Những người cơ đốc nhân này này buộc phải kiên cường. “Những cơ đốc nhân ở Rô-ma không được lòng dân – bị coi là ‘kẻ thù của loài người’ và bị gán cho những tội ác như loạn luân và ăn thịt đồng loại. Do đó, họ đã trở thành nạn nhân của sự tàn bạo từ phía đế chế – và chính cuộc bách hại các cơ đốc nhân dưới thời Nero này, theo truyền thống, đã tạo nên bối cảnh cho cuộc tử đạo của thánh đồ Phaolô.” (Bruce)

ii.“Những người Công giáo Rô-ma chủ nghĩa viện dẫn đoạn văn này để chứng minh rằng Giáo hội Rôma là Giáo hội Mẹ; nhưng điều đó là vô căn cứ: Giáo hội Thessalonica cũng được ca ngợi không kém. (Poole)

d.câu 9-10: 9Vì Đức Chúa Trời mà tôi lấy tâm thần hầu việc, bởi sự giảng Tin lành của Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi nhắc đến anh em không thôi: Phao-lô muốn các tín đồ Rô-ma biết rằng ông đã cầu nguyện cho họ và cầu xin được cơ hội đến thăm họ (có thể tôi sẽ tìm được cách, theo ý muốn của Đức Chúa Trời, để đến với các bạn).

Phao-lô muốn các tín đồ Rôma biết rằng ông cầu nguyện cho họ và cầu xin cơ hội đến thăm họ (10 trong mọi khi tôi cầu nguyện, thường xin Đức Chúa Trời, bởi ý muốn Ngài, sau lại có thể gặp dịp tiện đi đến nơi anh em).

i.“Không có gì lạ khi họ thịnh vượng đến vậy vì Phao-lô luôn nhắc đến họ trong lời cầu nguyện của mình. Một số hội thánh sẽ thịnh vượng hơn nếu một số người trong các anh chị em nhớ đến họ nhiều hơn trong lời cầu nguyện.” (Spurgeon)

ii.9b“Vì Đức Chúa Trời là chứng nhân của tôi” “Chúa là Đấng làm chứng cho tôi” có lẽ là cách Phao-lô thừa nhận rằng thật dễ dàng khi hứa sẽ cầu nguyện cho ai đó, nhưng rồi lại không làm điều đó. Ông muốn họ biết rằng ông thực sự đã cầu nguyện..#

e.câu 10-11 11 Thật vậy, tôi rất mong mỏi đến thăm anh em, đặng thông đồng sự ban cho thiêng liêng cùng anh em, hầu cho anh em được vững vàng, 12 tức là tôi ở giữa anh em, để chúng ta cùng nhau giục lòng mạnh mẽ bởi đức tin chung của chúng ta, nghĩa là của anh em và của tôi: Mong muốn của Phao-lô khi đến thăm hội thánh ở Rôma không chỉ là để ban phát cho họ, mà còn để nhận lãnh từ họ nữa, bởi vì Phao-lô nhận ra rằng trong đức tin chung của họ, họ cũng có điều gì đó để ban cho ông.

f.13Vả, hỡi anh em, tôi chẳng muốn anh em không biết rằng đã ghe phen tôi toan đi thăm anh em, đặng hái trái trong anh em cũng như trong dân ngoại khác; song về sự đó tôi bị ngăn trở cho đến bây giờ: Từ lâu, Phao-lô đã muốn đến thăm Rôma và chỉ bị cản trở bởi những hoàn cảnh bên ngoài. Có lẽ một số kẻ thù của Phao-lô ngụ ý rằng ông sợ đến Rô-ma để rao giảng Tin Lành tại “võ đường chính”, tức là thành phố trọng yếu nhất của Đế quốc.

g.14 Tôi mắc nợ cả người Gờ-réc lẫn người dã man, cả người thông thái lẫn người ngu dốt: Phao-lô nhận ra rằng mình có một món nợ nào đó với Rô-ma. Đế chế La Mã đã mang lại hòa bình và trật tự cho thế giới; họ đã mang đến cho thế giới một nền văn hóa chung và một hệ thống giao thông tuyệt vời. Phao-lô đã tận dụng tất cả những điều này để truyền bá Tin Lành; vì vậy, cách tốt nhất để ông trả món nợ này là mang Tin Lành về Đức Chúa Giê-su Christ đến cho Rô-ma.

i.Phao-lô là một nhà truyền giáo không mệt mỏi, làm việc khắp thế giới vì ông tin rằng mình có một món nợ cần phải trả, và ông nợ cả thế giới.

h.15Ấy vậy, hễ thuộc về tôi, thì tôi cũng sẵn lòng rao Tin lành cho anh em, là người ở thành Rô-ma: Spurgeon tự hỏi liệu Phao-lô có dùng cụm từ “ Tôi đã sẵn sàng ” làm phương châm sống của mình hay không. Gần như những lời đầu tiên ông nói ra khi được cứu rỗi là: “Lạy Chúa, Ngài muốn con làm gì?” (Công vụ 9:6 nhưng hãy đứng dậy, vào trong thành, người ta sẽ nói cho ngươi mọi điều phải làm).

  • Phao-lô đã sẵn sàng rao giảng và phục vụ (Rô-ma 1:15).
  • Phao-lô sẵn sàng chịu khổ (Công vụ 21:13).
  • Phao-lô sẵn sàng làm những việc khó nhọc (2 Cô-rinh-tô 10:6).
  • Phao-lô đã sẵn sàng chịu chết (2 Ti-mô-thê 4:6).

i.”Một tín đồ Moravian sắp được Zinzendorf cử đi rao giảng tại Greenland. Anh ta chưa từng nghe nói đến nơi đó trước đây; nhưng vị lãnh đạo của anh đã gọi anh lại và hỏi: “Anh ơi, anh có sẵn lòng đi Greenland không?” Anh ta đáp: “Vâng, thưa ngài.” “Khi nào anh sẽ đi?” “Khi đôi ủng của tôi được thợ sửa giày mang về;” và anh ta đã lên đường ngay khi đôi ủng được mang về. Anh ta không cần gì khác ngoài đôi giày đó, và anh ta đã sẵn sàng lên đường. Phao-lô, thậm chí không chờ đôi giày của mình được thợ sửa giày mang về, đã nói: “Tôi đã sẵn sàng.” Ôi, thật tuyệt vời khi tìm thấy một người ít bị vướng bận đến mức có thể đi đến nơi Đức Chúa Trời muốn anh ta đi, và có thể đi ngay lập tức.” (Spurgeon)

i.15btôi cũng sẵn lòng rao Tin lành cho anh em, là người ở thành Rô-ma: Đó là lời nói can đảm. “Hỡi thế gian, hãy nói về những người dũng cảm, những bậc vĩ nhân của các ngươi đi! Trong suốt lịch sử, các ngươi có thể tìm thấy ai giống như Phao-lô? A-lê-xan-đơ, Cê-sa, Na-po-lê-ôn, đã tiến quân dưới sự bảo vệ của quân đội để áp đặt ý chí của họ lên loài người. Phao-lô háo hức tiến quân cùng một mình Đấng Christ đến trung tâm của sự vĩ đại thế gian này, nơi bị Sa-tan chiếm giữ, với lời của thập tự giá, mà chính ông nói là sự vấp phạm đối với người Giu-đa, và sự điên rồ đối với người ngoại.” (Newell)

i.Trớ trêu thay – trong sự trớ trêu đầy bí ẩn của Chúa – khi cuối cùng Phaolô đến được Rôma, ông lại đến với tư cách là một tù nhân sống sót sau vụ đắm tàu.

ii.”Tôi không nghĩ là Phao-lô có thể đoán được rằng mình sẽ được đưa đến đó bằng chi phí của chính quyền La-mã, nhưng điều đó đã xảy ra. Đế chế La Mã phải tìm một con tàu cho ông, và cả một đội hộ tống thích hợp nữa; và ông đã bước vào thành phố với tư cách là một sứ giả bị xiềng xích. Khi lòng chúng ta hướng về một điều gì đó và chúng ta cầu nguyện cho điều đó, Đức Chúa Trời có thể ban phước lành cho chúng ta; nhưng có thể, theo một cách mà chúng ta không bao giờ ngờ tới. Hỡi Phao-lô, ngươi sẽ đến Rôma; nhưng ngươi sẽ phải đi trong xiềng xích” (Spurgeon)

4.(16-17) Phao-lô giới thiệu chủ đề của bức thư: sự công bình của Đức Chúa Trời, như được bày tỏ trong tin lành của Chúa Giê-su Christ.

a.Sau phần giới thiệu, Phao-lô trình bày “luận điểm chính” của thư gửi tín đồ Rô-ma. Leon Morris nhận xét về Rô-ma 1:16 và 17: “Hai câu này có tầm quan trọng vượt xa so với độ dài của chúng.”

b.16Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin lành đâu: Điều này cho thấy tấm lòng của Phao-lô. Tại một thành phố văn minh như Rôma, một số người có thể cảm thấy hổ thẹn về một Tin Lành lấy một Đấng Cứu Thế người Giu-đa bị đóng đinh trên thập tự giá làm trung tâm và được những tầng lớp thấp nhất trong xã hội đón nhận – nhưng Phao-lô không hề hổ thẹn.

c.16bvì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin: Đó là lý do tại sao Phao-lô không hổ thẹn với tin lành lấy một Đấng Cứu Thế bị đóng đinh trên thập tự giá làm trung tâm. Ông biết rằng tin lành – tức là Tin Lành về Chúa Giê-su Christ – có quyền năng nội tại. Chúng ta không ban cho nó quyền năng, mà chỉ cần ngừng cản trở quyền năng của tin lành khi chúng ta trình bày nó một cách hiệu quả.

i.Tin lành chắc chắn là tin tức, nhưng nó còn hơn cả thông tin; nó có một sức mạnh nội tại. “Tin lành không phải là lời khuyên dành cho con người, gợi ý rằng họ phải tự mình vươn lên. Nó chính là quyền năng. Nó nâng họ lên. Phao-lô không nói rằng tin lành mang lại quyền năng, mà nói rằng chính tin lành quyền năng, và là quyền năng của Đức Chúa Trời.” (Morris)

ii.Đặc biệt, thành phố Rô-ma tự cho rằng mình hiểu rõ nhất về quyền năng (quyền lực): “Quyền lực là điều mà La Mã tự hào nhất. Hy Lạp có thể có triết học của họ, nhưng La Mã có quyền lực” (Wiersbe). Bất chấp tất cả quyền lực đó, giống như mọi người, người La Mã đều bất lực trong việc tự làm cho mình trở nên công bình trước mặt Chúa. Triết gia cổ đại Seneca gọi Rô-ma là “ một vũng lầy của sự gian ác” và nhà văn cổ đại Juvenal gọi nó là “một cống rãnh bẩn thỉu nơi cặn bã của đế chảy về”.

iii.Về sự cứu rỗi: Trong thế giới La-mã thời Phaolô, con người tìm kiếm sự cứu rỗi. Các triết gia biết rằng con người đang ốm yếu và cần được giúp đỡ. Epictetus gọi phòng giảng của mình là “bệnh viện cho tâm hồn bệnh tật”. Epicurus gọi giáo lý của mình là “liều thuốc cứu rỗi”. Seneca nói rằng vì con người quá ý thức về “sự yếu đuối và bất tài của mình trong những việc cần thiết” nên tất cả mọi người đều hướng “về sự cứu rỗi”. Epictetus nói rằng con người đang tìm kiếm một nền hòa bình “không phải do Caesar tuyên bố, mà là do Chúa ban”. (Trích dẫn trong Barclay)

iv.Quyền năng cứu rỗi của tin lành đến với tất cả những ai tin. Đức Chúa Trời sẽ không từ chối ơn cứu rỗi đối với người tin; nhưng tin là điều kiện duy nhất.

d.16ctrước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc: Đây là mô hình lan truyền tin lành, được thể hiện qua cả chức vụ của Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 15:24) và chức vụ ban đầu của các môn đồ (Ma-thi-ơ 10:5-6).

Điều này có nghĩa là tin lành trước hết hướng đến người Giu-đa về mặt sắc tộc và văn hóa, rồi sau đó mới đến người Hy Lạp về mặt văn hóa. “Vào thời điểm đó, từ ‘Hy Lạp’ đã hoàn toàn mất đi ý nghĩa chủng tộc. Nó không còn có nghĩa là người bản xứ của Hy Lạp… [một người Hy Lạp] là người am hiểu văn hóa và tư tưởng của Hy Lạp.” (Barclay)

e.17vì trong Tin lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin: Nói một cách đơn giản, tin lành bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời. Sự bày tỏ về sự công bình của Đức Chúa Trời đến với những người có đức tin, làm trọn lời tiên tri Habakkuk 2:4: Người công bình – tức là những người được xưng công bình – sẽ sống bởi đức tin.

i.Điều thiết yếu là phải hiểu chính xác sự công bình của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua tin lành là gì. Tin lành không nói về sự công bình thánh khiết của Đức Chúa Trời lên án kẻ tội lỗi, mà nói về loại công bình của Đức Chúa Trời được ban cho kẻ tội lỗi đặt niềm tin nơi Chúa Giê-su Christ.

ii.Sự công bình: William Barclay giải thích ý nghĩa của từ Hy Lạp cổ đại dikaioo, có nghĩa là “Tôi biện minh”, và là gốc của dikaioun (sự công bình): “Tất cả các động từ trong tiếng Hy Lạp kết thúc bằng oo … luôn có nghĩa là đối xử, xem xét hoặc đánh giá một người như một điều gì đó. Nếu Đức Chúa Trời biện minh cho một tội nhân, điều đó không có nghĩa là Ngài tìm ra lý do để chứng minh rằng người đó đúng – hoàn toàn không phải vậy. Thậm chí, ở điểm này, điều đó không có nghĩa là Ngài biến tội nhân thành người tốt. Điều đó có nghĩa là Đức Chúa Trời đối xử với tội nhân như thể người đó chưa từng là tội nhân.”

iii.“Đó là ngày hạnh phúc nhất trong đời Luther khi ông phát hiện ra rằng ‘Sự công bình của Đức Chúa Trời’ được dùng trong thư Rôma có nghĩa là phán quyết công bình của Đức Chúa Trời dành cho người tin Ngài. ” (Lenski)

iv.Lời tuyên bố này càng trở nên vĩ đại hơn khi chúng ta hiểu rằng đây là sự công bình của Đức Chúa Trời ban cho người tin. Đó không phải là sự công bình của ngay cả người thánh thiện nhất, cũng không phải là sự công bình của A-đam vô tội trong vườn Ê-đen. Đó là sự công bình của Đức Chúa Trời. “Sự công bình dẫn đến sự xưng công bình là sự công bình được đặc trưng bởi sự hoàn hảo thuộc về tất cả những gì Đức Chúa Trời LÀ và LÀM. Đó là ‘sự công bình của Đức Chúa Trời’.” (Murray)

v.Đức tin (sự tin cậy) nơi Chúa Giê-xu Christ trở thành nền tảng của cuộc sống đối với những người được xưng công bình; quả thật, người công bình sẽ sống bởi đức tin. Họ không chỉ được cứu rỗi bởi đức tin, mà họ còn sống bởi đức tin.

f.17bbởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa: Ý nghĩa đằng sau cụm từ khó hiểu này có lẽ là “bởi đức tin từ đầu đến cuối”. Bản dịch NIV dịch cụm từ “từ đức tin này đến đức tin khác ” là “ bởi đức tin từ đầu đến cuối”.

i.“Ngài không nói từ đức tin đến việc làm, hoặc từ việc làm đến đức tin; nhưng nói từ đức tin đến đức tin, tức là chỉ bởi đức tin mà thôi.” (Poole)

ii.Có lẽ điều này muốn nhấn mạnh sự cần thiết phải nhắc nhở người tin rằng đức tin cứu rỗi chỉ là khởi đầu của cuộc đời cơ đốc nhân. Thái độ đó cũng phải chi phối họ trong suốt hành trình tiếp theo với tư cách là con cái của Đức Chúa Trời.” (Harrison) Đây là sự phản ánh thông điệp của thánh Phaolô trong thư Ga-la-ti 3:1-3.

C.Tại sao con người phải được xưng công chính nhờ đức tin: tội lỗi của toàn thể nhân loại.

1.(18a) Mối nguy hiểm lớn nhất mà loài người phải đối mặt: cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời.

a.18Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật: Ý tưởng này tuy đơn giản nhưng đáng suy ngẫm – cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời được bày tỏ từ trời xuống đối với loài người, và loài người xứng đáng phải chịu cơn thịnh nộ ấy.

b.Sự thịnh nộ của Đức Chúa Trời: Đôi khi chúng ta phản đối ý niệm về sự thịnh nộ của Đức Chúa Trời vì chúng ta đánh đồng nó với cơn giận của con người, vốn xuất phát từ những lý do ích kỷ cá nhân hoặc từ lòng mong muốn trả thù. Chúng ta không được quên rằng sự thịnh nộ của Đức Chúa Trời hoàn toàn công bình.

i.“Việc tước bỏ tính chất cảm xúc và tình cảm của sự thịnh nộ của Đức Chúa Trời là không cần thiết và làm suy yếu khái niệm Kinh Thánh về sự thịnh nộ của Ngài… việc diễn giải sự thịnh nộ của Đức Chúa Trời đơn thuần chỉ là quyết tâm trừng phạt tội lỗi của Ngài, hoặc chỉ nhằm đảm bảo mối liên hệ giữa tội lỗi và sự khốn khổ, chẳng khác nào đánh đồng sự thịnh nộ với những hệ quả của nó, và trên thực tế, là xóa bỏ sự thịnh nộ như một tâm thái nội tại trong tâm trí của Đức Chúa Trời. Sự thịnh nộ chính là phản ứng ghê tởm thánh khiết từ bản thể của Đức Chúa Trời đối với bất cứ điều gì đi ngược lại sự thánh khiết của Ngài.” (Murrary)

ii.Trong Rô-ma 1:16, Phao-lô nói về sự cứu rỗi – nhưng chúng ta được cứu khỏi điều gì ? Trước hết và trên hết, chúng ta được cứu khỏi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời mà chúng ta đáng phải chịu. “Nếu không có điều gì cần được cứu khỏi, thì nói về sự cứu rỗi chẳng có ý nghĩa gì.” (Morris)

c.Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời: Trong phần này của thư (Rô-ma 1:18-3:20), mục đích của Phao-lô không phải là loan báo Tin Lành, mà là chứng minh sự cần thiết tuyệt đối của Tin Lành về sự cứu rỗi khỏi cơn thịnh nộ công bình của Đức Chúa Trời.

i.Sự thịnh nộ của Đức Chúa Trời không được bày tỏ trong tin lành, mà được thể hiện qua những trải nghiệm thực tế của kinh nghiệm nhân sinh.

2.(18b-23) Vì sao loài người có tội trước mặt Đức Chúa Trời: những bằng chứng về sự vô đạo đức và bất công của chúng ta.

a.18bnghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình: Điều này đề cập đến những hành vi phạm tội của con người đối với Đức Chúa Trời. Sự không công bình đề cập đến những tội lỗi của con người đối với nhau.

b.18ccủa những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật: Loài người quả thực đã đàn áp lẽ thật của Đức Chúa Trời. Mỗi lẽ thật được Đức Chúa Trời mặc khải cho loài người đều bị chống đối, bị coi thường và bị cố tình che giấu.

c.19Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, 20 bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được: Chúa cho chúng ta thấy một phần quyền phép đời đời và bản chất thần thánh của Ngài thông qua công trình sáng tạo, qua những gì Ngài đã dựng nên. Ngài đã ban cho chúng ta một sự mặc khải chung, điều này thể hiện rõ ràng cả trong công trình sáng tạo lẫn trong tâm trí và trái tim con người.

i.sờ sờ như mắt xem thấy“: Tính chất phổ quát cũng như sự minh bạch của mặc khải này khiến con người không thể còn bất cứ lý do nào để chối bỏ nó. “Con người không thể cáo buộc Thiên Chúa đã che giấu chính Ngài khỏi họ, và nhờ đó lấy cớ để biện minh cho sự vô thần cũng như sự vô đạo đức của mình.” (Lenski)

d.21vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm: Vấn đề không phải là con người không biết Đức Chúa Trời, mà là họ đã biết Ngài – nhưng lại từ chối tôn vinh Ngài là Đức Chúa Trời. Vì vậy, loài người không có lý do bào chữa. Thay vì tôn vinh Đức Chúa Trời, chúng ta đã biến đổi hình ảnh về Ngài thành những hình thức và hình tượng dễ chịu hơn cho trái tim sa đọa và tăm tối của chúng ta.

i.“Xin vui lòng lưu ý rằng, theo đoạn Kinh Thánh của tôi, kiến thức vô ích nếu nó không dẫn đến việc thực hành thánh thiện. ‘Họ biết Đức Chúa Trời.’ Việc họ biết Đức Chúa Trời chẳng có ích gì, vì ‘họ đã không tôn vinh Ngài như Đức Chúa Trời.’ Vì vậy, người bạn thần học của tôi ở đằng kia, người biết nhiều đến mức có thể tranh luận tỉ mỉ về các giáo lý, thì điều bạn nghĩ hay điều bạn biết không quan trọng, trừ khi nó dẫn bạn đến việc tôn vinh Đức Chúa Trời và biết ơn.” (Spurgeon)

ii.Chúng ta dường như không thể cưỡng lại cám dỗ tạo ra hình ảnh Đức Chúa Trời theo hình ảnh méo mó của chính mình, hoặc thậm chí là một hình ảnh còn thấp kém hơn cả chúng ta. Thật bi thảm, chúng ta không thể tránh khỏi việc trở nên giống như vị Thần mà chúng ta phụng sự.

iii.Điều hết sức cần thiết là chúng ta phải liên tục so sánh quan niệm của chính mình về Đức Chúa Trời với thực tại về Đức Chúa Trời như được mặc khải trong Lời Ngài. Chúng ta cũng có thể mắc phải sai lầm khi tôn thờ một Đức Chúa Trời do chính mình tự tạo nên.

iv.Từ “hình ảnh” trong Rô-ma 1:23 là từ tiếng Hy Lạp cổ ” eikon”. Thật nguy hiểm khi biến vinh quang của Đức Chúa Trời bất diệt thành một “eikon ” (hình ảnh) do chính mình lựa chọn.

e.không tạ ơn Ngài nữa: Sự vô ơn đơn thuần của con người đối với Chúa thật đáng kinh ngạc. “Tôi chẳng thể nói điều gì tệ hại hơn về một con người, ngoài việc nói rằng kẻ ấy không biết ơn những ân nhân của mình; và khi bạn nói rằng kẻ ấy không biết ơn Chúa, thì đó chính là điều tồi tệ nhất mà bạn có thể nói về người đó.” (Spurgeon)

i.“Nhưng khi bạn tôn vinh Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời, và biết ơn mọi sự – khi bạn có thể cầm lấy một mẩu bánh mì và một cốc nước lạnh, và nói với người Thanh giáo (Puritan) nghèo khổ, ‘Tất cả những thứ này, và cả Đấng Christ nữa sao?’ – thì bạn sẽ hạnh phúc, và bạn làm cho người khác hạnh phúc. Một nhà thuyết giáo mộ đạo, khi thấy bữa tối chỉ có một củ khoai tây và một con cá trích, đã tạ ơn Chúa vì ông đã lùng sục khắp biển cả và đất liền để tìm thức ăn cho con cái mình. Một tinh thần ngọt ngào như vậy sẽ sinh ra tình yêu thương đối với mọi người, và làm cho con người sống vui vẻ trên đời.” (Spurgeon)

f.22Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại; 23 họ đã đổi vinh hiển của Đức Chúa Trời không hề hư nát lấy hình tượng của loài người hay hư nát, hoặc của điểu, thú, côn trùng: Việc chúng ta từ chối sự mặc khải chung của Chúa không làm cho chúng ta thông minh hơn hay tốt đẹp hơn. Thay vào đó, nó làm cho loài người trở nên vô ích trong suy nghĩ và làm cho trái tim ngu dại của chúng ta trở nên tối tăm – và chúng ta trở thành những kẻ ngu dại.

i.Thực tế là một khi con người từ chối lẽ thật của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-su, người đó sẽ dễ dàng tin vào bất cứ điều gì dại dột, và tin tưởng vào những hệ thống yếu kém và hão huyền hơn nhiều so với những gì người đó từ chối từ Đức Chúa Trời.

ii.Sự vô ích trong suy nghĩ, sự tối tăm trong tâm hồn và sự dại dột này phải được xem như một ví dụ về cơn thịnh nộ chính đáng của Chúa đối với những người từ chối những gì Ngài mặc khải. Một phần phán xét của Ngài đối với chúng ta là cho phép chúng ta phải chịu đựng những tổn hại mà con đường tội lỗi của chúng ta gây ra.

3.(24-32) Hậu quả bi thảm của tội lỗi con người trước mặt Chúa.

a.24Cho nên Đức Chúa Trời đã phó họ sa vào sự ô uế theo lòng ham muốn mình, đến nỗi tự làm nhục thân thể mình nữa: Trong cơn thịnh nộ và sự phán xét công bình của Ngài, Đức Chúa Trời phó mặc con người cho tội lỗi mà lòng dạ ác độc của chúng ta khao khát, cho phép chúng ta trải nghiệm hậu quả tự hủy hoại do tội lỗi gây ra. Câu này rất quan trọng đến nỗi Phao-lô lặp lại ba lần trong đoạn này.

i.Ô-sê 4:17 diễn tả khía cạnh phán xét của việc Đức Chúa Trời “bỏ mặc chúng ta”, để mặc chúng ta với tội lỗi của chính mình: “Ép-ra-im say mê thần tượng, hãy để mặc nó!

ii.Chúng ta mắc sai lầm khi nghĩ rằng chính lòng thương xót hay sự nhân từ của Chúa cho phép con người tục sống trong tội lỗi. Thực ra, chính sự thịnh nộ của Ngài mới cho phép chúng ta tiếp tục tự hủy hoại bản thân bằng tội lỗi.

b.25vì họ đã đổi lẽ thật Đức Chúa Trời lấy sự dối trá, kính thờ và hầu việc loài chịu dựng nên thế cho Đấng dựng nên, là Đấng đáng khen ngợi đời đời! A-men? Trong mọi sự phản nghịch và bất tuân chống lại Đức Chúa Trời, chúng ta đều đánh đổi chân lý của Đức Chúa Trời lấy sự dối trá do chính mình lựa chọn, và đặt tạo vật lên trên Đấng Tạo Hóa.

i.Phao-lô dùng mạo từ xác định – không phải là một sự dối trá, mà là sự dối trá. sự dối trá về bản chất là sự thờ thần tượng – điều này đặt chúng ta vào vị trí của Đức Chúa Trời. Đó là sự dối trá rằng các ngươi sẽ giống như Đức Chúa Trời (Sáng thế ký 3:5).

c.26-27 26 Ấy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho sự tình dục xấu hổ; vì trong vòng họ, những người đàn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên. 27 Những người đàn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đàn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đàn ông cùng đàn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình: Phao-lô viết điều này từ thành Cô-rinh-tô, nơi mọi hình thức dâm loạn và mại dâm mang tính nghi lễ (bợm vĩ gian, 2Các Vua 23:7) được thực hành cách tự do. Thuật ngữ trong Rô-ma 1:24 đề cập đến sự kết hợp này giữa vô luân tình dục và thờ thần tượng.

i.Đây là phần mở đầu của một đoạn Kinh Thánh, trong đó Phao-lô mô tả tội lỗi và sự bại hoại của thế giới ngoại giáo với một sự thẳng thắn đến kinh ngạc – thẳng thắn đến mức Spurgeon từng cho rằng đoạn này không thích hợp để đọc trước công chúng. “Chương đầu tiên của Thư Rô-ma là một phần thật kinh khiếp trong Lời Đức Chúa Trời. Tôi hầu như không muốn đọc to toàn bộ đoạn này; nó không được định sẵn để sử dụng theo cách đó. Hãy đọc nó tại nhà, và hãy rùng mình trước những thói hư tật xấu khủng khiếp của thế giới ngoại giáo.” (Spurgeon)

d.26bnhững người đàn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên: Phao-lô dùng đồng tính luyến ái – cả ở dạng nữ và nam – làm ví dụ về việc Đức Chúa Trời phó mặc loài người cho sự ô uế và dục vọng.

i.Có người cho rằng Kinh Thánh không hề lên án đồng tính nữ, nhưng câu tương tự trong Rô-ma 1:27 cho thấy rõ ràng rằng tội lỗi đồng tính luyến ái bị lên án trong Rô-ma 1:27 có liên quan đến tội lỗi của phụ nữ được đề cập trong Rô-ma 1:26.

ii.Ở đây, Phao-lô thậm chí không dùng những từ ngữ thông thường để chỉ đàn ông phụ nữ; ông dùng những từ ngữ chỉ nam giới (giống đực) nữ giới (giống cái), sử dụng các phạm trù mô tả tình dục nằm ngoài phạm trù của con người, bởi vì loại tội lỗi tình dục mà ông mô tả nằm ngoài phẩm giá con người.

iii.Phao-lô xếp toàn bộ phần này vào ý niệm về những tình dục xấu hổ (dục vọng đồi bại-BD2011; tình dục bỉ ổi-BD2002; ) – không lành mạnh, không thánh thiện. Tuy nhiên, Phao-lô sống trong một nền văn hóa công khai chấp thuận đồng tính luyến ái. Phao-lô không viết điều này cho một nền văn hóa cùng quan điểm với ông.

iv.Phao-lô viết cho một nền văn hóa nơi đồng tính luyến ái được chấp nhận như một phần của cuộc sống đối với cả nam và nữ. Trong khoảng 200 năm, những người đàn ông cai trị Đế chế Rô-ma đã công khai thực hành đồng tính luyến ái, thường là với các cậu bé (knabenschänder: kẻ xâm hại trẻ em).

v.Đôi khi, Đế chế Rô-ma đánh thuế cụ thể vào hoạt động mại dâm đồng tính được hợp pháp hóa và cho phép các cậu bé mại dâm được nghỉ lễ. Hôn nhân hợp pháp giữa các cặp đôi đồng giới được công nhận, và thậm chí một số hoàng đế còn kết hôn với những người đàn ông khác. Chính vào thời điểm Phaolô viết những dòng này, Nero đang làm hoàng đế. Ông ta lấy một cậu bé tên là Sporus, thiến cậu ta, rồi cưới cậu ta (với một nghi lễ long trọng), đưa cậu ta đến cung điện với một đám rước lớn, và biến cậu bé thành “vợ” của mình. Sau đó, Nero sống với một người đàn ông khác, và Nero là “vợ” của người đàn ông đó.

vi.Trong văn hóa hiện đại, hành vi đồng tính luyến ái phản ánh sự buông thả, buông thả mình vào sự ô uế, theo dục vọng của trái tim, làm ô nhục thân thể của nhau. Một nghiên cứu năm 2013 đã chứng minh rằng nam giới đồng tính có trải nghiệm tình dục lần đầu sớm hơn đáng kể, có nhiều bạn tình hơn trong suốt cuộc đời và có nhiều khả năng có nhiều hơn một bạn tình cùng một lúc so với nam giới dị tính (heterosexuals) hoặc nữ giới. Nam giới đồng tính cũng có nhiều bạn tình lớn tuổi hơn hoặc trẻ hơn đáng kể so với nam giới dị tính hoặc nữ giới. (Glick, Morris, Foxman; https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3334840/ )

vii.Các nghiên cứu khác chỉ ra rằng nam giới đồng tính có nhiều bạn tình (từ 4 người trở lên trong 12 tháng cuối cùng) với tỷ lệ cao gấp gần ba lần so với nam giới dị tính và gấp gần tám lần so với nữ giới dị tính. (England, Brown, https://contexts.org/blog/an-unequal-distribution-of-partners-gays-versus-straights/ )

e.27bvà chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình.: Phao-lô nói về hình phạt cho hành vi đồng tính luyến ái; bản thân đồng tính luyến ái đã mang trong mình một hình phạt. Điều này cho thấy bản chất tự hủy hoại của tội lỗi; nó thường tự mang trong mình hình phạt của chính nó.

i.Đôi khi đó là hình phạt của bệnh tật, hậu quả của việc vi phạm trật tự tự nhiên. Đôi khi đó là hình phạt của sự nổi loạn, dẫn đến sự trống rỗng về tinh thần và tất cả những hệ lụy của nó. Theo nghĩa này, thuật ngữ “đồng tính” là sự ảo tưởng. Nó truyền tải thông điệp rằng có điều gì đó về bản chất hạnh phúc và vô tư trong lối sống đồng tính – điều mà thực tế không phải vậy.

f.Một lần nữa, “quyền tự do” bất tuân này nên được xem là sự phán xét của Chúa, chứ không phải lòng thương xót của Ngài; những người thực hiện những hành vi như vậy đang tự chuốc lấy hình phạt cho lỗi lầm của mình.

g.28Tại họ không lo nhìn biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã phó họ theo lòng hư xấu, đặng phạm những sự chẳng xứng đáng. Như một sự phán xét khác, Chúa để mặc con người cho một tâm trí suy đồi, khiến những điều đáng hổ thẹn và ghê tởm dễ dàng được chấp nhận và tán thành.

i.Từ “debased ” (hoặc ” reprobate ” trong bản Kinh Thánh King James) ban đầu có nghĩa là “điều không vượt qua được thử thách”. Nó được dùng để chỉ những đồng tiền không đạt tiêu chuẩn và do đó bị loại bỏ. Ý tưởng là vì con người không “chấp nhận” việc biết Chúa, nên họ có một tâm trí “không được chấp nhận”.

ii.“Loài người đã thử thách Đức Chúa Trời nhằm mục đích chấp nhận Ngài xem liệu Ngài có đáp ứng được những tiêu chí mà họ đặt ra cho một vị Thần mà họ muốn hay không, và khi nhận thấy Ngài không đáp ứng được những tiêu chí đó, họ đã từ chối chấp nhận Ngài là vị Thần để thờ phượng, hoặc để Ngài hiện hữu trong nhận thức của họ.” (Wuest)

iii. tâm trí bại hoại (BD2011); tâm trí hư hỏng (BD2002) : Sự phản nghịch của chúng ta chống lại Đức Chúa Trời không chỉ thể hiện qua hành động mà còn qua suy nghĩ. Chúng ta thực sự “điên loạn về mặt tâm linh” trong sự phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời.

h.29-32 BHĐ “29Họ đầy dẫy mọi điều bất chính, gian ác, tham lam, hiểm độc; lòng đầy ganh tị, giết người, gây gổ, dối trá, nham hiểm; 30 nói hành, vu khống, thù ghét Đức Chúa Trời, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, chuyên làm điều ác, không vâng lời cha mẹ; 31 dại dột, bội tín, không có tình người, không có lòng thương xót. 32 Họ thừa biết luật của Đức Chúa Trời định rằng những ai phạm các tội như thế là đáng chết, vậy mà chẳng những họ làm những điều đó lại còn tán thành cho người khác làm nữa.” Danh sách trong Rô-ma 1:29-31 đưa ra những ví dụ cụ thể về những điều không phù hợp | “những sự chẳng xứng đáng” (câu 28b). Hãy chú ý cách những tội lỗi “được xã hội chấp nhận” (như tham lam, ghen tị và kiêu ngạo) được liệt kê cùng với những tội lỗi “không được xã hội chấp nhận” (như giết người và thiếu tình yêu thương).

i.tham lam: Từ này theo nghĩa đen mô tả sự thèm muốn có được nhiều hơn.

ii.nói hành (Ohrenbläser: rỉ tai): “Những kẻ nói xấu bí mật; những người, dưới vỏ bọc bí mật, lan truyền những lời buộc tội chống lại hàng xóm của họ, dù đúng hay sai; hủy hoại danh tiếng của họ bằng những lời đồn thổi lén lút.” (Clarke)

iii.Ghen tị: Đây có phải là một tội nhỏ? Ghen tị mạnh đến nỗi, theo một nghĩa nào đó, nó đã đưa Chúa Giê-su lên thập tự giá. Phi-lát biết rằng họ đã nộp Ngài vì ghen tị (Ma-thi-ơ 27:18).

iv.Kiêu ngạo: “Những người liên tục tự tôn mình lên và hạ thấp người khác; tự đề cao bản thân bằng cách làm tổn hại đến người xung quanh; và muốn mọi người coi lời nói của họ như lời tiên tri.” (Clarke)

i.Những ai “làm những điều đó lại còn tán thành cho người khác làm nữa đều đáng chết; họ xứng đáng là đối tượng của cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời.

j.Bạo lực, vô đạo đức, tàn ác và suy đồi này bắt nguồn từ đâu? Nó xảy ra khi con người từ bỏ sự hiểu biết chân chính về Đức Chúa Trời, và hiện trạng xã hội phản ánh sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với họ.

©1996–present The Enduring Word Bible Commentary by David Guzik – 

https://enduringword.com/bible-commentary/romans-1/