Giăng 19 – Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá

Giăng 19 – Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá.

A.Chúa Giê-su bị kết án đóng đinh trên thập tự giá.

1.(1-4) Phi-lát hy vọng làm hài lòng đám đông bằng cách cho đánh đòn và chế nhạo Chúa Giê-su.

a.1Bấy giờ, Phi-lát bắt Đức Chúa Jêsus và sai đánh đòn Ngài: Trước đó, Phi-lát đã nói về Chúa Giê-su rằng: “Ta không tìm thấy người nầy có tội gì cả” (Giăng 18:38 BHĐ), thế mà ông lại ra lệnh trừng phạt tàn bạo và nghiêm khắc như vậy đối với một người mà ông biết là vô tội. Có ý kiến cho rằng Phi-lát muốn giúp Chúa Giê-su, hy vọng đám đông sẽ hài lòng với việc đánh đòn.

b.Đánh đòn Ngài: Phi-lát ra lệnh, nên Chúa Giê-su bị đánh đòn theo tục lệ của người La Mã. Những cú đánh đến từ một chiếc roi có nhiều sợi da, mỗi sợi đều có những mảnh xương hoặc kim loại sắc nhọn ở đầu. Nó làm cho lưng bị trầy xước đến tận da thịt, và việc một tội phạm chết vì bị đánh đòn không phải là điều hiếm gặp, ngay cả trước khi bị đóng đinh trên thập tự giá.

i.Việc đánh đònba mục đích. Nó được dùng để trừng phạt tù nhân và để lấy lời thú tội từ tù nhân. Ngoài ra, trong trường hợp đóng đinh, việc đánh đòn được dùng để làm suy yếu nạn nhân, giúp họ chết nhanh hơn trên thập tự giá. Phi-lát hy vọng rằng hình phạt này đối với tù nhân của mình sẽ làm hài lòng đám đông. “Vì vậy, không phải như một phần của hình phạt tử hình, cũng không phải để moi ra sự thật; nhưng với hy vọng sai lầm rằng hình phạt nhẹ này có thể làm hài lòng người Giu-đa, Phi-lát đã ra lệnh đánh đòn.” (Dods)

ii.“Nạn nhân của hình phạt khắc nghiệt này bị trói trong tư thế khom lưng vào một cột thấp và bị đánh bằng gậy hoặc bị quất bằng roi, phần da roi được buộc thêm chì và gắn những mảnh xương nhọn, khiến cho mỗi nhát đánh đều gây ra những vết rách khủng khiếp.” (Dods)

iii.“Nó thực sự xé toạc lưng người đàn ông ra từng mảnh. Rất ít người còn tỉnh táo suốt quá trình tra tấn; một số người đã chết; và nhiều người trở nên điên loạn.” (Barclay)

iv.“Đây là một ví dụ khác về sự dè dặt của các Phúc Âm khi chỉ sử dụng một từ để mô tả sự kinh hoàng này. Không hề có nỗ lực nào nhằm tác động đến cảm xúc của chúng ta.” (Morris)

c.câu 2-3 2 Bọn lính đan một cái mão triều bằng gai, đội trên đầu Ngài, và mặc cho Ngài một cái áo điều. 3 Đoạn, họ đến gần, nói với Ngài rằng: Lạy Vua dân Giu-đa!”. Tất cả những điều này đều nhằm mục đích làm nhục Chúa Giê-su. Các nhà lãnh đạo Giu-đa đã từng chế nhạo Chúa Giê-su là Đấng Mê-si (Ma-thi-ơ 26:67-68). Giờ đây, chính quyền La Mã lại chế nhạo Ngài với tư cách là vua.

  • Bọn lính đan một cái mão triều bằng gai: Các vị vua đội vương miện, nhưng không phải là vương miện tra tấn. Những bụi gai đặc trưng của vùng này có gai dài, cứng và sắc nhọn. Đó là một chiếc vương miện đã cứa, đâm xuyên thấu và làm chảy máu đầu vị Vua đội nó.
  • mặc cho Ngài một cái áo điều: Các vị vua và người cai trị thường mặc màu tím, bởi vì thuốc nhuộm để tạo ra loại vải màu đó rất đắt tiền. Chiếc áo choàng màu tím được dùng như một sự mỉa mai cay nghiệt.
  • Lạy Vua dân Giu-đa!Các vị vua được chào đón bằng tước hiệu hoàng gia, vì vậy, để tỏ sự khinh miệt, họ đã chế nhạo Chúa Giê-su bằng tước hiệu này. Điều đó nhằm mục đích làm nhục Chúa Giê-su, nhưng cũng nhằm làm nhục dân Giu-đa – nói rằng, “Đây là vị vua tốt nhất mà họ có thể đưa ra.”
  • Các binh lính cũng đánh đập và chế nhạo Chúa Giê-su chỉ để thỏa mãn sự tàn ác và gian tà của họ.
  • Phúc âm Ma-thi-ơ kể thêm rằng Chúa Giê-su bị lột trần, bị trao một cây sậy như chế nhạo quyền trượng của hoàng gia, các binh lính quỳ gối trước Chúa Giê-su, tỏ lòng kính trọng và tôn kính một cách chế nhạo, và họ nhổ nước bọt vào Chúa Giê-su.

i.Chúng ta cũng có thể quyết định làm điều ngược lại với những gì họ đã làm với Chúa Giê-su. “ Ôi, giá như chúng ta có được một nửa sự sáng chế trong việc bày tỏ lòng tôn kính đối với Vua của chúng ta như những người lính này đã mưu tính làm nhục Ngài! Chúng ta hãy dâng lên Đấng Christ sự tôn kính chân thành mà những người này đã giả vờ dâng lên Ngài.” (Spurgeon)

d.4Phi-lát lại ra một lần nữa, mà nói với chúng rằng: Đây nầy, ta dẫn người ra ngoài, để các ngươi biết rằng ta không tìm thấy người có tội lỗi chi: Phi-lát lặp lại lời tuyên bố được ghi lại lần đầu tiên ở Giăng 18:38, khẳng định Chúa Giê-su vô tội. Là một quan tòa, Phi-lát có cả lý do lẫn trách nhiệm để thả Chúa Giê-su mà không áp dụng bất kỳ hình phạt nào, thay vì để Ngài phải chịu sự sỉ nhục và sự tàn bạo mà Ngài đã phải gánh chịu.

i.“Phi-lát đã năm lần cố gắng thả Chúa chúng ta; như chúng ta có thể thấy trong Lu-ca 23:4, 15, 20, 22; Giăng 19:4, 12, 13” (Clarke)

2.(5-6) Phi-lát giới thiệu Chúa Giêsu với đám đông.

a.5Vy, Đc Chúa Jêsus đi ra, đu đi mão triu gai, mình mc áo điu; và Phi-lát nói cùng chúng rng: Kìa, xem người ny! Phi-lát đưa Chúa Giê-xu ra trước đám đông với dáng vẻ bị đánh đập và nhạo báng, người đầy máu, mồ hôi và nước bọt. Có lẽ Pilate hy vọng cảnh tượng thảm thương đó sẽ khiến đám đông cảm thấy thương xót Chúa Giê-su.

i.“Ngài vẫn đội vương miện này cho đến phút cuối cùng: cả Origen và Tertullian, hai trong số những Giáo phụ đầu tiên của Giáo hội Đông và Tây, đều khẳng định rằng Ngài đã bị đóng đinh trên thập tự giá với vương miện đó trên đầu.” (Trench)

ii.“Đã có biết bao vương miện được giành bằng máu, và vương miện này cũng vậy, nhưng đó là máu của chính Ngài; Đã có biết bao ngai vàng được thiết lập bằng đau khổ, và ngai vàng này cũng vậy, nhưng chính Ngài gánh chịu nỗi đau đó.” (Spurgeon)

b.Kìa, xem người ny!: Phi-lát mời đám đông nhìn xem Đấng đang chịu khốn khổ này, và nhìn với sự cân nhắc kỹ lưỡng (Kìa, xem người ny!). Ở đây, Theo một nghĩa nào đó Phi-lát đã nói thay cho Đức Chúa Trời, Đấng mời gọi toàn thể nhân loại nhìn xem Người, nhìn thấy Con Người của loài người, Con Người Hoàn Hảo, hình mẫu lý tưởng đã được thử thách và chứng thực của toàn thể nhân loại.

i.“Người đàn ông đó tỏ ra khinh miệt. Phi-lát đang ngầm nói rằng: ‘Đây là hắn – kẻ đáng thương. Các ngươi có thực sự nghĩ rằng một hình ảnh biếm họa về một vị vua như vậy lại gây mối nguy hiểm đối với Israel hay La Mã sao?’” (Tasker)

ii.“Nếu các ngươi là đàn ông, hãy thương xót người bị đối xử tệ bạc như vậy; và nếu các ngươi là người tốt, hãy để cho người vô tội ấy được đi.” (Trapp)

iii.Phi-lát nghĩ rằng ông có thể cứu Chúa Giê-su bằng cách làm nhục Ngài. Một số người ngày nay cũng làm như vậy; họ nghĩ rằng bằng cách nói rằng Chúa Giê-su không phải là Đức Chúa Trời hoặc rằng Ngài không đúng về mọi điều, họ có thể “cứu” Chúa Giê-su, giữ cho Ngài vẫn phù hợp với thời đại hiện đại, tiến bộ và khoa học. Những nỗ lực như vậy cũng sai lầm như những gì Phi-lát đã làm.

iv.“Dù ý định của Phi-lát là gì đi chăng nữa, hình ảnh của Chúa Giê-su cũng không thể khơi dậy trong lòng đám đông bất kỳ sự thương xót nào dành cho Ngài, và họ la hét đòi giết Ngài.” (Morgan)

c.6Nhưng khi các thy tế l c và các k sai thy Ngài, thì kêu lên rng: Hãy đóng đinh hn trên cây thp t, hãy đóng đinh hn trên cây thp t! Chúng ta không được biết phản ứng tức thì của đám đông; có lẽ họ đã cảm thấy một chút thương cảm cho người đàn ông mạnh mẽ, phi thường này trong hoàn cảnh như vậy. Dù đám đông cảm thấy thế nào, các lãnh đạo tôn giáo ngay lập tức la hét “hãy đóng đinh hn trên cây thp t!” Đây là sự thù hận thuần túy, sự thù hận của con người đối với Đức Chúa Trời.

i.“Có lẽ trong đám đông đã nảy sinh chút thương cảm, nhưng các thầy tế lễ và những người thân cận của họ đã dập tắt nó bằng tiếng la hét đầy căm hận khi nhìn thấy tù nhân.” (Maclaren)

ii.“Vì vậy, sau đó những kẻ bức hại thời kỳ đầu đã kêu lên: Ad bestias, ad bestias, Christianos ad leones, tức là lũ thú dữ, lũ thú dữ, cơ đốc nhân, lũ sư tử, đổ lỗi cho họ về mọi tai họa công cộng, như Tertullian đã chứng thực.” (Trapp)

d.6bPhi-lát nói cùng chúng rng: Chính mình các ngươi hãy bt mà đóng đinh người; bi vì v phn ta không thy người có ti li chi hết: Lần thứ ba, Phi-lát tuyên bố Chúa Giê-su vô tội trước mọi cáo buộc.

i.“Phi-lát hẳn đã nhận ra rằng Tòa Công luận không thể thi hành bản án. Việc ông ta dường như đẩy trách nhiệm xử lý Chúa Giê-su sang cho họ thực ra là một hành động mỉa mai.” (Tenney)

3.(7-9) Phi-lát biết được lời buộc tội chống lại Chúa Giê-su.

a.7Dân Giu-đa li nói rng: Chúng tôi có lut, chiếu lut đó hn phi chết; vì hn t xưng là Con Đc Chúa Tri: Trong sách Phúc Âm Giăng, các lãnh đạo tôn giáo đã dùng điều này để bộc lộ cáo buộc thực sự của họ đối với Chúa Giê-su. Họ muốn Ngài chết không phải vì Ngài tự xưng là Vua của người Giu-đa, mà vì Ngài tự xưng là Đức Chúa Trời, Con Một duy nhất của Đức Chúa Trời.

i.“Chắc chắn rằng người Giu-đa hiểu điều này theo một nghĩa rất đặc biệt. Khi Đấng Christ tự xưng là Con Đức Chúa Trời, họ hiểu điều đó hàm ý sự bình đẳng tuyệt đối với Đấng Tối Cao.” (Clarke)

b.8Khi Phi-lát đã nghe li đó, li càng thêm s hãi na: Phi-lát không tức giận hay vui mừng khi biết rằng Chúa Giê-su tự xưng là Con Đức Chúa Trời, ông càng sợ Chúa Giê-su hơn bao giờ hết. Phi-lát nhìn thấy điều gì đó nơi Chúa Giê-su – ngay cả khi bị đánh đập, chảy máu và bị nhổ nước bọt – khiến ông nghĩ rằng có thể đúng là Người trước mặt ông không chỉ là một người bình thường.

i.“Có thể là cụm từ so sánh “càng sợ hãi” nên được gán cho một mức độ cao nhất, như thường thấy trong tiếng Hy Lạp của Tân Ước, và được dịch là “sợ hãi vô cùng.”  (Tasker)

ii.“Khó có thể gọi ông ta là một người mộ đạo, nhưng tin tức về việc tù nhân của ông ta đưa ra những lời tuyên bố thần thánh đã khiến viên thống đốc sợ hãi…mọi người La Mã thời đó đều biết những câu chuyện về các vị thần hoặc hậu duệ của họ xuất hiện dưới hình dạng con người.” (Morris)

c.9Người li tr vào nơi trường án mà nói vi Đc Chúa Jêsus rng: Ngươi t đâu? Nhưng Đc Chúa Jêsus không đáp gì hết: Phi-lát muốn Chúa Giê-su tự bào chữa và đưa ra thêm lý do để thả một người vô tội. Ông muốn Chúa Giê-su giải thích điều gì khiến Ngài khác biệt so với hàng chục tù nhân khác mà Phi-lát đã xét xử. Tuy nhiên, Chúa Giê-su đã nói với Phi-lát rằng Ngài là Vua của một vương quốc không thuộc về thế gian này (Giăng 18:36); Chúa Giê-su cũng đã nói Ngài đến từ đâu. Vì vậy, Chúa Giê-su không trả lời ông.

i.Mặc dù ông đã có câu trả lời, nhưng có thể nói Phi-lát đã đặt câu hỏi đúng. “Câu hỏi của ông gần như là câu hỏi thích hợp nhất có thể hỏi về Ngài, vì biết Chúa Giê-su đến từ đâu chính là biết điều quan trọng nhất về Ngài.” (Tasker)

4.(10-11) Phi-lát và Chúa Giê-su nói về quyền lực.

a.10Phi-lát hi Ngài rng: Ngươi chng nói chi vi ta hết sao? Phi-lát không thể tin rằng Chúa Giê-su lại không lên tiếng bào chữa cho mình. Ông không thể tin rằng Chúa Giê-su lại không cầu xin tha mạng như nhiều người khác đã làm. Phi-lát cũng không thể tin rằng Chúa Giê-su lại không hề kính sợ hay e ngại trước viên đại diện của La Mã đang xét xử Ngài.

i.“Từ ‘Ta’ trong tiếng Hy Lạp được nhấn mạnh rất mạnh; chính việc Chúa Giê-su từ chối nói chuyện với người nắm giữ quyền lực tối cao như vậy đã khiến Phi-lát kinh ngạc.” (Tasker)

ii.Sự im lặng chung của Chúa Giê-su trước những người tố cáo và xét xử Ngài đã ứng nghiệm lời tiên tri trong Ê-sai 53:7 : như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng.”.

b.10bNgươi há chng biết rng ta có quyn buông tha ngươi và quyn đóng đinh ngươi sao? Phi-lát kinh ngạc vì Chúa Giê-su không hề nao núng trước quyền lực của ông ta với tư cách là quan tòa để kết án và đóng đinh. Theo quan niệm về quyền lực của mình, Phi-lát cảm thấy mình nắm giữ vị trí quyền lực và rất khó hiểu khi Chúa Giê-su không nhận ra điều đó.

i.Phi-lát nghĩ mình có quyền lực, nhưng thực ra ông chỉ có quyền lực để làm điều sai trái, để gây hại. Ông không có quyền lực để làm điều đúng đắn. Điều đúng đắn cần làm là thả một Người rõ ràng vô tội thay vì kết án tử hình Ngài, nhưng Pilate đã khuất phục trước sức mạnh của các nhà lãnh đạo tôn giáo và đám đông do họ điều khiển. Nói rằng: “Tôi có quyền lực để làm theo ý muốn của đám đông” cũng chính là thừa nhận rằng mình chẳng có quyền lực gì cả.

ii.Chính người đàn ông tự nhận mình có toàn quyền đó lại cố rũ bỏ trách nhiệm về quyết định này (Ma-thi-ơ 27:24), bằng cách nói: “Thật ra tôi không muốn làm điều này”

c.11Đc Chúa Jêsus đáp rng: Nếu chng phi t trên cao đã ban cho ngươi, thì ngươi không có quyn gì trên ta: Chúa Giê-su đáp lại, giải thích bản chất thực sự của quyền lực cho Phi-lát. Trong suy nghĩ của viên thống đốc La Mã, La Mã mới là kẻ nắm giữ quyền lực. Nhưng trên thực tế, Đức Chúa Trời mới là Đấng nắm giữ quyền lực.

  1. Chúa Giê-su hiểu rằng Phi-lát có quyền lực; Ngài chỉ nhấn mạnh rằng quyền lực này được ban bởi Đức Chúa Trời chứ không phải là quyền lực vốn có của Phi-lát hay của Đế quốc La Mã.

d.11bvy nên, k np ta cho ngươi là có ti trng hơn na: Chúa Giê-su không nói Phi-lát không có tội; chỉ đơn giản là các nhà lãnh đạo tôn giáo mới là những người phạm tội nặng hơn.

i.”k np ta cho ngươi” có thể là Giuđa hoặc Cai-phe, và ngôn ngữ của tác giả Phúc Âm dường như cố tình mơ hồ. (Tasker)

ii.“Động từ ‘giao nộp’ (tiếng Hy Lạp: paradidomai) đã được sử dụng nhiều lần trong phần đầu của câu chuyện để chỉ hành động phản bội của Giuđa.” (Bruce)

5.(12-13) Phi-lát dẫn Chúa Giê-su ra xét xử.

a.12T lúc đó, Phi-lát kiếm cách đ tha Ngài; nhưng dân Giu-đa kêu lên rng: Chúng ta cảm nhận được sự hoảng loạn trong lòng quan tổng trấn La Mã. Sự hoảng loạn ấy càng tăng lên khi vợ ông khuyên ông nên thả người bị cáo vì một giấc mơ mà bà đã thấy (Ma-thi-ơ 27:19-20). Ông biết rằng Người vô tội này, một Người không giống bất kỳ tù nhân nào ông từng thấy trước đây, đáng lẽ phải được thả tự do – song ông lại cảm nhận trọn vẹn sức ép từ đám đông và các nhà lãnh đạo tôn giáo đang đòi đóng đinh Người trên thập tự giá.

i.Từ đó trở đi: “Có thể được hiểu theo nghĩa thời gian là ‘từ thời điểm đó’; hoặc theo nghĩa suy luận, như trong bản RSV, ‘Sau đó’. Cách hiểu thứ hai có vẻ hợp lý hơn. Phi-lát cảm thấy được nịnh nọt bởi những lời Đức Giê-su đã nói trong câu 11 và do đó càng cố gắng hơn nữa để thả Ngài ra.” (Tasker)

b.12bVí bng quan tha người ny, thì quan không phi là trung thn ca Sê-sa; vì h ai t xưng là vua, y là xướng lên nghch cùng Sê-sa vy! Theo một số nguồn (như Boice), Phi-lát là một người bình thường, chỉ có được chức vụ nhờ kết hôn với cháu gái của hoàng đế. Vì chỉ giữ được chức vụ nhờ mối quan hệ gia đình, Phi-lát hẳn rất lo ngại rằng mối quan hệ đó sẽ bị tổn hại. Các nhà lãnh đạo tôn giáo và đám đông biết rõ điểm yếu của Phi-lát và họ đã khai thác điều đó.

i.“Xét về mặt con người, việc nhắc đến Sê-sa đã định đoạt số phận của Chúa Giê-su.” (Morris)

ii.“Cụm từ ‘trung thn ca Sê-sa |một người bạn của Sê-sa’ không chỉ đơn thuần là ám chỉ lòng yêu nước của người La Mã. Nó thường dùng để chỉ một người ủng hộ hoặc cộng sự của hoàng đế, những thành viên thuộc vòng tròn thân tín quan trọng.” (Tenney)

iii. “Ông ta rất muốn làm bạn với Sê-sa. Nhưng ông ta không phải là bạn của Sê-sa; ông ta hầu như không quen biết Sê-sa. Và điều quan trọng hơn nữa là, Sê-sa hoàn toàn không phải là bạn của ông ta.” (Boice)

c.13Phi-lát nghe li đó, bèn dn Đc Chúa Jêsus ra ngoài, ri ngi trên tòa án, ti nơi gi là Ba-vê, mà tiếng Hê-bơ-rơ gi là Ga-ba-tha: Phi-lát đã sẵn sàng đưa ra phán quyết cuối cùng, đưa Chúa Giê-su trước đám đông và trước tòa án. Thực ra, chính Bôn-xơ Phi-lát mới là người đang bị xét xử, chứ không phải chính Đức Chúa Giê-su.

i.Ga-ba-tha: “Tức là một nơi cao ráo; từ ‘gabah’ có nghĩa là cao, nhô lên; và rất có thể bục xét xử trong tòa án được đặt ở vị trí cao hơn hẳn, và quan tổng trấn phải đi lên đó qua những bậc thang; và có lẽ chính những bậc thang này mới chính là thứ được gọi là ‘Pavement | gabah’ .” (Clarke)

6.(14-16) Đám đông từ chối Chúa Giê-su và Phi-lát tuyên án tử hình Ngài.

a.14V, by gi là ngày sm sa v l Vượt Qua: Điều này lại đặt ra những câu hỏi khó về trình tự thời gian đã được đề cập trước đó ở Giăng 18:28 . Tuy nhiên, ý của Giăng vẫn rõ ràng: Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi của thế gian (Giăng 1:29), đã sẵn sàng để làm của lễ Vượt Qua.

i.Về giờ thứ sáu: Điều này dẫn đến một điểm gây tranh cãi, vì Mác nói rằng sự đóng đinh xảy ra vào giờ thứ ba (Mác 15:25). Đã có một số nỗ lực để dung hòa Giăng 19:14 và Mác 15:25.

  • Một số người cho rằng Giăng và Mác đã sử dụng cách tính thời gian khác nhau. “Westcott đưa ra những lý do xác đáng để cho rằng tác giả Phúc Âm này, thay vì tính giờ từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều và từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng, theo phong tục của người Do Thái, lại tính từ nửa đêm đến trưa, và từ trưa đến nửa đêm – một thói quen mà chúng ta biết từ cuốn “Sự Tử Đạo của Polycarp” là đã được sử dụng ở Tiểu Á vào thời điểm tài liệu đó được viết, và vẫn còn được tuân theo ở phương Tây ngày nay. Theo cách tính này, đó là… khoảng 6 giờ sáng khi Pilate tuyên án đối với Chúa Giê-su.” (Tasker)
  • Một số người cho rằng Giăng và Mác không hề có ý định dùng những mốc thời gian chính xác. “‘Giờ thứ ba’ có thể chỉ là khoảng giữa buổi sáng, trong khi ‘khoảng giờ thứ sáu’ có thể ám chỉ gần trưa. Cuối buổi sáng đều phù hợp với cả hai cách diễn đạt trừ khi có lý do nào đó để cho rằng một trong hai cách diễn đạt này được đưa ra với độ chính xác cao hơn bình thường. Nhưng ở đây không có lý do nào như vậy.” (Morris)
  • Một số người cho rằng vấn đề nằm ở những lỗi sai ban đầu của người sao chép văn bản và Giăng ban đầu đã viết giờ thứ ba. “Chúng ta chắc chắn phải giả định, như Eusebius, Theophylact và Severus đã từng, rằng đã có một số lỗi sai sót rất sớm trong các bản sao của chúng ta; liệu đó là sự hoán đổi giữa 3 và 6, khi được biểu thị bằng các chữ số Hy Lạp, không khác nhau là mấy, hay là một sự hoán đổi nào khác, hiện nay vẫn chưa thể xác định được.” (Alford)

b.14bPhi-lát nói cùng dân Giu-đa rng: Vua các ngươi kia kìa! Phi-lát đã đưa Chiên Con hiến tế này ra trước dân chúng để họ xem xét. Có lẽ ông muốn chế nhạo Chúa Giê-su và đám đông, khi đưa ra một Người đàn ông đội vương miện gai, đầy máu và bị đánh đập, với một mảnh vải tím che vết thương rách toạc trên lưng, như thể Ngài là Vua của họ. Đám đông nhìn thấy Chúa Giê-su trong tất cả sự khốn khổ và phẩm giá của Ngài và đã phản ứng bằng cách la hét: “15aNhững người đó bèn kêu lên rằng: Hãy trừ hắn đi, trừ hắn đi! Đóng đinh hắn trên cây thập tự đi!

i.“Những lời Hãy nhìn “Vua các ngươi kia kìa!” dường như được nói với giọng mỉa mai đối với người Giu-đa – với cùng tinh thần mà sau đó danh hiệu này được viết trên cây thánh giá.” (Alford)

ii.Nhưng họ kêu lên: Có lẽ nên sử dụng thì quá khứ tiếp diễn – một cách diễn đạt đã được xác nhận rõ ràng – để truyền tải ý nghĩa ‘họ cứ tiếp tục la hét’. Chính sự kiên trì của người Giu-đa trong việc biến vụ việc thành vấn đề chính trị đã khiến Phi-lát cảm thấy mệt mỏi.” (Tasker)

iii.Có những lúc con người tức giận đến mức không thể chịu nổi với Đức Chúa Trời và lòng nhân từ của Ngài, đến nỗi họ nghĩ hoặc mong Ngài chết đi. Nhưng điều phổ biến hơn nhiều là con người chỉ đơn giản muốn Đức Chúa Trời biến mất; họ mong muốn ‘Hãy trừ hắn đi, trừ hắn đi!

c.15bPhi lát nói vi chúng rng: Ta s đóng đinh Vua các ngươi lên thp t giá hay sao? Các thy tế l c thưa rng: Chúng tôi không có vua khác, ch Sê-sa mà thôi: Đám đông đã từ chối Chúa Giê-su và chọn Barabbas, một người kháng chiến chống lại La Mã. Theo cách điên rồ và mâu thuẫn thường thấy ở các đám đông, họ vừa chọn người cách mạng vừa thề trung thành với Sê-sa.

i.“Bị thúc đẩy bởi lòng thù hận, họ cố tình chối bỏ niềm hy vọng về Đấng Mê-si và phủ nhận vinh quang dân tộc. Những ai không muốn có Đấng Christ thì phải cúi đầu trước bạo chúa. Nổi loạn chống lại Ngài sẽ dẫn đến nô lệ.” (Maclaren)

d.16Người bèn giao Ngài cho chúng đng đóng đinh trên thp t giá. Vy, chúng bt Ngài và dn đi: Dường như Chúa Giê-su bị xét xử trước Phi-lát, nhưng theo một nghĩa lớn hơn, Phi-lát cũng bị xét xử trước Chúa Giê-su. Phi-lát đã thất bại trong thử thách của mình. Vì sợ đám đông, ông ta đã sai một Người mà ông ta biết là vô tội đến cái chết bị tra tấn. Vì vậy, bản tín điều cổ ghi chép rằng, Chúa Giê-su đã bị đóng đinh trên thập tự giá dưới tay Bôn-xơ Phi-lát.

i.“Ngày nay bạn hoàn toàn có thể làm điều mà Phi-lát đã làm. Ông ta chỉ đơn giản là một ví dụ về người thiếu quyết đoán, không có can đảm để bảo vệ quan điểm của mình, người cố gắng thỏa hiệp với điều sai trái, người phớt lờ lương tâm vì sợ mất mát cá nhân.” (Erdman)

B.Sự đóng đinh Chúa Giêsu thành Nazareth.

1.(17-18) Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá.

a.17Đc Chúa Jêsus vác thp t giá mình, đi đến ngoài thành, ti nơi gi là cái S, tiếng Hê-bơ-rơ gi là Gô-gô-tha: Theo tục lệ của người La Mã, Chúa Giê-su vác thập giá từ nơi tuyên án đến nơi đóng đinh, tức là nơi gi là cái S. Trước khi người La Mã đóng đinh một người lên thập giá, họ đặt thập giá lên người đó, buộc người đó phải vác nó trong một đám rước công khai nhằm thu hút sự chú ý vào người bị kết án, vào tội ác của anh ta và số phận của anh ta.

i.“Thông thường, người bị kết án chỉ phải vác thanh ngang (patibulum) chứ không phải toàn bộ giá treo cổ đến nơi hành quyết; các cọc dựng đứng có lẽ đã được dựng sẵn ở đó rồi.” (Bruce)

ii.“Từ thời Tertullian (Adv. Jud., 10), người ta đã nhận thấy một hình ảnh tương tự trong việc Isaac mang củi để dâng tế lễ.” (Dods)

b.18y đó là ch h đóng đinh Ngài: Người Ba Tư đã phát minh ra hình phạt đóng đinh, nhưng có thể nói rằng người La Mã đã hoàn thiện nó và biến nó thành một thể chế. Đó là hình thức hành quyết dành riêng cho những tội phạm tồi tệ nhất và tầng lớp thấp kém nhất. Đóng đinh được thiết kế để khiến nạn nhân chết trước công chúng, từ từ, với nỗi đau đớn và sự sỉ nhục tột cùng. Đây là hình thức cái chết mà Đức Chúa Trời đã định cho Chúa Giê-su phải chịu, và là cái chết mà Ngài đã chấp nhận vâng phục theo ý muốn của Đức Chúa Trời.

i.Hình phạt đóng đinh trên thập tự giá khủng khiếp và nhục nhã đến nỗi người La Mã có giáo dục cũng không dám đề cập đến nó trước công chúng. Nhà chính trị gia La Mã Cicero đã nói về hình phạt này như sau: “Trói một công dân La Mã là một tội ác; đánh đòn anh ta là một hành động độc ác; hành quyết anh ta gần như là giết người: Tôi còn có thể nói gì về việc đóng đinh anh ta? Một hành động ghê tởm đến mức không thể tìm được từ ngữ nào đủ sức để diễn tả.” Nhà sử học La Mã Tacitus gọi hình phạt đóng đinh trên thập tự giá là “một hình thức tra tấn chỉ dành cho nô lệ.”

ii.Các tác giả Phúc Âm không đưa ra lời giải thích chi tiết về việc đóng đinh trên thập tự giá. Có một số lý do cho điều này.

  • Những độc giả ban đầu của họ đã quen thuộc với cách làm này, vì vậy họ không cần lời giải thích thêm.
  • Các tác giả sách Phúc Âm cẩn thận không sử dụng ngôn từ hay mô tả có thể kích động cảm xúc; họ chỉ đơn giản kể lại câu chuyện.
  • Nỗi đau khổ lớn nhất của Chúa Giê-su là nỗi đau khổ bên trong và thuộc về tâm linh; thậm chí còn lớn hơn cả nỗi đau khổ bên ngoài và thể xác của Ngài.

iii.Năm 1968, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra hài cốt của một người đàn ông bị đóng đinh trên thập tự giá vào thời Chúa Giê-su. Nghiên cứu hài cốt cho thấy nạn nhân bị đóng đinh trên thập tự giá ở tư thế ngồi, hai chân duỗi thẳng sang hai bên, đinh xuyên qua hai bên bàn chân ngay dưới gót. Hai tay duỗi thẳng, mỗi tay bị một chiếc đinh đâm vào cẳng tay. Tiến sĩ Nico Hass, giáo sư giải phẫu học tại Đại học Hebrew, mô tả đó là “một tư thế cưỡng bức, một tư thế khó khăn và không tự nhiên”, nhằm mục đích làm tăng thêm sự đau đớn cho người bị hành hình. (Tenney và cộng sự)

iv.“Có một phần nhô ra giống như chiếc sừng (ghế sedile), mà người bị đóng đinh ngồi lên. Phần này giúp đỡ một phần trọng lượng của cơ thể và ngăn không cho da thịt bị xé rách bởi những chiếc đinh.” (Morris)

v.Theo Tiến sĩ William Edwards trong Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, cái chết do đóng đinh có thể đến từ nhiều nguyên nhân: sốc cấp tính do mất máu, kiệt sức vì không thể thở được nữa, mất nước, đau tim do căng thẳng hoặc suy tim sung huyết dẫn đến vỡ tim. Nếu nạn nhân không chết đủ nhanh, chân sẽ bị gãy, và nạn nhân sẽ sớm không thể thở được và chết vì ngạt thở.

c.18bli có hai người khác vi Ngài, mi bên mt người: Có ba người đã được lên kế hoạch đóng đinh trên thập tự giá vào ngày hôm đó, hai người kia và Ba-ra-ba. Chúa Giê-su thế chỗ Ba-ra-ba. Đây là một cách khác mà Chúa Giê-su được đồng nhất với những người tội lỗi trong cái chết của Ngài.

i.“Toàn thể nhân loại đều được thể hiện ở đó: Đấng Cứu Thế vô tội, người ăn năn được cứu rỗi, và kẻ bị kết án vì không chịu ăn năn” (Plummer, được trích dẫn trong Dods)

d.18ccòn Đc Chúa Jêsus chính gia: Điều này hoàn toàn đúng theo nghĩa đen; trong ba cây thánh giá, Chúa Giê-su ở giữa. Tuy nhiên, xét về mặt khái niệm, có nhiều cách để nói rằng Chúa Giê-su ở trung tâm.

  • Chúa Giê-su là trung tâm của nhân loại. Chúa Giê-su không bao giờ xa lánh những người bình thường, và tự do giao tiếp với cả những người được cho là vĩ nhân. Từ khi nhập thể cho đến hết cuộc đời, Ngài sống như một người trong chúng ta. Chúa Giê-su chết giữa những người nam và nữ, người Giu-đa và người ngoại đạo, người giàu và người nghèo, người thuộc tầng lớp thượng lưu và người không thuộc tầng lớp nào, người có học thức và người không có học thức, người sùng đạo và người thế tục, người có tội và người vô tội, người khóc than và người nhạo báng, người cảm động sâu sắc và người thờ ơ, người ghét Ngài và người yêu mến Ngài.
  • Chúa Giê-su là trung tâm giữa những người tội lỗi. Kẻ thù của Ngài nghĩ rằng điều này sẽ làm cho sự đau khổ của Ngài thêm trầm trọng. Họ nghĩ rằng việc nhìn thấy những người thấp hèn cùng chết với Ngài sẽ làm Ngài khó chịu hơn. Trong lúc Ngài chết, những người tự cho mình là người công chính đã chế nhạo Ngài và các môn đệ đã bỏ rơi Ngài; thế nhưng Chúa Giê-su vẫn ở giữa những người tội lỗi cho đến cuối cùng.
  • Chúa Giê-su là trung tâm ở giữa sự hỗn loạn. Ma-thi-ơ 27:46-49 cho chúng ta biết rằng khi Chúa Giê-su kêu lên trong đau đớn với Cha Ngài, những người xung quanh Ngài không hiểu và một số người thậm chí còn thấy điều đó buồn cười.
  • Chúa Giê-su là trung tâm ở giữa hai thái cực: đức tin và chối bỏ. Ma-thi-ơ 27:44 cho chúng ta biết rằng cả hai tên cướp đều chế nhạo Ngài, nhưng Lu-ca 23:39-41 lại kể về sự thay đổi trong một trong hai tên tội phạm. Tiếng nói cuối cùng làm chứng về Chúa Giê-su là của một tên tội phạm đã được cải đạo ngay trước khi chết. Các môn đồ đã bỏ đi và tất cả những người mà Chúa Giê-su đã chữa lành và dạy dỗ đều không còn thấy đâu. Các lãnh đạo tôn giáo chế nhạo và nhổ nước bọt vào Ngài, ngay cả những người phụ nữ trung tín cũng im lặng vì đau buồn. Tuy nhiên, vẫn có một tiếng nói duy nhất của con người nói lên sự thật về Chúa Giê-su, khi tất cả những người khác đều im lặng.
  • Chúa Giê-su là trung tâm đứng giữa kẻ được cứu rỗi và kẻ bị hư mất. Tên trộm trên thập tự giá là người bạn đồng hành cuối cùng của Chúa Giê-su trên trần gian trước khi Ngài chịu chết – và Chúa Giê-su đã dẫn dắt hắn đến sự cứu rỗi. Không phải bằng một bài giảng, mà bằng tất cả những bài giảng Ngài đã từng thuyết giảng, mọi việc làm công chính Ngài đã thực hiện trước đó. Có lẽ đó là niềm an ủi duy nhất của Chúa Giê-su trên thập tự giá. Tuy nhiên, một tên trộm được cứu rỗi, nhưng một tên thì bị hư mất, và Chúa Giê-su ở giữa hai thế gian đó. Để vượt qua ranh giới giữa đó, Ai cũng đều phải đi qua Chúa Giê-su.
  • Chúa Giê-su là trung tâm giữa Đức Chúa Trời và con người. Trên thập tự giá, Chúa Giê-su đã gánh chịu mọi hình phạt mà tội lỗi chúng ta đáng phải chịu. Tại thập tự giá, Chúa Giê-su vừa là thầy tế lễ vừa là vật tế lễ.
  • Chúa Giê-su là trung tâm của toàn bộ lịch sử và công việc của Đức Chúa Trời. Chúng ta không nhìn Chúa Giê-su ở vị trí trung tâm với lòng thương hại, như thể tất cả chúng ta đều nên cảm thấy tội nghiệp cho Chúa Giê-su đáng thương. Ngài là Đấng chiến thắng trên thập tự giá. Đây là chiến thắng vĩ đại nhất mọi thời đại.

2.(19-22) Lời mô tả công khai của Phi-lát về Chúa Giê-su và tội danh bị cáo buộc của Ngài.

a.19Phi-lát cũng sai làm mt tm bng, ri treo lên trên thp t giá. Trên bng đó, có đ ch rng: Điều này tuân theo tục lệ của người La Mã. Tội của người bị đóng đinh trên thập tự giá được ghi rõ và dòng chữ đó được treo quanh cổ khi người đó vác thập tự giá đến nơi hành quyết. Sau đó, dòng chữ này được đặt ở trên đỉnh thập tự giá để mọi người biết lý do tại sao người đó bị đóng đinh.

i.“Theo thông lệ, người bị kết án phải đeo một tấm biển ghi tên và bản chất tội danh của mình.” (Tenney)

ii.“Một tấm bảng được quét vôi trắng, thường được dùng để đăng thông báo công khai” (Dods)

b.Jêsus người Na-xa-rét, là Vua dân Giu-đa: Phi-lát đã viết tên của Giê-su, chính là tên mà Ngài đã được nhận diện và bắt giữ tại Vườn Ghết-sê-ma-nê (Giăng 18:5). Ông cũng ghi lại điều được cho là tội danh của Chúa Giê-su (ít nhất là trong cáo trạng ban đầu), rằng Ngài tự xưng là Vua dân Giu-đa (Giăng 18:33-34).

i.Ngay cả trong cái chết của Ngài, Chúa Giê-su vẫn được đồng nhất với người Na-xa-rét hạ mình và bình dị. Ngay cả trong cái chết của Ngài, Chúa Giê-su vẫn được công nhận là một vị Vua. Các vị vua trên thế gian lên ngôi nhờ cái chết của người khác. Chúa Giê-su được tuyên bố là Vua của toàn thế giới thông qua chính cái chết của Ngài.

ii.Danh hiệu đó cũng là sự biện minh chính đáng cho bản chất vô tội của Chúa Giê-su. Hai bên là những tên tội phạm với những mô tả về tội ác của chúng; còn trên thập tự giá của Chúa Giê-su, nó chỉ đơn giản mô tả Ngài là ai, điều đó hoàn toàn không phải là tội lỗi vì đó là sự thật.

c.20 Vì nơi Đc Chúa Jêsus b đóng đinh gn thành: Người La Mã muốn việc đóng đinh là một sự kiện công khai. Họ muốn nhiều người nhìn thấy nạn nhân khốn khổ, đọc về tội ác của họ và được cảnh báo. Điều này cũng xác nhận rằng Chúa Giê-su bị đóng đinh bên ngoài tường thành (Hê-bơ-rơ 13:12), nhưng gần thành phố và có lẽ gần một con đường thường xuyên được sử dụng.

d.20bvà ch đ trên bng đó viết bng ch Hê-bơ-rơ, ch La-tinh và ch G-réc, nên có nhiu người Giu-đa đc đến: Phi-lát muốn tuyên bố này về Chúa Giê-su được công khai rộng rãi nhất có thể. Đây cũng là một lời tiên tri vô thức về cách mà thông điệp về Chúa Giê-su Christ, về việc Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá và trị vì như một vị Vua, sẽ được loan truyền đến mọi quốc gia và mọi ngôn ngữ, rằng ngay từ đầu nó đã được dự định là một thông điệp toàn cầu.

i.“Tiếng Aram, dành cho cư dân địa phương; tiếng Latinh, dành cho các quan chức; tiếng Hy Lạp, ngôn ngữ chung của thế giới Địa Trung Hải phía đông.” (Tenney)

ii.“Trong tiếng Giu-đa, dành cho người Giu-đa, những người tự hào về luật pháp; trong tiếng Hy Lạp, dành cho người Hy Lạp, những người tự hào về sự khôn ngoan; trong tiếng Latinh, dành cho người La Mã, những người tự hào nhất về quyền lực và sự thống trị.” (Trapp).

iii. Người xưa, ví dụ như người La Mã, thường sử dụng các chữ viết tắt, vì vậy việc tái tạo chính xác từng chữ cái có thể khó khăn.

e.21Các thy tế l c ca dân Giu-đa bèn nói vi Phi-lát rng: Xin đng viết: Vua dân Giu-đa; nhưng viết rng, người nói: Ta là Vua dân Giu-đa: Các nhà lãnh đạo tôn giáo phản đối danh hiệu mà Phi-lát dùng. Họ cảm thấy đó là điều sai sự thật, vì họ không tin rằng Chúa Giê-su là Vua của người Giu-đa. Họ cũng tin rằng đó là sự hạ thấp phẩm giá, vì nó cho thấy quyền lực của La Mã trong việc làm nhục và tra tấn ngay cả “ Vua của người Giu-đa ”.

f.22Phi-lát tr li rng: Li ta đã viết, thì ta đã viết ri: Cuối cùng Phi-lát đã tìm được can đảm để chống lại các nhà lãnh đạo Giu-đa, nhưng về một vấn đề tương đối không quan trọng. Có thể nói rằng, bất chấp bản thân, Phi-lát đã tôn vinh Vua Chân Lý (Giăng 18:37) bằng lời mô tả chân thực về Ngài, cả trong sự khiêm nhường và vinh quang của Ngài.

i.“Tức là, tôi sẽ không thay đổi những gì tôi đã viết. Luật La Mã cấm thay đổi bản án một khi đã được tuyên; và vì dòng chữ này được coi là bản án đã tuyên chống lại Chúa chúng ta, do đó, nó không thể thay đổi được.” (Clarke)

3.(23-24) Các binh lính chia nhau quần áo của Chúa Giê-su để ứng nghiệm lời tiên tri.

a.23Quân lính đã đóng đinh Đc Chúa Jêsus trên thp t giá ri: Việc đóng đinh trên thập tự giá theo phong tục La Mã được các binh lính giám sát, vừa để duy trì trật tự, vừa để đảm bảo rằng những người bị kết án thực sự đã chết.

b.23bbèn ly áo xng ca Ngài chia làm bn phn, mi tên lính chiếm mt phn. H cũng ly áo dài ca Ngài: Trên thập tự giá, Chúa Giê-su không giữ lại bất cứ của cải vật chất nào. Ngay cả quần áo trên người Ngài cũng bị lấy đi và áo choàng của Ngài được dùng làm phần thưởng trong một vụ cá cược nhỏ nhặt.

i.“Thông thường, đàn ông bị đóng đinh trên thập tự giá trong tình trạng trần truồng (Artemidorus II. 61). Tuy nhiên, sự nhạy cảm của người Giu-đa quy định rằng đàn ông không nên bị hành quyết công khai trong tình trạng hoàn toàn trần truồng, và những người bị kết án ném đá được phép mặc một chiếc khố (M. Sanhedrin VI. 3). Không rõ liệu người La Mã có quan tâm đến cảm xúc của người Giu-đa trong vấn đề này hay không.” (Lane, chú giải về sách Lu-ca)

ii.“Apuleius dùng phép so sánh ‘trần truồng như một đứa trẻ sơ sinh hoặc như người bị đóng đinh trên thập tự giá’.” (Dods)

iii.Điều này cho thấy Chúa Giê-su đã tự hạ mình xuống tận cùng để hoàn thành công cuộc cứu rỗi cho chúng ta. Ngài đã từ bỏ mọi thứ – thậm chí cả mảnh quần áo cuối cùng của mình – trở nên hoàn toàn nghèo khó vì chúng ta để chúng ta có thể trở nên hoàn toàn giàu có trong Ngài. 2 Cô-rinh-tô 8:9 nói như thế này: “Vì anh em biết ơn của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài vốn giàu, vì anh em mà tự làm nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài, anh em được nên giàu

c.23cnhưng áo dài đó không có đường may, nguyên mt tm vi dt ra, t trên chí dưới: Áo chính mà Chúa Giê-su mặc (áo dài) được may khá tốt nên không cần phải xé thành bốn phần, vì mỗi người trong bốn người lính đã nhận được một trong những áo khác của Ngài.

i.Áo không đường may của Chúa Giê-su nhắc nhở chúng ta về vai trò của Ngài với tư cách là thầy tế lễ thượng phẩm vĩ đại của chúng ta, bởi vì Xuất Ê-díp-tô Ký 28:31-32 cho chúng ta biết rằng thầy tế lễ thượng phẩm mặc một chiếc áo không đường may.

d.24Vy, h nói vi nhau rng: Đng xé áo ny ra, song chúng ta hãy bt thăm, ai trúng ny được. y đ cho được ng nghim li Kinh thánh ny: Chúng đã chia nhau áo xng ca ta, Li bt thăm ly áo dài ta. Thi Tv 22:18

Đó là vic quân lính làm: Các binh lính đã làm điều này, vô tình ứng nghiệm lời tiên tri trong Thi thiên 22:18 . Khi Con Đức Chúa Trời chịu chết vì tội lỗi của thế gian, những người đàn ông đã vô tâm cười đùa và chơi đùa ngay dưới chân Ngài.

4.(25-27) Chúa Giê-su giao phó mẹ Ngài cho sự chăm sóc của Giăng.

a.25Ti mt bên thp t giá ca Đc Chúa Jêsus, có m Ngài đng đó: Thật khó để thấu hiểu nỗi đau đớn của bà Ma-ri khi chứng kiến Con mình bị đóng đinh trên thập tự giá. Bà đã chứng kiến nỗi đau, sự sỉ nhục, nỗi nhục nhã, sự đau khổ và cái chết của Con mình.

i.Khi Ma-ri và Giô-sép đem con trai mới sinh là Giê-su đến đền thờ để dâng hiến, một người đàn ông mộ đạo tên là Si-mê-ôn đã nhìn thấy Giê-su, bế Ngài vào lòng và chúc phúc cho hài nhi Giê-su. Nhưng ông cũng nói với Ma-ri rằng: có một thanh gươm sẽ đâm thấu qua lòng (linh hồn) ngươi(Lu-ca 2:35 ). Ma-ri đã trải nghiệm điều này trong suốt thời gian Con mình thi hành sứ vụ, khi Ngài bị từ chối, chống đối, vu khống và bị mưu hại. Nhưng đây chính là sự ứng nghiệm trọn vẹn của lời hứa nghiêm trọng đó. Trong số tất cả những người nhìn thấy Giê-su trên thập tự giá, không ai phải chịu đau khổ như Ma-ri.

b.25bvi ch m Ngài và Ma-ri v Cơ-lêô-ba, và Ma-ri Ma-đơ-len na: Những người phụ nữ trung thành này đã ở bên cạnh Chúa Giê-su trong suốt cơn hấp hối của Ngài trên thập tự giá, để tôn kính Ngài và nâng đỡ mẹ Ngài, Ma-ri. Dì Ma-ri v Cơ-lêô-ba,Ma-ri Ma-đơ-len cũng nằm trong số những người đầu tiên phát hiện ra ngôi mộ trống, bằng chứng về sự phục sinh của Chúa Giê-su.

i.“Có lẽ ‘chị gái của mẹ ông’ ở đây được hiểu là Sa-lô-mê (Mác 15:40), và bà là ‘mẹ của các con trai của Xê-bê-đê’ (Ma-thi-ơ 27:56), người đang đứng cách xa cùng với những người phụ nữ khác khi Chúa Giê-su chết.” (Morris)

c.26Đc Chúa Jêsus thy m mình, và mt môn đ Ngài yêu đng gn người: Đây là cách khiêm nhường của tác giả Giăng để nói về chính mình trong câu chuyện, như ông đã làm bốn lần trong Phúc Âm của mình (Giăng 13:23 , 19:26 , 21:7 , 21:20). Giăng cho chúng ta biết rằng ông đã có mặt tại nơi Chúa Giê-su bị đóng đinh và tận mắt chứng kiến những điều này (Giăng 19:35).

d.26bthì Chúa Giê-xu nói cùng m rng: Hi đàn bà kia, đó là con ca ngươi!: Dù trên thập tự giá, Chúa Giê-su vẫn luôn quan tâm đến mẹ Ngài cho đến giây phút cuối cùng, chứng tỏ rằng ngay cả khi đang chịu khổ hình, Ngài vẫn hướng sự quan tâm đến người khác chứ không phải bản thân mình. Nếu có lúc nào Chúa Giê-su xứng đáng được tập trung vào bản thân, thì đó chính là lúc này; thế nhưng Ngài vẫn luôn hướng về người khác cho đến giây phút cuối cùng..

i.Clarke bình luận về câu “Thưa bà, đó là con của bà!” (BHĐ): “Câu nói này không hề mang ý nghĩa thiếu tôn trọng hay thờ ơ, như người ta thường lầm tưởng. Trong cách diễn đạt bắt buộc, “ông !” và “bà !” là những danh xưng thể hiện sự tôn trọng ngang bằng với “ngài !” và “bà !” trong văn hóa Giu-đa.” (Clarke)

ii.Clarke cũng cho rằng Chúa Giê-su không gọi mẹ bà từ trên thập tự giá vì việc nhắc đến cái tên đó trong hoàn cảnh ấy chỉ càng làm tăng thêm nỗi đau đớn của bà.

iii.27aĐoạn, Ngài lại phán cùng người môn đồ rằng: Đó là m ngươi“ Chúa Giê-su không đưa ra chỉ dẫn cụ thể nào cho Giăng về việc chăm sóc bà Ma-ri-a. Chỉ cần Ngài thu hút sự chú ý của ông đến bà bằng lời nói: Đó là m ngươi là đủ. Tôi ước gì chúng ta luôn ở trong trạng thái tâm hồn như vậy, không cần đến những chỉ dẫn cụ thể, máy móc, chỉ cần một lời gợi ý là đủ.” (Spurgeon)

e.27bBt đu t by gi, môn đ y rước người v nhà mình: Giăng và Ma-ri đều vâng theo mệnh lệnh trọng thể này của Chúa Giê-su trên thập tự giá, mặc dù đó là một điều đáng chú ý mà Chúa Giê-su đã ra lệnh. Ma-ri có những người con khác sinh ra sau Chúa Giê-su, và có những đoạn nhắc đến cả anh chị em cùng mẹ của Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 12:46-47 , 13:55-56 , Giăng 2:12 và 7:3-10). Mặc dù vậy, Chúa Giê-su đã giao việc chăm sóc bà Ma-ri cho môn đồ và sứ đồ Giăng.

Có lẽ Chúa Giê-su làm vậy để nhấn mạnh rằng mối quan hệ của chúng ta với Ngài và với Nước Trời còn quan trọng hơn cả mối quan hệ huyết thống.

  • Có lẽ Chúa Giê-su làm điều này để tôn vinh một môn đồ (mà chúng ta biết) đã đủ can đảm đứng về phía Chúa Giê-su và có mặt tại cuộc đóng đinh.
  • Có lẽ Chúa Giê-su làm vậy vì anh chị em của Ngài không theo Ngài làm môn đệ trong suốt thời gian Ngài thi hành chức vụ trên đất và chưa tin vào Ngài, và Chúa Giê-su muốn để mẹ Ngài ở lại với một người tin Ngài.
  • Có lẽ Chúa Giê-su làm điều này vì biết rằng Giăng là môn đồ duy nhất sẽ chết một cách tự nhiên và sống lâu hơn cả anh chị em ruột của Ngài.
  • Có lẽ Chúa Giê-su làm điều này xuất phát từ sự khôn ngoan và tầm nhìn xa của Ngài.

i.Đó là m ngươi! Điều đáng chú ý là Chúa Giê-su không cần phải bảo Giăng: “Hãy chăm sóc mẹ Ta.” Tất cả những gì Chúa Giê-su cần làm là mô tả mối quan hệ mới và Ngài biết rằng phần còn lại sẽ diễn ra một cách đúng đắn. Tương tự như vậy, có nhiều mệnh lệnh cho một đời sống thánh thiện mà Chúa Giê-su không cần phải nói cụ thể với chúng ta; nếu mối quan hệ được thiết lập đúng đắn, thì cách hành xử sẽ tự nhiên phát xuất từ đó.

5.(28-30) Lời rao giảng vĩ đại và cái chết của Chúa Giê-su.

a.28Sau đó, Đc Chúa Jêsus biết mi vic đã được trn ri: Chúa Giê-su biết rằng công việc vĩ đại của Ngài, công việc mà Ngài đã thực hiện bằng cả cuộc đời và cái chết trên thập tự giá, đã được hoàn tất. Sau khi hoàn thành công việc đó, Ngài đã chuẩn bị để hiến dâng mạng sống và chịu chết.

  • Đã có một thời điểm trước khi mọi sự được hoàn tất (Lu-ca 12:50 ).
  • Đã có thời điểm mọi sự được hoàn thành, khi Chúa Giê-su thực sự trở thành mục tiêu của cơn thịnh nộ và sự phán xét tội lỗi của Đức Chúa Trời, khi Đấng không hề phạm tội đã trở nên tội lỗi vì chúng ta, để chúng ta nhờ Ngài mà trở nên sự công chính của Đức Chúa Trời (2 Cô-rinh-tô 5:21).
  • Đã có thời điểm sau khi mọi sự đã hoàn tất và Chúa Giê-su đã hiến dâng chính mình làm của lễ chuộc tội thay cho nhân loại.

b.28bthì phán rng: Ta khát: Lúc bắt đầu cuộc thử thách, Chúa Giê-su không chấp nhận thức uống làm tê liệt cơn đau (Mác 15:23), nhưng giờ đây Ngài chấp nhận nếm thử một loại rượu pha loãng để làm ẩm đôi môi khô khốc và cổ họng khô khốc, hầu cho Ngài có thể cất lên lời tuyên bố cuối cùng với thế giới bằng một giọng nói rõ ràng và lớn tiếng.

i.“Khát nước là một nỗi khổ thường nhật, như những gì có thể xảy ra với nông dân hoặc người ăn xin; đó là một nỗi đau thực sự, chứ không phải là điều viển vông hay ác mộng trong mộng tưởng. Khát nước không phải là nỗi buồn của hoàng gia, mà là một tai họa của toàn thể nhân loại; Chúa Giê-su là anh em với những người nghèo khổ và khiêm nhường nhất trong nhân loại chúng ta.” (Spurgeon)

ii.“Sự tham ăn là cánh cửa dẫn đến tội lỗi, và vì vậy Chúa chúng ta đã phải chịu đau khổ ở điểm này. Với câu ‘Ta khát’, điều ác bị tiêu diệt và sự chuộc tội được đón nhận” (Spurgeon)

iii.28chu cho li Kinh thánh được ng nghim, 29 Ti đó, có mt cái bình đng đy gim: “Việc nhắc đến chiếc bình cho thấy người chứng kiến đã chứng kiến sự việc.” (Dods)

iv.gim/Rượu chua: “Dĩ nhiên, không nên nhầm lẫn với rượu có thuốc mê, ‘rượu pha với nhựa thơm’ trong Mác 15:23 , mà Chúa Giê-su đã từ chối, mà là loại rượu mà các binh lính mang đến thập tự giá để giải khát trong thời gian chờ đợi dài đằng đẵng.” (Tasker)

v.28dVy, h ly mt miếng bông đá thm đy gim, buc vào cây ngưu tt (kinh giới, cây cây bài hương) đưa k ming Ngài: “Chỉ cần nhắc đến cây kinh giới (hyssop)  thôi cũng đủ khiến bất kỳ người Giu-đa nào cũng liên tưởng đến huyết cứu rỗi của con chiên Lễ Vượt Qua.” (Barclay)

vi.Chúng ta có thể liên hệ mọi sự đã được hoàn thành với lời “Ta khát ”. Khi Chúa Giê-su nói “ Ta khát ”, điều tồi tệ nhất đã qua – giá chuộc đã được trả và Ngài sẵn sàng công bố điều đó. Khi tội nhân nói “Ta khát”, điều tồi tệ nhất cũng đã qua, bởi vì nếu họ mang tâm hồn khát khao của mình đến với Chúa Giê-su, Ngài sẽ làm cho họ thỏa mãn.

c.30Khi Đc Chúa Jêsus chu ly gim y ri, bèn phán rng: Mi vic đã được trn! Lời cuối cùng của Chúa Giê-su (tetelestai trong tiếng Hy Lạp cổ) là tiếng reo mừng của người chiến thắng. Chúa Giê-su đã hoàn thành mục đích vĩnh cửu của thập tự giá. Ngày nay, thập tự giá vẫn đứng vững như một công việc đã hoàn thành, nền tảng của mọi sự bình an và đức tin Cơ đốc, đã trả hết món nợ mà chúng ta đáng lẽ phải trả cho Đức Chúa Trời, và mang lại hòa bình giữa Đức Chúa Trời và loài người.

i.Một lời thôi, cũng có thể thay đổi tất cả. Câu “Không có tội” tại tòa án có thể thay đổi tất cả. Từ “công bằng” trên sân thi đấu có thể thay đổi tất cả. Khi một người phụ nữ nói “Đồng ý” trước lời cầu hôn, điều đó có thể thay đổi tất cả. Câu “Tạm biệt” cũng có thể thay đổi tất cả. Tuy nhiên, chưa từng có lời nào chỉ với một từ lại có ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sử như lời Đức Giê-su đã phán trong Giăng 19:30.

ii.Vào một thời điểm nào đó trước khi Ngài chết, trước khi bức màn bị xé làm đôi, trước khi Ngài kêu lên “Mi vic đã được trn!, một sự trao đổi thiêng liêng kỳ diệu đã diễn ra. Đức Chúa Cha đã đặt lên Đức Chúa Con tất cả tội lỗi và cơn thịnh nộ mà tội lỗi chúng ta đáng phải chịu, và Ngài đã gánh chịu điều đó một cách trọn vẹn, hoàn toàn làm nguôi ngoai cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời vì chúng ta.

iii.“Đó là tiếng kêu của người chiến thắng; nó được cất lên bằng giọng lớn. Không có gì đau đớn trong đó, không có tiếng than khóc. Đó là tiếng kêu của người đã hoàn thành một công việc phi thường.” (Spurgeon)

iv.“Chúa Giê-su chết với tiếng reo của Đấng Chiến Thắng trên môi Ngài. Đây không phải là tiếng rên rỉ của kẻ bại trận, cũng không phải là tiếng thở dài của sự cam chịu nhẫn nại. Đó là sự nhận thức chiến thắng rằng Ngài đã hoàn thành trọn vẹn công việc mà Ngài đến để làm.” (Morris)

v.“Động từ telew (teleo, ‘hoàn thành’) được sử dụng trong thế kỷ thứ nhất và thứ hai với nghĩa ‘hoàn tất’ hoặc ‘trả’ một khoản nợ và thường xuất hiện trong các biên lai. Câu nói của Chúa Giê-su ‘Đã hoàn thành’ (tetelestai, tetelestai) có thể được hiểu là ‘Đã trả đầy đủ’.” (Tenney)

vi.Mọi việc đã hoàn tất, thanh toán đầy đủ, hoàn thành.

  • Các hình bóng, lời hứa và lời tiên tri đã được hoàn tất.
  • Các lễ tế và nghi thức của chức tế lễ đã kết thúc.
  • Sự vâng phục trọn vẹn của Ngài đã được hoàn tất.
  • Sự thỏa mãn công lý của Đức Chúa Trời đã hoàn tất.
  • Quyền lực của Sa-tan, tội lỗi và sự chết đã chấm dứt.

vii.”Từ cổng vườn Ê-đen, máu tế lễ đã bắt đầu chảy ra, được bổ sung bởi dòng chảy hợp lưu của năm tháng. Tuy nhiên, kể từ khoảnh khắc đó, không còn giọt máu nào cần phải đổ nữa. Các nguyên mẫu giờ đây đã hoàn thiện, bởi vì các hiện thân của chúng đã được hiện thực hóa.” (Meyer)

viii.“Ngài đã hoàn thành công việc của Ngài cho tôi chưa? Vậy thì tôi phải bắt tay vào làm việc cho Ngài, và tôi phải kiên trì cho đến khi tôi cũng hoàn thành công việc của mình; không phải để cứu rỗi bản thân mình, vì mọi việc đã hoàn tất rồi, mà bởi vì tôi đã được cứu rỗi.” (Spurgeon)

d.30bri Ngài gc đu mà trút linh hn: Điều này nói lên một hành động bình an, giống như nằm xuống gối để ngủ. Chúa Giê-su không cúi đầu trong sự thất bại; Ngài cúi đầu trong sự bình an. (κλίνω (klinō) to bow/lay down (G2827))

i.“Ở những đoạn khác trong sách Phúc Âm, cụm từ được dùng ở đây để chỉ việc Chúa Giê-su gục đầu xuống khi chết cũng được dùng để chỉ việc gục đầu xuống khi ngủ (Ma-thi-ơ 8:20 ; Lu-ca 9:58 , ‘Con Người không có chỗ nào để gối đầu’ (G2827)); hàm ý ở đây có thể là Ngài tự nguyện gục đầu xuống, sẵn sàng ngủ giấc ngủ của sự chết.” (Bruce)

ii.gc đu: “Chúng ta có được sự ghi chép tỉ mỉ của một nhân chứng, người mà từng chi tiết nhỏ nhất của khoảnh khắc trang trọng này đã để lại ấn tượng không phai.” (Alford)

e.Trút linh hồn: Không ai cướp đi mạng sống của Chúa Giê-su; chính Ngài, theo một cách khác biệt mà không ai có thể sánh được, đã tự nguyện trút linh hồn mình. Cái chết không có quyền lực chính đáng nào đối với Con Đức Chúa Trời vô tội. Ngài đã đứng ở vị trí của những người tội lỗi, nhưng bản thân Ngài chưa bao giờ là một người tội lỗi. Vì thế, Ngài không thể chết trừ khi chính Ngài tự nguyện trút linh hồn mình.

i.Như Chúa Giê-su đã phán: 17 Ny, ti sao Cha yêu ta: y vì ta phó s sng mình, để được ly li. 18 Chng có ai ct s sng ta đi, nhưng t ta phó cho; ta có quyn phó s sng, và có quyn ly li; ta đã lãnh mng lnh ny nơi Cha ta. (Giăng 10:17-18)

ii.“Ngài đã hi sinh mạng sống mình vì Ngài muốn thế, vào thời điểm Ngài muốn và theo cách Ngài muốn.” (Augustine)

iii.“Không ai cướp mạng sống của Ngài: Cái chết của Ngài là sự tự nguyện phó thác: một sự phó thác mà Ngài có quyền thực hiện, bởi vì quyền hiến dâng mạng sống của Ngài đi kèm với quyền lấy lại mạng sống ấy (Giăng 10:18).” (Trench)

iv.Công việc của Chúa Giê-su với tư cách là người thế tội trên thập tự giá, gắn liền với việc Ngài tự nguyện chịu chết trên thập tự giá, đã trở thành hành động quan trọng nhất trong cuộc đời đầy ý nghĩa của Ngài. Điều này được phản ánh ngay cả trong các sử sách thế tục cổ đại. Tất cả những ghi chép về Chúa Giê-su trong các tác phẩm văn học cổ đại ngoài Kinh Thánh đều nhấn mạnh đến cái chết của Ngài trên thập tự giá.

  • Một bức thư do Mara bar Serapion viết cho con trai mình (khoảng năm 73 sau Công nguyên).
  • Josephus, nhà sử học Giu-đa (khoảng năm 90 sau Công nguyên).
  • Tacitus, nhà sử học La Mã (khoảng năm 110-120 sau Công nguyên).
  • Kinh Talmud Babylon (khoảng năm 200 sau Công nguyên).

C.Ngay sau khi Chúa Giê-su chết trên thập tự giá.

1.(31-32) Cần phải hạ xác xuống khỏi thập tự giá.

a.31Vì by gi là ngày sm sa v ngày Sa-bát, mà Sa-bát ny là rt trng th: Điều này liên quan trở lại lời tuyên bố của Giăng tại Giăng 19:14 và đặt ra những câu hỏi khó về trình tự thời gian tương tự như đã đề cập trước đó tại Giăng 18:28 .

b.31bnên dân Giu-đa ngi rng nhng thây còn treo li trên thp t giá trong ngày Sa-bát chăng: Thông thường, những người bị hành quyết bằng cách đóng đinh vẫn sẽ bị treo trên thập tự giá trong nhiều ngày như một lời cảnh báo nghiêm khắc về hậu quả của việc không tuân lệnh chính quyền La Mã. Tuy nhiên, vì ngày Sa-bát sắp đến (và vì đó là một ngày trọng đại, gắn liền với Lễ Vượt Qua và tuần lễ của nó), các nhà lãnh đạo tôn giáo đã yêu cầu người La Mã gỡ bỏ cảnh tượng ghê tởm của ba người đàn ông bị đóng đinh trên thập tự giá.

i.“Lương tâm họ không bị tổn thương bởi vụ giết hại Chúa Giê-su, nhưng họ lại vô cùng lo sợ về sự ô uế do nghi lễ. Sự áy náy về tôn giáo có thể tồn tại trong một lương tâm đã chết.” (Spurgeon)

c.31cbèn xin Phi-lát cho đánh gãy ng chân nhng người đó và ct xung: Việc bẻ gãy chân người bị đóng đinh trên thập tự giá sẽ đẩy nhanh cái chết của người đó, bởi vì anh ta không thể tựa vào chân hay bàn chân để giúp mình thở dễ dàng hơn.

i.“Cách duy nhất để một người bị đóng đinh có thể hít thở đầy đủ không khí là nâng người lên bằng chân để giảm bớt sức căng lên cánh tay và cơ ngực. Nếu chân bị gãy, anh ta không thể làm được điều đó; và cái chết sẽ đến ngay sau đó vì thiếu oxy.” (Tenney)

d.32Vy, quân lính li, đánh gãy chân người th nht, ri đến người kia, tc là k cùng b đóng đinh vi Ngài: Đáp lại yêu cầu của các nhà lãnh đạo tôn giáo, các binh lính đã nhanh chóng kết liễu hai người đàn ông đứng hai bên Chúa Giê-su.

i.Đây là công việc tàn bạo dành cho những kẻ thô bạo. Họ có thể đã dùng thanh sắt hoặc dùi cui nặng. “Để đảm bảo cái chết nhanh chóng, đôi khi người ta dùng đến phương pháp crucifragium, tức là bẻ gãy chân bằng búa hoặc thanh sắt nặng: vì nếu không có phương pháp này, người bị đóng đinh có thể phải chịu đựng trong ba mươi sáu giờ.” (Dods) Việc bẻ gãy chân chắc hẳn rất kinh khủng đối với một người vẫn còn sống trên cây thập tự giá.

ii.“Lactantius nói trong chương 4, câu 26, rằng đó là một tục lệ phổ biến để bẻ gãy chân hoặc các xương khác của tội phạm trên cây thánh giá; và điều này dường như là một kiểu kết liễu, để nhanh chóng giải thoát họ khỏi đau đớn.” (Clarke)

iii.Phát hiện khảo cổ được đề cập ở Giăng 19:18 “dường như đã phải chịu sự tra tấn như sau: một chân của người bị gãy xương hoàn toàn do một cú đánh duy nhất, còn chân kia cũng bị nứt xương.” (Bruce)

iv.“Tên trộm ăn năn hối cải đã vào Thiên đường ngay ngày hôm đó, nhưng không phải không có đau khổ; đúng hơn, có thể nói rằng cú đánh khủng khiếp đó chính là phương tiện để lời hứa của Chúa dành cho hắn được thực hiện một cách nhanh chóng. Hắn đã chết ngay ngày hôm đó vì cú đánh đó; nếu không thì hắn có thể đã sống lâu hơn nữa.” (Spurgeon)

2.(33-34) Xác nhận về cái chết của Chúa Giê-su thành Na-xa-rét.

a.33Khi quân lính đến nơi Đc Chúa Jêsus, thy Ngài đã chết ri, thì không đánh gãy ng chân Ngài: Những người lính này (có lẽ) đã giám sát nhiều vụ hành quyết trên thập tự giá. Họ biết khi nào một người đã chết và khi nào người đó còn sống. Chính kinh nghiệm và sự phán đoán của họ đã cho rằng Chúa Giê-su đã chết.

i.Mác 15:44-45 thêm rằng Bôn-xơ Phi-lát đã hỏi viên đội trưởng giám sát để xác nhận việc Chúa Giê-su đã chết, và viên đội trưởng đã xác nhận rằng Ngài đã chết.

b.34nhưng có mt tên lính ly giáo đâm ngang sườn Ngài: Cách thông thường để chắc chắn một người bị đóng đinh trên thập tự giá đã chết là dùng dùi cui đánh gãy chân. Sau khi làm như vậy với hai nạn nhân đầu tiên, việc người lính này làm điều tương tự với Chúa Giê-su là hoàn toàn bình thường – thậm chí có lẽ anh ta còn được lệnh làm vậy. Tuy nhiên, anh ta đã không làm; thay vào đó, anh ta đã đâm vào sườn Ngài bằng một ngọn giáo và vô tình ứng nghiệm một số lời tiên tri, được đề cập bên dưới.

i.“Vì vết thương do nhát đâm giáo này gây ra dường như rộng bằng một gang tay (Giăng 20:25), có thể suy đoán rằng người lính muốn chắc chắn rằng Chúa Giê-su đã chết bằng cách đâm Ngài một nhát giáo mà bản thân nó cũng đủ gây tử vong.” (Dods)

c.34btc thì máu và nước chy ra: Điều này được coi là bằng chứng xác nhận tuyệt đối rằng Chúa Giê-su đã chết. Vết thương ở sườn Ngài do mũi giáo đâm ra chảy ra một chất trông giống như máu và một chất trông giống như nước.

i.Có một số người coi đây như một cuộc khám nghiệm tử thi tại chỗ đối với Chúa Giê-su, tiết lộ rằng nguyên nhân thực sự dẫn đến cái chết của Ngài là do tim bị vỡ. Quan điểm cho rằng trong những trường hợp như vậy, màng bao quanh tim (thường chứa đầy chất lỏng) sẽ chứa đầy máu. Nếu màng đó được mở ra và chất bên trong chảy ra ngoài cơ thể, nó sẽ trông giống như một dòng máu lẫn nước (vì hai chất này không hòa lẫn vào nhau, giống như dầu và nước). Thông thường, đây chỉ là một dòng chảy nhỏ; có lẽ đã có một điều gì đó siêu nhiên tác động để thể hiện dấu hiệu này.

ii.Augustus Toplady đã sử dụng hình ảnh này trong bài thánh ca nổi tiếng của ông, “Vầng đá muôn đời”:

Xin núp trong Vầng Đá muôn đời,
Vì tôi phải nứt ra, Ngài ôi!
Lòng mong suối huyết kia trào phun,
Từ hông vỡ Chúa xưa tràn tuôn,
Nên những linh dược chữa muôn tội,
Trừ căn ác vốn hay hành tôi.

iii.Ý tưởng của Toplady nổi bật trong Giao ước Cũ, nơi cả máu và nước thường được sử dụng trong nghi lễ tế lễ để chuộc tội và thanh tẩy tội lỗi. “Hãy xem xét tất cả các hình ảnh tượng trưng trong Cựu Ước, và bạn sẽ thấy rằng sự thanh tẩy tội lỗi thường được thể hiện bằng máu và nước. Máu luôn nổi bật, không có sự tha tội nếu thiếu nó: nhưng nước cũng vô cùng nổi bật.” (Spurgeon)

iv.Spurgeon đã đưa ra một suy nghĩ khác về điều này: “Một trong những nhà thần học cổ đại nói rằng Chúa Giê-su Christ được tượng trưng bởi tổ phụ đầu tiên của chúng ta, A-đam. Như A-đam ngủ thiếp đi, và từ sườn ông mà Ê-va được lấy ra, thì Chúa Giê-su cũng ngủ trên thập tự giá – giấc ngủ của sự chết, và từ sườn Ngài, nơi ngọn giáo đâm vào, Hội Thánh của Ngài đã được lấy ra.”

3.(35-37) Lời khẳng định long trọng của Giăng; sự ứng nghiệm của Kinh Thánh.

a.35K đã thy thì làm chng v vic đó, (li chng ca người là tht, và người vn biết mình nói tht vy), hu cho các ngươi cũng tin: Giăng đã long trọng khẳng định rằng ông đã có mặt tại cuộc đóng đinh Chúa Giê-su và tận mắt chứng kiến những điều ấy. Ông cũng giải thích lý do cho lời chứng của mình: hu cho người đọc cũng tin.

i.Đặc biệt, hình ảnh về máu và nước được đề cập trong các câu trước đã gây ảnh hưởng đến Giăng. Sau này, trong một trong những bức thư của mình (1 Giăng 5:6), ông đã mô tả Chúa Giê-su là Đấng đến bởi nước và máu. Lời mô tả này đã khiến nhiều nhà bình luận bối rối, không chắc chắn liệu Giăng có ý nói đến nước phép báp-têm hay nước được đề cập trong Giăng 19:34.

ii.Tuy nhiên, cách thức và sự chắc chắn về cái chết của Chúa Giê-su là một phần thiết yếu trong niềm tin Cơ Đốc của chúng ta. Điều này thực sự là để anh em có thể tin. Những gì Giăng đã kể cho chúng ta về cái chết của Chúa Giê-su cho đến nay đã dẫn chúng ta đến niềm tin.

  • Sự vô tội của Chúa Giê-su khiến chúng ta tin tưởng.
  • Phẩm giá cao cả của Ngài trong lúc đau khổ khiến chúng ta tin tưởng.
  • Cách thức Ngài chết – bị đóng đinh trên thập tự giá – khiến chúng ta tin như vậy.
  • Dòng chữ trên thập giá của Ngài khiến chúng ta tin tưởng.
  • Việc đánh bạc để giành lấy quần áo của Ngài khiến chúng ta tin rằng…
  • Tình yêu thương dành cho mẹ Ngài khiến chúng ta tin tưởng.
  • Tiếng hô “Xong rồi!” khiến chúng ta tin như vậy.
  • Việc Ngài bình an trút hơi thở cuối cùng khiến chúng ta tin tưởng.
  • Việc Ngài chắc chắn đã chết khiến chúng ta tin rằng Ngài thực sự đã sống lại từ cõi chết.

b.36Vì điu đó xy ra, cho được ng nghim li Kinh thánh ny: Điều đáng chú ý là, điều tưởng chừng như là một lựa chọn ngẫu nhiên của một người lính La Mã vô danh – đâm vào sườn Chúa Giê-su thay vì bẻ gãy chân Ngài – đã được thực hiện để Kinh Thánh được ứng nghiệm.

c.36bChng mt cái xương nào ca Ngài s b gãy: Lời tiên tri này trong Thi thiên 34:20 (cũng như Xuất Ê- díp-tô Ký 12:46 và Dân số Ký 9:12) đã được ứng nghiệm một cách vô tình và ngẫu nhiên (về phía con người). Tuy nhiên, sự ứng nghiệm chính xác của nó cho thấy sự quan phòng và hướng dẫn của Đức Chúa Trời, và khiến chúng ta tin tưởng.

i.Người lính La Mã được lệnh bẻ chân những người bị đóng đinh trên thập tự giá, nhưng vì lý do nào đó, anh ta đã không bẻ chân Chúa Giê-su. Đây là một sự ứng nghiệm đáng kinh ngạc của lời tiên tri.

d.37Li có li Kinh thánh ny na: Chúng s ngó thy người mà mình đã đâm: Lời tiên tri này trong Xa-cha-ri 12:10 và 13:6 đã được ứng nghiệm một cách vô tình và ngẫu nhiên (về phía con người). Tuy nhiên, sự ứng nghiệm chính xác của nó cho thấy sự quan phòng và hướng dẫn của Đức Chúa Trời, và dẫn chúng ta đến niềm tin.

i.“Việc đâm thủng đã xong, nhưng việc ‘nhìn xem’ với ‘thương khóc’ và ‘nài xin’, như Xa-cha-ri đã tiên tri, vẫn còn ở tương lai.” (Trench)

4.(38-42) Chúa Giê-su được hai môn đồ còn do dự chôn cất một cách yêu thương.

a.38Sau đó, Giô-sép người A-ri-ma-thê, làm môn đ Đc Chúa Jêsus mt cách kín giu, vì s dân Giu-đa: Trong bước cuối cùng của công việc trên đất của Chúa Giê-su trước khi Ngài phục sinh, Con Đức Chúa Trời vẫn giữ thái độ thụ động. Đức Chúa Trời đã chọn hai môn đệ trước đó vẫn còn ẩn danh (Giô-sép người A-ri-ma-thê Ni-cô-đem) để nhận thi hài của Chúa Giê-su và an táng Ngài một cách trang trọng nhất có thể trong khoảng thời gian ngắn ngủi trước khi mặt trời lặn và ngày Sa-bát bắt đầu (Lu-ca 23:54 ).

b.38bxin phép Phi-lát cho ly xác Đc Chúa Jêsus; thì Phi-lát cho phép. Vy, người đến và ly xác Ngài: Theo tục lệ, thi thể của những tội phạm bị đóng đinh trên thập tự giá thường bị bỏ lại trên thập tự giá cho đến khi thối rữa hoặc bị thú dữ ăn thịt. Nhưng người Giu-đa không muốn cảnh tượng kinh hoàng như vậy diễn ra trong mùa Lễ Vượt Qua, và người La Mã nổi tiếng là thường trao thi thể của những người bị hành quyết cho bạn bè hoặc người thân để chôn cất tử tế.

i.“Phong tục của người La Mã là để xác chết cho chim và thú săn mồi ăn.” (Dods)

ii.“Người Giu-đa thời đó coi việc chôn cất người chết một cách tử tế là vô cùng quan trọng. Nhiều người đã cố gắng hết sức để đảm bảo đồng bào mình được chôn cất đúng cách, và điều này có thể liên quan đến hành động của Giô-sép.” (Morris)

iii.Chúa đã dùng những người này để bảo vệ thi thể của Chúa Giê-su. “Giống như Achilles đã lôi Hector bằng gót chân quanh thành Troy, Sa-tan cũng muốn con người làm tổn hại đến thi thể của Đấng Christ. Hắn ta muốn ném Ngài cho chó hoặc cho diều hâu ăn thịt; nhưng điều đó không được phép xảy ra.” (Spurgeon)

c.câu 39-40: 39 Ni-cô-đem, là người khi trước đã ti cùng Đc Chúa Jêsus trong ban đêm, by gi cũng đến, đem theo đ mt trăm cân mt dược hòa vi lư hi. 40 Vy, hai người ly xác Đc Chúa Jêsus: Mặc dù không được nói rõ ràng, nhưng có thể hiểu rằng chính là Giô-sép và Nicôđêm đã tự tay làm việc này. Họ là những người giàu có và có thế lực (Ma-thi-ơ 27:57, Mác 15:43, Giăng 3:1), hoàn toàn có thể thuê người hầu làm việc thay mình; thế nhưng họ lại tự tay làm việc này.

i.“Câu chuyện ngụ ý, mặc dù không đề cập trực tiếp (như Thánh Mác và Thánh Luca đã làm), rằng chính Giô-sép đã hạ thi thể Chúa Giêsu xuống khỏi thập tự giá.” (Alford)

ii.Việc hạ cái xác đẫm máu và lấm lem của Chúa Giê-su xuống khỏi thập tự giá cùng với những chiếc đinh sắt đã đóng chặt vào đó hẳn là một việc vô cùng khó khăn, cả về mặt thực tế lẫn về mặt cảm xúc.

d.40bdùng vi gai và thuc thơm gói li, theo như tc khâm lim ca dân Giu-đa: Giô-sép và Ni-cô-đem đã làm hết sức mình để quấn thi thể Chúa Giê-su bằng mộc dược và lô hội, Ni-cô-đem mang đến khoảng một trăm cân. Trước khi quấn thi thể, nó phải được chuẩn bị. Một trong những tục lệ của người Giu-đa khi chuẩn bị thi thể để chôn cất là phải loại bỏ hết các tạp chất trên thi thể và rửa sạch cẩn thận.

i.Họ kiểm tra toàn bộ thi thể Ngài và thấy những mảnh gai gãy vương vãi khắp đầu. Họ thấy mái tóc Ngài dính máu và rối bù; những vết bầm tím khủng khiếp trên khuôn mặt, những vùng râu bị nhổ rụng, đôi môi khô nứt nẻ. Họ lật thân thể Ngài lại để thấy vai và cánh tay Ngài đầy những mảnh gai; từng mảnh một được gỡ ra một cách cẩn thận. Lưng, từ vai trở xuống, là một vết thương hở đầy máu do bị đánh đòn khủng khiếp trước khi bị đóng đinh. Tay và chân Ngài bị đập nát và đầy máu. Ở phía trước – ngay dưới lồng ngực – có một vết thương hở to do nhát giáo đâm vào, xác nhận Ngài đã chết. Tệ nhất là đôi mắt không mở; giọng nói không cất lên.

ii.Chúng ta chỉ có thể tưởng tượng những ấn tượng sâu sắc, kéo dài suốt đời mà điều này đã để lại trong lòng cả hai người, và rằng trong suốt quãng đời còn lại, mùi hương của những loại hương vị đặc biệt ấy sẽ gợi lại từng chi tiết trong ký ức của họ.

iii.Khi hai người đàn ông này làm điều đó – những người am hiểu luật pháp – họ hẳn phải biết rằng họ đang ứng nghiệm lời tiên tri; lời tiên tri trong Ê-sai 53:9 nói rằng Đấng Mê-si sẽ ở cùng người giàu khi Ngài chết. Thi thể của Chúa Giê-su đang nằm ở đây, dưới tay hai người giàu có – những người theo thông lệ lẽ ra sẽ giao cho người hầu làm công việc hạ thấp và đẫm máu như vậy. Thế nhưng họ biết rằng họ phải tự tay làm việc đó.

iv.Đây là một công việc kỳ lạ đối với hai người đàn ông này; tuy nhiên, cũng thật kỳ lạ khi Chúa Giê-su, trong kế hoạch của Đức Chúa Trời, lại thụ động chấp nhận nó. Có thể tưởng tượng rằng, sau khi Chúa Giê-su hoàn thành mọi sự và hiến dâng mạng sống mình, Ngài có thể đã bật dậy khỏi thập tự giá trong một khoảnh khắc lóe sáng đầy quyền năng và vinh quang như một siêu anh hùng chỉ năm phút – hoặc năm giây – sau khi Ngài chết. Nhưng trong kế hoạch của Đức Chúa Cha, Ngài đã treo bất động trên thập tự giá trong một khoảng thời gian – đủ lâu để Giô-sép được diện kiến Phi-lát và nhận được sự cho phép để lấy thi thể. Ngài đã treo trên thập tự giá cho đến khi thi thể của Ngài được hạ xuống một cách khó nhọc và được chôn cất vội vàng theo phong tục của người Giu-đa.

v.Trong kế hoạch của Đức Chúa Trời, việc chôn cất Chúa Giê-su này rất quan trọng đến nỗi nó được coi là một trong những yếu tố thiết yếu của chính phúc âm (1 Cô-rinh-tô 15:3-4). Chúng ta có thể xem xét nhiều lý do cho điều này.

  • Việc chôn cất này đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh. Ê-sai 53:9 chép rằng: Người ta đã đặt mồ người với những kẻ ác “; điều đó có nghĩa là Đấng Mê-si sẽ được chôn cất trong mộ – và quả thật là như vậy.
  • Việc chôn cất này đã hoàn thành lời hứa, lời tiên tri của Chúa Giê-su. Chúa Giê-su nói rằng Ngài, giống như Giô-na, sẽ bị chôn cất trong ba ngày (Ma-thi-ơ 12:40), và vì vậy lời hứa đó phải được ứng nghiệm.
  • Việc chôn cất này chứng tỏ rằng Chúa Giê-su thực sự đã chết; đó là bằng chứng về vinh quang của sự phục sinh sắp đến. Không ai có thể nói với Giô-sép người A-ri-ma-thê hay Ni-cô-đem rằng Chúa Giê-su không thực sự chết.
  • Lễ an táng này rất quan trọng vì các loại hương vị và vật phẩm chuẩn bị cho việc chôn cất đã bảo vệ thi hài thánh của Ngài khỏi sự phân hủy; như đã được chép trong Thi thiên 16:10 : “Ngài sẽ không để Đấng Thánh của Ngài thấy sự hư nát.”
  • Việc chôn cất này đã tạo cơ hội cho cả Giô-sép người A-ri-ma-thê và Ni-cô-đem công khai mối quan hệ của họ với Chúa Giê-su; nó đã đưa họ ra khỏi trạng thái là môn đệ ẩn dật.
  • Việc chôn cất và những ngày Chúa Giê-su nằm trong mộ đã thử thách đức tin và lòng trung thành của các môn đồ; nó khiến họ phải chịu một nỗi đau đớn như chết đi trong suốt những ngày họ biết Chúa Giê-su đang nằm trong mộ.
  • Việc chôn cất này cùng những ngày Chúa Giê-su nằm trong mộ là những bằng chứng cho thấy rằng trên thập tự giá, Chúa Giê-su đã chiến thắng không chỉ tội lỗi mà còn cả sự chết. Việc chôn cất và ngôi mộ trống cho thấy Chúa Giê-su đã chiến thắng tội lỗi và sự chết.
  • Những ngày trong mộ rất quan trọng vì có một công việc quan trọng mà Chúa Giê-su phải thực hiện trong thời gian Ngài ở trong mộ. 1 Phi-e-rơ 3:18-20 cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su đã đi và rao giảng (tuyên bố) cho các linh hồn đang bị giam cầm; mặc dù không có nhiều lời giải thích về tất cả điều này như chúng ta mong muốn, nhưng dường như khi thân thể Chúa Giê-su nằm bất động trong mộ, Linh của Ngài đã xuống âm phủ, nơi ở của người chết. Ở đó, Ngài dẫn dắt những người chết trung tín lên thiên đàng, nhờ công việc Ngài đã hoàn thành trên thập tự giá. Ngài cũng rao giảng (tuyên bố) sứ điệp về sự phán xét và sự kết án sắp đến cho các ác linh đang bị giam cầm trong vực sâu.
  • Lễ an táng này là một sự kết nối tuyệt vời và cuối cùng khác giữa Con Đức Chúa Trời với sự khiêm nhường của con người. Công việc vĩ đại của Chúa Giê-su trên thập tự giá có khía cạnh giao dịch; nhưng còn nhiều hơn thế nữa. Còn có khía cạnh đồng nhất triệt để; nơi Chúa Giê-su kết nối với bạn bằng mọi cách có thể, và Ngài mời gọi bạn kết nối với Ngài. Ngài đã được chôn cất cùng chúng ta, trong sự sỉ nhục của bản chất con người trọn vẹn. Chúng ta được chôn cất cùng Ngài – về mặt thiêng liêng bằng đức tin, về mặt nghi lễ bằng phép báp-têm. Ngài đồng nhất với chúng ta; và bằng đức tin chúng ta đồng nhất với Ngài.

vi.Mộc dược và lô hội, khoảng một trăm cân: “Số lượng khổng lồ này được coi là biểu hiện lòng thành kính của người giàu, hoặc là số lượng cần thiết nếu toàn bộ cơ thể và tất cả các lớp vải quấn đều được bôi bằng chất này.” (Dods)

vii. “Số lượng một trăm pound La Mã (tương đương 75 pound Anh|34kg) đã cho thấy cả sự giàu có lẫn lòng kính trọng của Ni-cô-đem dành cho Chúa Giê-su.” (Tenney)

e.câu 41-42 41V, ti nơi Ngài b đóng đinh, có mt cái vườn, trong vườn đó có mt cái huyt mi, chưa chôn ai 42 y là nơi hai người chôn Đc Chúa Jêsus, vì by gi là ngày sm sa ca dân Giu-đa, và m y gn: Ma-thi-ơ 27:60 cho chúng ta biết rằng ngôi mộ này thuộc về chính Giô-sép người A-ri-ma-thê. Một người giàu có như Giô-sép có lẽ sẽ có một ngôi mộ được khắc vào đá nguyên khối; ngôi mộ này nằm trong một khu vườn gần nơi đóng đinh.

i.Một ngôi mộ điển hình thuộc loại này có một lối vào nhỏ và có thể có một hoặc nhiều ngăn, nơi các thi thể được đặt ra sau khi được ướp xác phần nào bằng hương vị, thuốc mỡ và vải lanh|vải gai. Theo phong tục, người Giu-đa để những thi thể này ở đó trong vài năm cho đến khi chúng phân hủy chỉ còn lại xương, sau đó xương được đặt trong một chiếc hộp đá nhỏ gọi là hộp đựng hài cốt. Hộp đựng hài cốt được giữ lại trong mộ cùng với hài cốt của các thành viên khác trong gia đình.

ii.Cánh cửa của ngôi mộ thường được làm bằng một tảng đá nặng, hình tròn, trượt trong một rãnh và nằm gọn trong một khe dẫn, nên không thể di chuyển được trừ khi có vài người đàn ông khỏe mạnh. Điều này được thực hiện để đảm bảo rằng không ai có thể xâm phạm hài cốt.

iii.Tại nơi Ngài bị đóng đinh có một khu vườn: “Với con mắt thấu suốt như của Giăng, sự gần gũi này không chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. John cảm nhận được rằng có một sự hài hòa sâu thẳm giữa khu vườn và cây thập tự.” (Morrison)

iv.“Sự sa ngã của A-đam thứ nhất diễn ra trong một khu vườn; và chính trong khu vườn đó, A-đam thứ hai đã cứu chuộc nhân loại khỏi hậu quả của tội lỗi A-đam.” (Tasker)

v.Nơi chưa có ai được chôn cất: “Nếu họ chôn cất Ngài trong một ngôi mộ cổ, người Giu-đa sẽ nói rằng ông đã chạm vào hài cốt của một vị tiên tri hoặc một người thánh thiện nào đó, và nhờ vậy mà sống lại.” (Spurgeon)

©1996–present The Enduring Word Bible Commentary by David Guzik

https://enduringword.com/bible-commentary/john-19/