Các anh chị em được Chúa yêu thương! Kinh Thánh kể về hai người khác nhau đã xức dầu cho Chúa Giê-su:
- Người phụ nữ có tội vô danh ở Ga-li-lê trong Lu-ca 7
- và Ma-ri-a ở Bê-tha-ni, chị của Ma-tha và La-xa-rơ, trong Ma-thi-ơ 26, Mác 14 và Giăng 12
Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau đọc câu chuyện về người phụ nữ có tội được tha thứ trong Lu-ca 7:36-50.
| 36Một người Pha-ri-si mời Đức Chúa Jêsus dùng bữa với mình. Ngài vào nhà người Pha-ri-si ấy và ngồi vào bàn. 37Có một người đàn bà tội lỗi ở thành đó nghe nói Ngài đang ngồi ăn tại nhà người Pha-ri-si, nên đem đến một bình bằng ngọc đựng đầy dầu thơm. 38Nàng đứng đằng sau, nơi chân Đức Chúa Jêsus mà khóc, nước mắt thấm ướt cả chân Ngài; rồi nàng lấy tóc mình lau, hôn chân Ngài, và xức dầu thơm lên. 39Người Pha-ri-si đã mời Ngài, thấy vậy, thầm nghĩ: “Nếu người nầy thật là nhà tiên tri, chắc đã biết người đàn bà chạm đến mình đó là ai, thuộc hạng người nào, vì nàng là kẻ tội lỗi.” 40Đức Chúa Jêsus phán với ông: “Hỡi Si-môn, Ta có vài lời nói với ngươi.” Ông thưa: “Xin Thầy cứ nói.” 41Ngài phán: “Một chủ nợ có hai con nợ: Một người nợ năm trăm đơ-ni-ê, người kia nợ năm chục. 42Vì hai người đều không có gì để trả, nên chủ nợ tha cho cả hai. Vậy, trong hai người đó, ai thương chủ nợ hơn?” 43Si-môn thưa: “Tôi nghĩ là người mà chủ đã tha nhiều nợ hơn.” Đức Chúa Jêsus phán: “Ngươi nhận xét đúng lắm.” 44Ngài quay lại phía người đàn bà và phán với Si-môn: “Ngươi thấy người đàn bà nầy không? Ta vào nhà của ngươi, ngươi không cho nước rửa chân; nhưng chị ấy đã lấy nước mắt thấm ướt chân Ta, rồi lấy tóc mình mà lau. 45Ngươi không hôn Ta, nhưng từ khi Ta vào nhà của ngươi, chị ấy luôn hôn chân Ta. 46Ngươi không xức dầu cho đầu Ta, nhưng chị ấy lấy dầu thơm xức chân Ta. 47Vì thế, Ta bảo ngươi, tội lỗi của người đàn bà nầy nhiều lắm, nhưng đã được tha hết, nên chị ấy yêu mến nhiều; còn người được tha ít thì yêu mến ít.” 48Rồi Ngài phán với người đàn bà: “Tội lỗi con đã được tha.” 49Các người ngồi cùng bàn với Ngài nói với nhau: “Người nầy là ai mà có quyền tha tội?” 50Nhưng Ngài phán với người đàn bà: “Đức tin của con đã cứu con; hãy đi bình an.” |
Câu chuyện bắt đầu khi Chúa Giê-su được một người Pha-ri-si mời đến dùng bữa. Nhưng người Pha-ri-si là ai hoặc là gì?
Cái từ “Pha-ri-si” chỉ xuất hiện trong Tân Ước và dùng để chỉ một nhóm được gọi là những người “biệt riêng” (tiếng Hy Lạp: pharisaios). Họ tự gọi mình như vậy vì muốn tách biệt khỏi những điều mà họ xem là ô uế hoặc trái luật, xuất phát từ lòng sốt sắng tôn giáo.
Vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên, tức là thời kỳ giữa Cựu Ước và Tân Ước, dân Y-sơ-ra-ên bị ảnh hưởng mạnh bởi văn hóa Hy Lạp và các nhà cai trị ngoại bang. Nhiều người Do Thái thích nghi theo, nhưng cũng có những người muốn càng tách biệt hơn để giữ luật pháp của Đức Chúa Trời.
Người Pha-ri-si giải thích Kinh Luật Tô-ra (là luật pháp Do Thái) và phát triển truyền thống truyền miệng để làm rõ cách thực hành các điều răn của Đức Chúa Trời trong đời sống hằng ngày (như ngày Sa-bát, sự thanh sạch, dâng của lễ, hôn nhân, buôn bán, v.v.).
Chúa Giê-su một mặt khen về lòng sốt sắng của họ đối với luật pháp, nhưng mặt khác cũng vạch trần sự giả hình của họ: “Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đều ngồi trên ghế của Môi-se. Vậy, hãy làm theo và tuân giữ những gì họ bảo các ngươi; nhưng đừng bắt chước những gì họ làm, vì họ chỉ nói mà không làm“ (Ma-thi-ơ 23,2-3).
Ngày nay, từ “Pha-ri-si” thường được dùng như một lời chỉ trích để nói về người giả hình.
Người đàn-bà tội lỗi
Khi một người phụ nữ là tội nhân biết rằng Chúa Giê-su đang ở trong nhà của người Pha-ri-si, bà mang đến một bình bằng thạch cao đựng đầy dầu thơm và đứng phía sau, nơi chân Ngài. Có thể bà biết luật pháp Môi-se và nhận thức rõ tội lỗi của mình, hoặc lương tâm bà làm chứng rằng bà đã phạm tội (Rô-ma 2:12-15). Tuy vậy, bà vẫn tìm kiếm sự tha thứ nơi Đấng Christ.
Việc đến gần chân Ngài cho thấy bà chọn vị trí thấp nhất, tự hạ mình, phục tùng Chúa Giê-su như Chúa và thờ phượng Ngài. Bà dâng cho Chúa một điều quý giá – có lẽ là điều quý giá nhất bà có. Bình thạch cao thời đó dùng để chứa những loại dầu quý. Một bình như vậy có thể có giá trị tương đương tiền công một năm của người lao động (so sánh Mác 14:5; Giăng 12:5: một đê-na-ri tương đương tiền công một ngày).
Người phụ nữ khóc và bắt đầu lấy nước mắt tưới ướt chân Ngài; rồi lấy tóc mình lau, hôn chân Ngài và xức dầu cho Ngài. Những giọt nước mắt là biểu hiện bên trong của sự ăn năn và xưng tội, giống như Phi-e-rơ sau khi chối Chúa (Lu-ca 22:62). Bà không xấu hổ khi bày tỏ mình trước mặt mọi người. Bà dùng tóc – tóc biểu tượng của vinh dự và phẩm giá (1 Cô-rinh-tô 11:15) – để lau chân Chúa Giê-su, như đặt chính vinh dự của mình dưới chân Ngài. Trong văn hóa phương Đông, chân được xem là phần thấp và ô uế (Giăng 13:10). Việc hôn và xức dầu cho chân là dấu hiệu của sự khiêm nhường và kính trọng.
Trong suốt câu chuyện, người phụ nữ không nói một lời nào, nhưng Chúa Giê-su biết lòng bà. Đức Chúa Trời phán trong Thi-thiên 46:10: “ Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời; Ta sẽ được tôn cao trong các nước, Ta sẽ được tôn cao trên đất nầy”. Người phụ nữ đã yên lặng và trong sự yên lặng đó bà nhận biết Chúa Giê-su là Chúa và là Đấng Cứu Rỗi. Bà trước hết nhận ra tình yêu đầy ân điển của Ngài, rồi mới có thể đáp lại bằng tình yêu vâng phục, vì chúng ta yêu thương vì Chúa đã yêu thương chúng ta trước (1 Giăng 4:19).
Chúa Giê-su phán với bà: “Tội lỗi của con đã được tha”. Ôi, những lời này tuyệt vời biết bao đối với người phụ nữ đã mang gánh nặng tội lỗi của mình bấy lâu. Thật vinh phúc khi một người được nghe chính những lời ấy. Niềm vui giải phóng biết bao khi trong lòng nhận ra rằng Chúa yêu mình và tha thứ tội lỗi mình. “Phước cho người nào được tha sự vi phạm mình, được khỏa lấp tội lỗi mình! Phước cho người nào Đức Giê-hô-va không kể là gian ác và trong lòng không có điều dối trá!” (Thi-thiên 32:1-2).
“Đức tin của con đã cứu con.” Đức tin – là món quà của Đức Chúa Trời ban cho người phụ nữ (Ê-phê-sô 2:8) – giờ đây trở thành của chính bà. Đức tin nơi Đấng Mê-si, Con Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi thế gian (Giăng 1:29), nay thuộc về bà và đem lại sự cứu rỗi (Giăng 3:15). Khi đã được xưng công chính bởi đức tin, chúng ta được hòa thuận với Đức Chúa Trời qua Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ. (Rô-ma 5:1). Người ấy không còn phải sống trong tội lỗi, xấu hổ hay sợ hãi, vì Đức Chúa Trời của sự bình an đã tha thứ. Sự đau buồn theo ý Đức Chúa Trời sinh ra sự ăn năn để được cứu rỗi; điều nầy không có gì phải hối tiếc (2 Cô-rinh-tô 7:10). Vì vậy, cuối cùng Chúa Giê-su phán với bà: “Hãy đi bình an.”
Si-môn, người Pha-ri-si
Bây giờ, chúng ta hãy nói đến người Pha-ri-si. Kinh Thánh không cho biết động cơ của ông khi mời Chúa Giê-su đến dùng bữa. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là ông không dâng nước để rửa chân cho Chúa Giê-su, không hôn Ngài và cũng không xức dầu trên đầu Ngài. Trong thời đó, tất cả những điều này đều thuộc về phép tắc tiếp khách.
Ở những vùng nóng như Y-sơ-ra-ên, người ta thường đi dép. Trước khi khách vào nhà, người hầu sẽ rửa chân cho họ, hoặc họ tự rửa để làm sạch bụi và cát. Nụ hôn chào của chủ nhà dành cho khách là dấu hiệu của tình bạn và sự tôn trọng. Ngoài ra, người ta còn xức dầu thơm lên đầu khách như dấu hiệu của sự tôn kính.
Phải chăng Si-môn đã bỏ qua những phép tắc này vì ông chỉ xem Chúa Giê-su như một ra-bi (tức là thầy dạy), chứ không phải là Đấng Mê-si? Phải chăng ông, với tư cách là người Pha-ri-si, chỉ bề ngoài là đạo đức nhưng bên trong lại thiếu sự khiêm nhường và vâng phục?
Câu trả lời của Chúa Giê-su là: “Ai được tha ít thì yêu ít” (Lu-ca 7:47). Người Pha-ri-si thiếu sự nhận biết về sự tha thứ; ông không thấy được tội lỗi của chính mình. Vấn đề không phải là so sánh tội lỗi giữa người với người, vì chỉ Đức Chúa Trời biết lòng người (xem chuyện hai người con trong Ma-thi-ơ 21:28-31). Điều quan trọng là nhận biết cách chân thật rằng mình đã được tha bao nhiêu, và ân điển của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-su Christ lớn lao đến mức nào.
Chúa Giê-su không xét đoán qua lời nói của Ngài, vì Ngài đến để cứu thế gian (Giăng 3:17; 12:47). Ngay cả Si-môn cũng có thể ăn năn và được cứu. Nếu không, Chúa Giê-su đã không nhận lời mời dùng bữa của ông.
Những con người trong câu chuyện
Xung quanh Chúa Giê-su, trong nhà của người Pha-ri-si, có nhiều người khác nhau tụ họp, vì bữa ăn với một ra-bi có tiếng thời đó mang tính nửa công khai. Người trong thành có thể vào để nghe ra-bi giảng dạy.
Người phụ nữ tội lỗi không tên, tình cờ có mặt trong thành và nhận ra cơ hội đến với Chúa Giê-su, đã lập tức nắm lấy cơ hội. Bà không chờ đợi, không do dự, và không để bất cứ điều gì ngăn cản mình. Bà vượt qua mọi rào cản, sự e dè và xấu hổ để tìm đến gần Chúa Giê-su. Bởi vì vào thời đó, sự tiếp xúc giữa nam và nữ là điều cấm kỵ. Bà hành động như một người bệnh nặng, kiên quyết tìm kiếm thầy thuốc (Lu-ca 5:31). Chúng ta chẳng phải đều giống như bà sao – những người không có tên trong sách sự sống? Chúng ta chẳng cần một thầy thuốc cho bệnh tật thân thể, tâm hồn và nhất là tâm linh sao? Chính Đức Chúa Trời phán: “ Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bệnh cho các con” (Xuất Ê-díp-tô Ký 15:26).
Những người cùng bàn, có lẽ là bạn bè và người quen của người Pha-ri-si, chứng kiến mọi việc và tự hỏi: “Người nầy là ai mà có quyền tha tội?”. Một mặt, họ vật lộn với thân vị của Chúa Giê-su, vì chỉ Đức Chúa Trời mới có thể tha tội (Lu-ca 5:21). Mặt khác, họ nghi ngờ hoặc chống đối trong lòng, vì họ chỉ biết Ngài là con của Giô-sép, người thợ mộc ở Na-xa-rét. Làm sao một con người lại có thể là Chúa (Giăng 10:33) hoặc Con Đức Chúa Trời (Giăng 10:36)?
Chúa Giê-su phán: „Nếu Ta không làm những công việc của Cha Ta thì các người đừng tin Ta. Còn nếu Ta làm thì dù các ngươi không tin Ta, hãy tin các công việc của Ta, để các ngươi có thể biết và hiểu rằng Cha ở trong Ta và Ta ở trong Cha” (Giăng 10,37-38). „Người mù được sáng, người què được đi, người phong hủi được sạch, người điếc được nghe, người chết được sống lại, người nghèo được nghe Tin Lành“ (Lu-ca 7:22; Ma-thi-ơ 11:5). Chúng ta có tin vào công việc của Đức Chúa Trời trong chính mình hoặc nơi người khác không? „Giờ đã trọn, vương quốc Đức Chúa Trời đã đến gần, các ngươi hãy ăn năn và tin nhận Tin Lành“ (Mác 1:15).
Trong nhà của người Pha-ri-si chắc chắn còn có những người khác – người hầu, người xem, người nghe… Nhưng Kinh Thánh không nói thêm gì về họ. Có phải chúng ta thường giống như những người không được nhắc đến đó không? Chúng ta chỉ nghe hoặc không, không làm gì cả, và quên những gì đã nghe. Gia-cơ khuyên: “ Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình. Vì nếu người nào nghe lời mà không làm theo thì giống như người kia soi mặt mình trong gương, ngắm rồi bỏ đi và quên ngay mặt mình như thể nào. ” (Gia-cơ 1:22-24). Chiếc gương là Lời Đức Chúa Trời, là chân lý. Gương mặt của con người là bản tính với mọi yếu đuối, tính tạm bợ và những lỗi lầm chống lại Đức Chúa Trời / các điều răn của Ngài.
Qua câu chuyện hai con nợ, Chúa Giê-su làm rõ với Si-môn, người Pha-ri-si, tất cả những người có mặt ở đấy và cả chúng ta rằng tất cả chúng ta đều là con nợ trước mặt Đức Chúa Trời và không có gì để trả nợ. Đức Chúa Trời ban sự cứu rỗi cho tất cả chúng ta. Si-môn đã mời Chúa Giê-su vào nhà mình, nhận được sự nhận biết này như một món quà và một cơ hội để ăn năn và quay trở lại. Nhưng ông đã làm gì với sự nhận biết đó?
Chúa Giê-su phán: “Ta sẽ chỉ cho các con biết người nào đến với Ta, nghe lời Ta và làm theo thì giống như ai. Người ấy giống như một người kia xây nhà, đào xuống thật sâu và đặt nền trên vầng đá. Khi nước lụt dâng lên, dòng nước chảy xiết xô vào nhà ấy cũng không lay động được, vì nhà đã xây chắc chắn. Nhưng ai nghe lời Ta mà không làm theo thì giống như một người kia xây nhà trên đất không có nền móng. Khi dòng nước chảy xiết xô vào, nhà ấy liền bị sụp và thiệt hại nặng nề” (Lu-ca 6:47-49).
Câu chuyện này có ý nghĩa gì đối với mỗi chúng ta? Bao nhiêu lần chúng ta đến với Chúa, nghe lời Ngài, nhưng vẫn chỉ là người nghe? Bao nhiêu lần chúng ta mời Chúa Giê-su vào đời sống mình, nhận được sự hiểu biết, nhưng không hành động theo? Chúng ta có thật sự có sự bình an trong Chúa khi Ngài tha tội cho chúng ta không?
Bạn là ai trong câu chuyện này?
„Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ, cửa sẽ mở cho các con“ (Ma-thi-ơ 7:7). Chúng ta hãy cầu xin Chúa Giê-su cho chúng ta thấy Ngài nhìn chúng ta như thế nào. Chúng ta hãy xin Ngài ban cho sự hiểu biết và chữa lành sự mù lòa của chúng ta, vì thì thời gian còn quá ngắn! (1 Cô-rinh-tô 7:29).
„Ta đến nhanh chóng; hãy giữ vững điều con đang có để không ai đoạt mất mão triều thiên của con“ (Khải Huyền 3,11). „“Nầy, Ta đến mau chóng, đem phần thưởng theo với Ta, để thưởng cho mỗi người tùy theo việc họ đã làm“ (Khải Huyền 22,12).
Cuối cùng, tôi xin trích lời của Martin Luther
| Ngươi tìm gì vậy, hỡi ma quỷ? Ngươi muốn trách cứ những việc lành và sự thánh khiết riêng của ta trước mặt Đức Chúa Trời sao? Ôi, ta đâu có những điều đó! Điều ta có chính là CHÚA. Hay ngươi muốn cáo buộc tội lỗi của ta? Ôi, ta cũng chẳng có gì! Điều ta có chính là CHÚA. Ta không biết gì về tội lỗi hay sự thánh khiết nơi mình. Cả hai đều thuộc về CHÚA của ta.
Còn ta, ta muốn từ bỏ chính mình, không muốn nói về việc làm của riêng ta hay của bất cứ con người nào. Ta không biết gì về chính mình hay về sự thánh khiết của mình. Nhưng những công việc của Chúa Giê-su – ta có chúng trước mặt mình; về những điều đó ta sẽ nói, ta sẽ khoe, và ta sẽ tin cậy. Chính Ngài là Đấng giải cứu khỏi tội lỗi và sự chết. Nếu ngươi, hỡi ma quỷ, có thể phá đổ những công việc đó, thì ngươi cũng đã đánh bại được ta. Thật tốt biết bao nếu ai đó có thể buông bỏ chính mình như vậy và chế giễu ma quỷ với “hai bàn tay trắng”. Giống như người nghèo kia, bắt được một tên trộm trong nhà mình ban đêm và nói: Ôi, tên trộm ngu dại kia, ngươi muốn tìm gì trong đêm tối ở đây, nơi mà chính ta ban ngày cũng chẳng tìm thấy gì? Vậy ma quỷ sẽ làm gì khi nó gặp một “linh hồn trống không”, không trả lời nó về tội lỗi cũng không về sự thánh khiết? Lúc đó nó phải từ bỏ mọi mưu kế của mình: cả việc phóng đại tội lỗi lẫn việc hạ thấp những việc lành. Nó bị hướng về Chúa Giê-su. Và nó phải để Ngài yên. Nhưng nếu ngươi để mình bị nắm giữ bởi tội lỗi hoặc bởi những việc lành của mình, và ngươi nghe theo lập luận của nó, thì nó sẽ dẫn dắt ngươi theo ý nó – khiến ngươi quên và chối bỏ Chúa Giê-su và những công việc của Ngài. Ta là tội lỗi của Ngài, và Ngài là sự công chính của ta. Vì vậy ta được vững vàng. Vì tội lỗi của ta sẽ không thể lấn át sự công chính của Ngài, và sự công chính của Ngài sẽ không để ta mãi là tội nhân. Chúc tụng Đức Chúa Trời, Đấng hay thương xót và là Đấng Cứu Chuộc của ta. Con sẽ tin cậy nơi Ngài, và con sẽ không bao giờ bị hổ thẹn. |