Giăng 17 – Lời cầu nguyện vĩ đại của Chúa Giê-su
“Năm 1572, trên giường bệnh, Giăng Knox đã yêu cầu vợ đọc cho ông nghe chương 17 sách Phúc Âm Giăng, ‘nơi’, ông nói, ‘tôi đã thả neo lần đầu tiên.’” (Bruce)
A.Chúa Giê-su cầu nguyện về chính Ngài.
1.(1a) Giới thiệu.
A.1Đức Chúa Jêsus phán như vậy: Kinh Thánh chứa đầy những lời cầu nguyện tuyệt vời. Chúng ta ấn tượng với lời cầu nguyện của Sa-lô-môn (1 Các Vua 8), lời cầu nguyện của Áp-ra-ham (Sáng thế ký 18) và lời cầu nguyện của Môi-se (Xuất Ê-díp-tô Ký 32), nhưng lời cầu nguyện này là lời cầu nguyện vĩ đại nhất được ghi lại trong Kinh Thánh.
i.Hầu hết chúng ta đều biết cảm giác khi nghe một người nam hoặc nữ chân chính của Chúa cầu nguyện sâu sắc; có điều gì đó thiêng liêng và đáng kính sợ trong đó. Vượt xa tất cả những cái đó là lời cầu nguyện mà Chúa Giê-su đã dâng lên Đức Chúa Trời và Cha Ngài, đây là lời cầu nguyện dài và liên tục duy nhất của Chúa Giê-su được ghi lại trong các sách Phúc Âm. Các câu chữ đơn giản, nhưng ý nghĩa sâu sắc, cảm động và đầy ý nghĩa.
ii.“ Chẳng có tiếng nói nào từng được nghe thấy, dù trên trời hay dưới đất, cao cả hơn, thánh thiện hơn, hiệu quả hơn, vĩ đại hơn lời cầu nguyện mà Con Đức Chúa Trời dâng lên chính Đức Chúa Trời.” (Melanchthon, trích dẫn trong Boice)
iii.Lời cầu nguyện chân thành thường bộc lộ bản chất sâu kín nhất của một người. Giăng 17 là một cơ hội độc đáo để thấy được bản chất và tấm lòng của Chúa Giê-su. Trong lời cầu nguyện này, Chúa Giê-su sẽ đề cập đến nhiều chủ đề được phát triển trong Phúc Âm này: sự vinh hiển, làm vinh hiển, được sai đi, đức tin, thế gian, tình yêu.
iv.Nhiều mối quan tâm tương tự như trong cầu nguyện chung (Ma-thi-ơ 6:9-13) cũng được đề cập trong lời cầu nguyện này.
- Lời cầu nguyện được hướng đến Chúa Cha một cách liên tục.
- Có sự nhận biết và quan tâm đến danh của Chúa.
- Có sự quan tâm đến công việc của vương quốc Đức Chúa Trời.
- Có mối quan tâm đến việc tránh xa điều ác.
Tuy nhiên, có điều khác biệt trong lời cầu nguyện này; Chúa Giê-su không cầu nguyện giống như Ngài đã bảo các môn đệ cầu nguyện. “Lời thỉnh cầu của Chúa chúng ta được ghi trong chương 17 sách Giăng rõ ràng không phải là lời cầu nguyện của kẻ thấp hơn đối với kẻ cao hơn: trong đó luôn thấy sự bình đẳng giữa Đấng Nói và Đức Chúa Cha. Hai Đấng chỉ có một tâm tình… Khi Con nói, Ngài không tìm cách ép buộc Cha phải nghe theo mình: mà Ngài đang nói lên mục đích của Đức Chúa Trời chủ thể (Godhead).” (Trench)
vi.Tân Ước cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su có một công việc cầu thay liên tục, hiện hữu cho dân Ngài (Rô-ma 8:34, Hê-bơ-rơ 7:25). “Mục đích không phải là để cho chúng ta biết những gì Ngài đã nói trong một dịp đặc biệt, mà là để cho thấy thái độ nhất quán trong tâm trí Ngài, ý niệm xuyên suốt về sự ‘cầu thay’ không ngừng của Ngài cho chúng ta trong thời gian Ngài vắng mặt.” (Trench)
b.1bđoạn, ngước mắt lên trời mà rằng: Điều này thể hiện tư thế của Chúa Giê-su khi Ngài cầu nguyện. Đây là một tư thế mà chúng ta thường không liên tưởng đến sự cầu nguyện sâu sắc. Trong các phong tục cầu nguyện của thế giới phương Tây, chúng ta thường cúi đầu và nhắm mắt. Chúa Giê-su đã cầu nguyện theo các phong tục cầu nguyện phổ biến trong thời của Ngài (Giăng 11:41, Mác 7:34, Thi thiên 123:1).
i.“Tuy nhiên, trong Kinh Thánh, lời cầu thay của Chúa được dành nhiều không gian hơn khi Ngài gần kết thúc công việc của mình. Sau bữa tiệc thánh, khi công việc rao giảng công khai của Ngài đã kết thúc, và không còn gì phải làm ngoài việc chịu chết, Ngài đã hoàn toàn dâng mình cho việc cầu nguyện. Ngài không còn dạy dỗ đám đông, cũng không chữa lành người bệnh nữa, và trong khoảng thời gian còn lại trước khi Ngài hi sinh mạng sống, Ngài đã chuẩn bị cho sự cầu thay đặc biệt. Ngài đã hiến dâng linh hồn mình khi còn sống trước khi hiến dâng nó cho đến chết.” (Spurgeon)
ii.Những lời Ngài ngước mắt lên trời cũng cho thấy Chúa Giê-su nhìn lên với niềm hy vọng chứ không hề ủ rũ hay buồn rầu trong lời cầu nguyện này. Đây thực chất là lời cầu nguyện của đức tin và sự tin cậy, thậm chí là chiến thắng – đồng thời thừa nhận thực tế của cuộc xung đột. “Chúng ta thường hiểu lời cầu nguyện này như thể nó khá u ám. Nhưng không phải vậy. Nó được thốt ra bởi Đấng vừa khẳng định rằng Ngài đã chiến thắng thế gian (Giăng 16:33), và nó bắt đầu từ niềm tin này.” (Morris)
iii.Lời cầu nguyện đáng chú ý này được dâng lên với tấm lòng và tâm trí hướng về trời cao. Chúa Giê-su không hề đề cập đến những vấn đề hay những quyết định mà Ngài phải đưa ra. Tấm lòng và tâm trí Ngài hướng về những điều cao cả nhất, cam kết hoàn thành trọn vẹn ý muốn của Đức Chúa Cha bất kể giá nào, để sự sống đời đời có thể đến với người khác.
2.(1b) Chúa Giê-su yêu cầu được tôn vinh.
a.1cThưa Cha, giờ đã đến: Trước đây, giờ vinh hiển của Chúa Giê-su (bắt đầu từ khi Ngài chết) vẫn chưa đến (Giăng 2:4; 7:8; 7:30; 8:20). Giờ đây, giờ đã đến (như Chúa Giê-su đã nói trước đó tại Giăng 12:23).
i.Hãy chú ý đến các từ: Thưa Cha … Con của Cha … Con của Cha … Cha. Đây là một lời cầu nguyện sâu sắc và phong phú về mối quan hệ. Chúa Giê-su đã cầu nguyện với một cảm nhận trọn vẹn và sâu sắc về mối quan hệ gia đình và thứ bậc tự nhiên tồn tại giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.
ii.Thưa Cha : “Và trong điều này, Ngài đã nêu gương cho chúng ta: trong mọi lúc hoạn nạn, hãy nương tựa vào phận làm con, sự được nhận làm con nuôi và tình phụ tử của Đức Chúa Trời vĩ đại. Hãy hướng về Cha, vì con cái chúng ta nên tìm đến ai khác một cách tự nhiên như vậy?” (Spurgeon)
iii.giờ đã đến: “Đức tin của Ngài coi đó chỉ là một giờ: nửa đêm ở vườn Ghết-sê-ma-nê, buổi sáng bị đánh đòn, ban ngày bị đóng đinh trên thập tự giá, tất cả chỉ là một giờ, một khoảng thời gian ngắn ngủi. Giờ đây Ngài đang gặp hoạn nạn, vì thời kỳ đau đớn của Ngài đã đến; nhưng Ngài coi đó chỉ là một giờ, vì niềm vui của những gì sẽ được sinh ra trên thế giới nhờ những cơn đau đớn tột cùng của Ngài. Như vậy, tình yêu và lòng kiên nhẫn của Ngài khiến Ngài coi thường thời kỳ nhục nhã và xem đó chỉ là một khoảng thời gian ngắn ngủi.” (Spurgeon)
b.1dxin làm vinh hiển Con: Chúa Giê-su cầu nguyện trước hết cho chính mình, nhưng lời cầu xin của Ngài không phải là ích kỷ. Sự quan tâm của Ngài đối với chính mình thực chất là sự quan tâm đến vinh quang của Cha. Con chỉ có thể tôn vinh Cha nếu Cha trước tiên đáp lời cầu nguyện của Con, “Hãy tôn vinh Con Ngài ”.
i.“Nếu sự hy sinh của Chúa Giê-su trên thập tự giá không được chấp nhận, hoặc nếu Con không được phục hồi vị trí xứng đáng của Ngài trước sự hiện diện vinh quang trọn vẹn của Cha, thì sẽ không mang lại vinh quang nào cho Chúa Cha. Điều đó có nghĩa là sứ mệnh thiêng liêng đã thất bại, mục đích của ân điển mãi mãi bị đánh bại.” (Carson)
ii.“Lạy Cha, giờ đã đến: xin hãy tôn vinh Con Cha: tức là hãy cho những người đó thấy rõ rằng Con người Giê-su cũng là Con Đức Chúa Trời; hãy làm cho điều đó rõ ràng qua sự phục sinh và thăng thiên của Ngài.” (Trench)
iii.“Sự tôn vinh này bao gồm cái chết, sự phục sinh và việc Ngài ngự bên hữu Đức Chúa Trời, với tư cách là Đấng Trung Bảo được công nhận.” (Dods)
iv.Chúa Giê-su đã đưa ra một số lý do hoặc căn cứ cho lời cầu nguyện này, “ Xin tôn vinh Con Ngài ”. Nếu Con Đức Chúa Trời đã sử dụng những lý do hoặc căn cứ khi cầu nguyện với Cha, thì chúng ta càng phải chú ý hơn nữa đến việc đưa ra lý do và căn cứ cho những lời cầu xin của mình trước ngai vàng của Đức Chúa Trời.
- Vì giờ đã đến (Giăng 17:1).
- Vì Đức Chúa Cha sẽ được vinh hiển (Giăng 17:1).
- Vì quyền năng ban sự sống đời đời đã được ban cho rồi (Giăng 17:2).
- Vì Chúa Giê-su là con đường duy nhất dẫn đến sự sống (Giăng 17:3).
- Vì nó hoàn thành công việc mà Chúa Cha đã sai Chúa Con làm (Giăng 17:3).
c.Giờ đã đến…1dxin làm vinh hiển Con: Chính thập tự giá (xem Giăng 12:27-33, 13:30-33, 21:18-19) sẽ tôn vinh Con Ngài. Thập tự giá là sự sỉ nhục tột cùng đối với thế gian, nhưng đó là phương tiện để tôn vinh trong mắt Đức Chúa Trời. Đây là một khía cạnh của sự dại dột và yếu đuối của thập tự giá (1 Cô-rinh-tô 1:18, 1:23-25).
i.“Đối với loài người, thập giá là công cụ của sự sỉ nhục. Đối với Đấng Christ, đó là phương tiện để đạt được vinh quang đích thực.” (Morris)
ii.Lời cầu nguyện này đã được đáp ứng một cách kỳ diệu. “Phải, Chúa Cha đã tôn vinh Con Ngài, ngay cả khi Ngài muốn làm tổn thương và gây đau khổ cho Con. Một tay Ngài đánh đập, tay kia Ngài lại tôn vinh. Có một sức mạnh để nghiền nát, nhưng cũng có một sức mạnh để duy trì sự hoạt động cùng một lúc. Chúa Cha đã tôn vinh Con Ngài.” (Spurgeon)
iii.Lời cầu nguyện của chúng ta khác nhau như thế nào ? “Dưới hình thức này hay hình thức khác, chúng ta liên tục cầu xin Chúa Cha tôn vinh chúng ta. Xin Cha làm vinh danh con, chúng con kêu lên, bằng cách ban cho con hội thánh đông đảo nhất trong thị trấn; bằng cách khởi xướng một cuộc phục hưng vĩ đại trong sứ mệnh của con, bằng cách gia tăng quyền năng thuộc linh của con, để con được nhiều người tìm kiếm. Tất nhiên, chúng ta không nêu lý do một cách ngắn gọn như vậy; nhưng thực sự đó là điều chúng ta muốn nói. Và rồi chúng ta tự hỏi tại sao câu trả lời lại đến muộn.” (Meyer)
d.1ehầu cho Con cũng làm vinh hiển Cha: Trong công việc tưởng chừng như trái ngược với trực giác, thập tự giá đã làm vinh hiển Chúa Con Giê-su và bày tỏ sự khôn ngoan và quyền năng của Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 1:23-25). Tuy nhiên, nó cũng làm vinh hiển Đức Chúa Cha, bằng cách bày tỏ kế hoạch khôn ngoan và sự hy sinh lớn lao của Ngài khi ban Con để thực hiện công việc như vậy.
i.“Con Đức Chúa Trời đã tôn vinh Cha bằng cách bày tỏ trong hành động này [tại thập giá] quyền tối cao (sovereignty) của Đức Chúa Trời đối với sự ác, lòng thương xót của Đức Chúa Trời dành cho loài người, và sự cứu chuộc trọn vẹn dành cho những người tin.” (Tenney)
ii.“Động cơ của Đấng Christ cũng phải là động cơ của chúng ta. Khi bạn cầu xin ơn phước từ Chúa, hãy cầu xin sao cho bạn có thể dùng ơn phước đó để tôn vinh Ngài. Bạn khao khát lấy lại sức khỏe? Hãy chắc chắn rằng bạn muốn dùng sức khỏe đó cho Ngài. Bạn mong muốn thăng tiến về vật chất? Hãy mong muốn điều đó để có thể làm rạng danh Ngài. Bạn thậm chí khao khát sự tăng trưởng trong ân điển? Hãy chỉ cầu xin điều đó để có thể tôn vinh Ngài.” (Spurgeon)
3.(2-3) Chúa Giê-su nói về nguồn gốc và bản chất của sự sống đời đời.
a.2và nhân quyền phép Cha đã ban cho Con cai trị loài xác thịt: Chúa Giê-su tuyên bố Ngài có quyền cai quản mọi loài và có khả năng ban sự sống đời đời cho nhân loại. Đây là một tuyên bố rõ ràng và đáng kinh ngạc về thần tính; chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể đưa ra tuyên bố này một cách chân thật và có hiểu biết.
i.Ở đây, Chúa Giê-su tuyên bố “có quyền quyết định vận mệnh cuối cùng của con người”. (Takser)
ii.Điều này mang lại cho chúng ta niềm hy vọng mới cho công tác truyền giáo, khi biết rằng Chúa Giê-su có quyền trên mọi người. Ngay cả đối với những người từ chối Chúa Giê-su hoặc không biết đến Ngài, ngay cả khi họ không biết hoặc không thừa nhận điều đó, Chúa Giê-su vẫn có quyền trên họ. Chúng ta có thể cầu nguyện trong đức tin và xin Chúa Giê-su thi hành quyền năng đó trên những người chưa ăn năn và tin.
iii.Cha đã ban cho Con cai trị loài xác thịt: Phi-líp 2:5-11 là minh chứng cho điều này, rằng mọi người sẽ nhận biết quyền uy của Chúa Giê-su; mọi đầu gối sẽ quỳ xuống và mọi lưỡi sẽ xưng nhận rằng Chúa Giê-su Christ là Chúa.
iv.Người tin Chúa hiểu và tôn vinh quyền năng của Chúa Giê-su, đặc biệt khi xem xét các lựa chọn khác. “Con người không thể hành động nếu không có quyền năng. Vì vậy, nếu bạn loại bỏ một quyền năng này, một quyền năng khác sẽ xuất hiện. Nếu bạn từ chối quyền năng của Đức Chúa Trời, quyền lực của con người sẽ nổi lên.” (Boice)
b.2bCon được ban sự sống đời đời cho những kẻ mà Cha đã giao phó cho Con: Chúa Giê-su hiểu rằng Ngài chính là Đấng ban sự sống đời đời cho những người được Cha giao phó cho Ngài.
i.“Cơ đốc nhân thường nghĩ về Chúa Giê-su như một món quà của Chúa dành cho chúng ta; chúng ta hiếm khi nghĩ về chính mình như một món quà của Chúa dành cho Chúa Giê-su.” (Carson)
ii.Điều này cho thấy một điều mà chúng ta có thể hiểu một cách mơ hồ như là sự phân công lao động trong công việc cứu rỗi giữa Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Ở đây, chúng ta thấy rằng Đức Chúa Cha giao một số người cho Đức Chúa Con, và Đức Chúa Con ban cho họ sự sống đời đời thông qua công việc của Ngài trên thập tự giá. Tất nhiên, Đức Thánh Linh cũng có công việc của Ngài trong sự cứu rỗi, mặc dù không được đề cập trong đoạn Kinh Thánh này.
iii.“Ở đây, giáo lý về sự cứu chuộc chung và riêng hòa quyện một cách ngọt ngào: ‘Như Cha đã ban cho Ngài quyền cai trị muôn loài,’ tất cả đều nằm dưới sự cai trị trung bảo của Đấng Christ nhờ sự hy sinh vô song của Ngài; nhưng mục đích cụ thể là ban sự sống đời đời cho dân được chọn: ‘để Ngài ban sự sống đời đời cho tất cả những ai như Cha đã ban cho Ngài.’” (Spurgeon)
c.3Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Jêsus Christ, là Đấng Cha đã sai đến: Sự sống đời đời được tìm thấy trong sự hiểu biết trải nghiệm (ginosko) về cả Đức Chúa Cha và Chúa Giê-xu Christ, Con Đức Chúa Trời.
i.“Trên thế giới này, chúng ta đều biết rằng việc quen biết một số người là một phước lành và nguồn cảm hứng. Điều đó càng đúng hơn khi chúng ta quen biết Chúa.” (Morris)
ii Sự sống là sự tương tác tích cực với môi trường; cái chết là sự kết thúc của sự tương tác này, dù là về thể chất hay tinh thần.” (Tenney) Cuộc sống vĩnh hằng có nghĩa là chúng ta đang sống và tích cực kết nối với môi trường của Chúa. Nếu Chúa và thế giới tâm linh của Ngài không ảnh hưởng (và thậm chí chi phối) cuộc sống của chúng ta, thì có thể nói rằng chúng ta không có hoặc không trải nghiệm được sự sống vĩnh hằng. Nếu vậy, chúng ta sống trong cùng một chiều không gian với động vật và tồn tại như thể chúng ta đã chết đối với Chúa và môi trường của Ngài.
iii.là nhìn biết Cha: “Trong tiếng Hy Lạp, động từ ở thể giả định hiện tại cho thấy ‘sự hiểu biết’ là một kinh nghiệm ngày càng phát triển.” (Tasker)
4.(4-5) Lời thỉnh cầu lại được nêu lên, đầy đức tin: Hãy tôn vinh Ta.
a.4Con đã tôn vinh Cha trên đất: Chúa Giê-su không chờ đến khi chịu chết trên thập tự giá mới tôn vinh Đức Chúa Cha. Toàn bộ cuộc đời Ngài đã tôn vinh Đức Chúa Trời trên đất.
i.Chúa Giê-su đã tôn vinh Đức Chúa Cha suốt cuộc đời Ngài, từ khi Ngài chịu phép cắt bì và dâng mình tại đền thờ (Lu-ca 2:21-23) cho đến những năm tháng vâng phục thầm lặng ở Na-xa-rét (Ma-thi-ơ 2:23, 13:55).
ii.Chúa Giê-su đã tôn vinh Đức Chúa Cha qua đức tin, sự vâng phục và công việc của Ngài trong suốt những năm tháng thi hành chức vụ trên đất. Mỗi bài giảng, mỗi người mù hay người bệnh được chữa lành, mỗi lời chỉ dạy và huấn luyện cho các môn đồ, mỗi cuộc đối đầu với các lãnh đạo tôn giáo tham nhũng, mỗi câu hỏi được giải đáp, mỗi cử chỉ yêu thương – tất cả đều tôn vinh Đức Chúa Cha.
b.4blàm xong công việc Cha giao cho làm: Chúa Giê-su, với niềm tin và sự xác quyết thiêng liêng, đã xem công việc trên thập tự giá như đã hoàn thành. Tất nhiên, cũng có một ý nghĩa rằng công việc chưa hoàn thành; nhưng vì Chúa Giê-su là Chiên Con bị giết từ thuở sáng thế (Khải Huyền 13:8), nên có một ý nghĩa lớn hơn nữa là công việc đã hoàn thành, được trọn vẹn trong lòng và ý nghĩ của Đức Chúa Trời. Giờ đây, chỉ cần hoàn thành nó mà thôi.
i.Có một ý nghĩa tương tự, đó là Chúa nhìn nhận công việc biến đổi và hoàn thiện của chúng ta như đã hoàn thành, ngay cả trước khi nó diễn ra. Giờ thì chỉ cần phải hoàn thành nó mà thôi.
ii.“Có một sự thừa nhận thầm lặng rằng Chúa Giê-su đã hoàn thành nhiệm vụ của Ngài một cách trọn vẹn, và trong quá trình đó đã mang lại vinh quang cho Chúa Cha.” (Morris)
c.5Cha ôi! Bây giờ xin lấy sự vinh hiển Con vốn có nơi Cha: Chúa Giê-su cầu xin Cha tôn vinh Ngài, nhưng với cùng một vinh quang mà chính Cha có. Lời cầu nguyện của Chúa Giê-su không phải là biểu hiện của sự độc lập, mà là sự phụ thuộc hoàn toàn và liên tục vào Đức Chúa Cha.
i.Có nhiều người kêu lên “Hãy tôn vinh con”, và đôi khi họ còn hướng lời kêu gọi đó đến Đức Chúa Trời bằng những từ ngữ mang tính thuộc linh hơn. Tuy nhiên, lời kêu gọi “Hãy tôn vinh con” của họ hầu như luôn hoàn toàn khác với lời cầu nguyện của Chúa Giê-su, “làm vinh hiển Con nơi chính mình Cha”, và sự khác biệt thường nằm ở chỗ phụ thuộc hay độc lập.
d.5btrước khi chưa có thế gian mà làm vinh hiển Con nơi chính mình Cha: Chúa Giê-su nhận thức được sự hiện hữu trước đó của Ngài, và bản chất của sự hiện hữu đó. Chúa Giê-su hiểu rằng đã có một thời điểm trong cõi vĩnh hằng, khi Đức Chúa Con và Đức Chúa Cha cùng hưởng vinh quang chung.
i.Chúa Giê-su không thể cầu nguyện một cách chân thật hay tỉnh táo như vậy nếu Ngài không phải là chính Đức Giê-hô-va, ngang bằng với Đức Chúa Cha. Trong Ê-sai 42:8 và 48:11, Đức Giê-hô-va tuyên bố rằng Ngài không chia sẻ vinh quang của mình với bất cứ ai. Nếu Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con cùng chia sẻ vinh quang, thì cả hai đều phải là Đức Giê-hô-va.
ii.“Ngài có một lời cầu xin chính: đó là xin Chúa Cha đón nhận Ngài trở lại vinh quang mà Ngài đã gác lại để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Lời cầu xin được trở lại vinh quang nguyên thủy này ngụ ý rõ ràng về sự tồn tại từ trước và sự bình đẳng của Ngài với Chúa Cha. Điều này khẳng định lời tuyên bố của Ngài rằng Ngài và Chúa Cha là một (Giăng 10:30).” (Tenney)
iii.Phúc Âm Giăng đã nhấn mạnh vinh quang của Chúa Giê-su xuyên suốt bản ghi chép của mình. Giăng đã cẩn thận ghi lại nhiều cách mà Chúa Giê-su đề cập đến vinh quang của chính Ngài trong lời cầu nguyện này.
- Cuộc đời của Chúa Giê-su là sự thể hiện vinh quang của Đức Chúa Trời, và các môn đồ đã nhìn thấy vinh quang này (Giăng 1:14).
- Các phép lạ của Chúa Giê-su đã bày tỏ vinh quang của Ngài (Giăng 2:11).
- Chúa Giê-su chỉ luôn tìm kiếm vinh quang của Cha Ngài (Giăng 7:18, 8:50).
- Sự mặc khải về vinh quang là phần thưởng của đức tin (Giăng 11:40).
- Nhiều lần Chúa Giê-su đã nói về sự khổ nạn và đóng đinh sắp tới của Ngài như là sự vinh hiển sắp đến của Ngài (Giăng 7:39, 12:16, 12:23, 13:31).
- Con Đức Chúa Trời tìm cách tôn vinh Cha (Giăng 12:28).
- Đức Chúa Cha tôn vinh Đức Chúa Con (Giăng 13:31-32).
B.Chúa Giê-su cầu nguyện về các môn đệ.
Sau khi dạy dỗ và khích lệ các môn đệ hết sức có thể trong đêm trước khi họ tuyệt vọng, Chúa Giê-su đã làm một điều trọng đại: Ngài phó thác họ cho Chúa Cha trong lời cầu nguyện.
1.(6-8) Chúa Giê-su nói về sứ mệnh của Ngài giữa các môn đệ và sự đón nhận sứ mệnh đó của họ.
a.6Con đã tỏ danh Cha ra cho những người Cha giao cho Con: Chúa Giê-su suy ngẫm về khoảng ba năm thi hành chức vụ và giảng dạy với các môn đệ được Ngài chọn, và tóm tắt lại bằng câu nói này. Điều đó cho thấy Chúa Giê-su không chỉ đơn thuần giảng dạy về danh (tính cách) của Đức Chúa Trời, mà Ngài còn tỏ bày (thể hiện) tính cách đó.
i.Chúa Giê-su đã sống trọn vẹn tình yêu thương, lòng nhân từ, sự công chính, ân điển và sự thánh thiện của Đức Chúa Cha; Ngài đã bày tỏ danh của Đức Chúa Trời cho họ. “‘Con đã bày tỏ Danh Ngài,’ tức là Con đã tiết lộ bản chất của Ngài. Vì bất kỳ tên gọi nào thích hợp cho một người hoặc một sự vật đều là ý nghĩa đầy đủ của người hoặc sự vật đó.” (Trench)
- Ngày nay, các tín đồ cũng có một lời kêu gọi và bổn phận tương tự. Phao-lô viết rằng các tín đồ giống như những bức thư sống động, được thế giới đọc (2 Cô-rinh-tô 3:2-3), với trách nhiệm bày tỏ danh và bản chất của Đức Chúa Trời cho thế giới đang quan sát.
b.6bnhững người Cha giao cho Con từ giữa thế gian: Chúa Giê-su đã chọn các môn đệ của Ngài sau một đêm cầu nguyện, bày tỏ sự phụ thuộc hoàn toàn của Ngài vào Đức Chúa Cha trong việc chọn lựa những người này (Lu-ca 6:12-16). Thật vậy, có thể nói rằng Đức Chúa Cha đã trao những người này cho Chúa Giê-su, và giao cho Con từ giữa thế gian.
i.Giu-đa đã rời khỏi nhóm môn đồ này vào tối hôm đó (Giăng 13:26-30). Khi Giu-đa đã đi, Chúa Giê-su có thể nói thật rằng: “Những người Cha đã giao cho Con từ giữa thế gian”.
c.6chọ vốn thuộc về Cha, Cha giao họ cho Con: Đây là một gợi ý khác về sự vận hành của Ba Ngôi trong điều có thể gọi là sự phân chia công việc. Có một ý nghĩa nào đó cho rằng các môn đệ trước hết thuộc về Đức Chúa Cha, sau đó được trao cho Đức Chúa Con.
d.6dvà họ đã giữ lời Cha: Có thể nói rằng Chúa Giê-su đã xét xử các môn đồ một cách khoan dung; nhưng Ngài đã thấy một công việc chân chính của Đức Chúa Trời nơi họ. Dù có nhiều thiếu sót và lỗi lầm, họ vẫn giữ lời Chúa.
i.“Ngài nhìn họ với ánh mắt thấu hiểu của đức tin, niềm hy vọng và tình yêu thương, và nhận ra lòng tận tụy hiện tại cũng như tiềm năng của họ trong tương lai.” (Bruce)
e.7Hiện nay họ đã biết rằng mọi sự Cha đã giao cho Con đều là từ Cha mà đến: Chúa Giê-su đã nói rõ điều này với các môn đồ của Ngài không lâu trước đó (Giăng 14:10-11) và trong quá khứ xa hơn (Giăng 8:28-29). Chúa Giê-su không làm hay nói điều gì theo ý riêng của mình, mà làm và nói tất cả đều hoàn toàn phụ thuộc vào Đức Chúa Trời và Cha của Ngài.
f.8Vì Con đã truyền cho họ những lời Cha đã truyền cho Con, và họ đã nhận lấy; nhìn biết quả thật rằng Con đến từ nơi Cha: Rõ ràng là các môn đệ chưa hiểu hết mọi điều về Chúa Giê-su và công việc của Ngài, nhưng đến thời điểm này, họ đã tin chắc về nguồn gốc thần thánh của Chúa Giê-su và giáo huấn của Ngài.
i.“Thật là một đặc ân hiếm có và thiêng liêng khi được chứng kiến Con Đức Chúa Trời không chỉ trình bày những lời cầu nguyện của Ngài mà còn trình bày cả những lý do cho những lời thỉnh cầu đó. Những lý do này phản ánh sự hiệp nhất thiết yếu giữa Cha và Con, và cho thấy rằng những lời cầu nguyện của Chúa Giê-su dành cho các môn đồ của Ngài bắt nguồn từ những mục đích khôn cùng của Đức Chúa Trời.” (Carson)
g.8bvà tin rằng ấy là Cha sai Con đến: Có thể nói rằng trong vài câu này, Chúa Giê-su đã xem xét sự cứu rỗi từ hai khía cạnh. Mỗi khía cạnh đều đúng theo quan điểm của nó.
- Giăng 17:6 giải thích sự cứu rỗi của họ trong sự tuyển chọn của Đức Chúa Trời (những người mà Cha đã ban cho Con từ thế gian), nhìn từ quan điểm của Đức Chúa Trời.
- Giăng 17:8 giải thích sự cứu rỗi của họ trong đức tin (họ tin rằng Cha đã sai Con đến), nhìn từ quan điểm của con người.
- (9-10) Chúa Giê-su hướng dẫn lời cầu nguyện của Ngài.
a.9Con vì họ mà cầu nguyện; chẳng phải vì thế gian mà cầu nguyện: Trong lời cầu nguyện này, Chúa Giê-su đặc biệt nghĩ đến các môn đệ của Ngài. Ngài không cầu nguyện chung chung cho thế gian; thay vào đó, Chúa Giê-su cầu nguyện cho các môn đệ, những người sẽ mang thông điệp yêu thương và cứu chuộc của Ngài đến thế gian.
i.Con vì họ mà cầu nguyện: Trench nói rằng chữ “ Con | tôi ” trong câu này được nhấn mạnh.
ii.Khi Chúa Giê-su nói, “Con không cầu nguyện cho thế gian“, không phải vì Ngài không quan tâm đến một thế giới lạc lối và sa ngã; mà là để tập trung vào các môn đệ của Ngài. “Ngài đang cầu nguyện cho công cụ mà Ngài đang tạo ra, qua đó Ngài sẽ tiếp cận thế giới.” (Morgan)
iii.“Nếu Ngài không cầu nguyện cho thế gian, không phải vì Ngài không quan tâm đến thế gian; quả thật, Ngài là Đấng Cứu Thế của thế gian (Giăng 4:42; so sánh Giăng 3:17; 12:47). Nhưng sự cứu rỗi của thế gian phụ thuộc vào lời chứng của những người mà Cha đã ban cho Ngài ‘từ thế gian’ (xem Giăng 17:21, 23), và chính họ là những người cần sự cầu thay của Ngài vào thời điểm này.” (Bruce)
iv.“Ta giờ đây hoàn toàn tận tâm với các môn đệ, để họ được trang bị đầy đủ để rao giảng sự cứu rỗi của Ngài đến tận cùng trái đất. Ở đây, Chúa Giê-su noi gương thầy tế lễ thượng phẩm, phần thứ hai trong lời cầu nguyện của Ngài vào ngày chuộc tội là cầu nguyện cho các thầy tế lễ, con cháu của A-rôn.” (Clarke)
b.9bnhưng vì kẻ Cha đã giao cho Con, bởi chưng họ thuộc về Cha: Có thể nói rằng điều này không chỉ ám chỉ mười một môn đồ, mà còn cả những người sẽ tin vào lời chứng của họ (như đã được đề cập cụ thể trong Giăng 17:20). Chúa Giê-su đã đặc biệt cầu nguyện cho họ vì Ngài biết những môn đồ đó thuộc về Cha (bởi chưng họ thuộc về Cha).
i.“Có một câu tục ngữ cổ, và tôi không thể không trích dẫn nó ngay bây giờ; đó là, ‘Yêu tôi, hãy yêu cả con chó của tôi.’ Như thể Chúa Giê-su yêu Cha đến nỗi ngay cả những con chó tội nghiệp như chúng ta cũng được Ngài yêu thương vì tình yêu dành cho Cha. Trong mắt Chúa Giê-su, chúng ta rạng rỡ vẻ đẹp bởi vì Đức Chúa Trời đã yêu thương chúng ta.” (Spurgeon)
c.10Phàm mọi điều thuộc về Con tức là thuộc về Cha, mọi điều thuộc về Cha tức là thuộc về Con: Chúa Giê-su đã nói về vinh quang chung giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con (Giăng 17:5). Ở đây, Ngài nói về vai trò chung của họ trong đời sống của những người được cứu chuộc, rằng những người tin Chúa thuộc về cả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.
i.Mọi thứ chúng ta có đều thuộc về Chúa, nhưng không phải mọi thứ Ngài có đều thuộc về chúng ta. Bất cứ ai cũng có thể nói với Chúa Cha rằng “ mọi sự của con đều thuộc về Cha ”; nhưng chỉ có Chúa Giê-su mới có thể nói “mọi điều thuộc về Cha tức là thuộc về Con”.
ii.“Mỗi bên đều có quyền sở hữu đầy đủ đối với tài sản của bên kia; họ cùng chia sẻ các quyền lợi và trách nhiệm như nhau.” (Tenney)
d.10bvà Con nhân họ được tôn vinh: Theo một nghĩa nào đó, đây chính là ý nghĩa của việc trở thành một tín đồ, được tái sinh, là một người theo chân Chúa Giê-su Christ đích thực – để Ngài được vinh hiển trong chúng ta. Chúa Giê-su không chỉ muốn ngự trong hay sống trong người tin, mà còn muốn được vinh hiển trong họ.
i.“Cũng như các giá trị của thế gian đều sai lầm về thập tự giá, thì các giá trị của thế gian cũng đều sai lầm về nhóm sứ đồ. Chính trong họ, Con Đức Chúa Trời đã thực sự được tôn vinh.” (Morris)
ii.Sau này, Sứ đồ Phao-lô đã hiểu điều này, sử dụng những cụm từ như “ Đấng Christ ở trong anh em, là niềm hy vọng về sự vinh hiển” (Cô-lô-se 1:27) và lưu ý rằng công việc của Đức Chúa Trời trong chúng ta tiến triển từ vinh quang này đến vinh quang khác, cũng như bởi Thánh Linh của Chúa (2 Cô-rinh-tô 3:18).
iii.Không ai khác ngoài Chúa Giê-su xứng đáng được tôn vinh trong lòng người tin Chúa. Các nhà lãnh đạo thường có xu hướng tôn vinh chính mình trong lòng những người theo họ, nhưng chỉ nên tôn vinh Chúa Giê-su mà thôi.
3.(11-12) Lời thỉnh cầu đầu tiên của Chúa Giê-su dành cho các môn đệ: Cha ơi, xin giữ gìn họ.
a.11Con không ở thế gian nữa, nhưng họ còn ở thế gian: Chúa Giê-su đã cầu nguyện toàn bộ lời cầu nguyện này với ý nghĩ về sự ra đi sắp tới của Ngài. Ngài nhận ra rằng Ngài sẽ không còn ở lại trong thế gian nữa, nhưng các môn đệ của Ngài thì vẫn còn. Vì vậy, họ cần được cầu nguyện đặc biệt.
Họ cần được cầu nguyện vì ba năm học hỏi đặc biệt trong suốt thời gian Ngài thi hành chức vụ trên trần gian sắp kết thúc.
Họ cần cầu nguyện vì những hoàn cảnh xung quanh sự ra đi của Chúa Giê-su; sự phản bội, bắt giữ, xét xử, đánh đập, đóng đinh, phục sinh và thăng thiên của Ngài.
Họ cần cầu nguyện vì Chúa Giê-su sẽ không hiện diện bằng thân xác để giúp đỡ họ.
- Họ cần cầu nguyện vì vai trò thiết yếu của Đức Thánh Linh; cả về việc Ngài sai phái Đức Thánh Linh đến và việc họ luôn luôn trông cậy vào Ngài.
i.“Chúa Giê-su không còn ở thế gian nữa, Ngài đã từ biệt thế gian, nhưng các môn đệ vẫn còn ở lại, bơ vơ không có sự hướng dẫn và bảo vệ thường lệ của Ngài.” (Dods)
b.11bvà Con về cùng Cha: Đây không phải là một cụm từ được Chúa Giê-su dùng để tập trung suy nghĩ khi cầu nguyện, để Ngài ý thức được mình đang cầu nguyện trước sự hiện diện của Cha. Đây là sự nhận biết của Ngài rằng công việc của Ngài trên trái đất gần như đã hoàn thành, và Ngài đang trên đường về thiên đàng.
c.11cLạy Cha thánh, xin gìn giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con: Các môn đệ cần lời cầu nguyện của Chúa Giêsu và quyền năng của Đức Chúa Trời Cha để được gìn giữ.
i.Họ phải được gìn giữ, tiếp tục là môn đệ của Chúa Giê-su. Điều này không hiển nhiên; trong thế giới Do Thái thời đó, không ai tiếp tục là môn đệ của một giáo sĩ đã chết. Tuy nhiên, những môn đệ này phải tiếp tục, phải được giữ lại làm môn đệ của Chúa Giê-su.
ii.“Các ngươi đã được cứu chuộc; nhưng các ngươi vẫn phải được gìn giữ. Các ngươi đã được tái sinh; nhưng các ngươi vẫn phải được gìn giữ. Các ngươi trong sạch trong lòng và tay; nhưng các ngươi vẫn phải được gìn giữ.” (Spurgeon)
iii.Chúng ta cần Chúa Giê-su, Đấng trung bảo của chúng ta (Rô-ma 8:34, Hê-bơ-rơ 7:25), cầu nguyện cho chúng ta, xin Đức Chúa Cha gìn giữ chúng ta. Việc chúng ta tiếp tục bước đi trong Chúa Giê-su không chỉ dựa vào nỗ lực của riêng chúng ta. Thế gian, xác thịt và ma quỷ quá mạnh mẽ, quá lan tràn và quá quyến rũ đến nỗi chúng ta không bao giờ có thể tự mình giữ vững được. Nếu chúng ta ở lại với Chúa Giê-su, đó là vì Chúa Giê-su đã cầu nguyện cho chúng ta: “Lạy Cha, xin gìn giữ họ ”.
- Chúng ta cần giữ gìn khỏi sự chia rẽ: Hãy giữ họ để họ được hiệp nhất.
- Chúng ta cần tránh mắc sai lầm.
- Chúng ta cần được giữ gìn khỏi tội lỗi.
- Chúng ta cần tránh sự đạo đức giả.
iv.Giữ gìn nhờ danh Ngài: Chúa Giê-su không cầu nguyện, “giữ gìn nhờ thiên sứ”, hay “giữ gìn nhờ người lãnh đạo hội thánh”, hoặc “giữ gìn nhờ nỗ lực của chính họ”. Công việc giữ gìn một tín đồ quan trọng đến nỗi cần đến danh của Đức Chúa Trời – toàn bộ bản chất và quyền năng của Ngài.
Có một số tranh luận (chủ yếu từ Westcott và Hort) về việc ý nghĩa trong Giăng 17:11 là “giữ gìn những người mà Ngài đã ban cho Con nhờ danh Ngài” hay “giữ gìn danh mà Ngài đã ban cho Con “. Westcott và Hort tin chắc rằng trong câu này, chính danh Ngài mới là điều được ban cho, chứ không phải các môn đồ – với ý nghĩa: “Giữ gìn họ trong Con, là Đấng có danh Ngài, là ý nghĩa, sự mặc khải, sự biểu hiện của Ngài: giữ gìn họ trong sự hiệp nhất với Con.” (Trench)
d.11dđể họ cũng hiệp làm một như chúng ta vậy: Công việc gìn giữ của Đức Chúa Cha ở trong các môn đệ không chỉ giữ họ trong Ngài, mà còn giữ họ lại với nhau. Chúa Giê-su đã cầu nguyện rằng họ sẽ được hiệp làm một, và hiệp làm một theo khuôn mẫu sự hiệp một của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con (để họ cũng hiệp làm một như chúng ta).
- “Sự hiệp một được đề cập ở đây không chỉ đơn thuần là sự hiệp một đạt được bằng luật pháp. Đó là sự hiệp một về bản chất vì nó tương đồng với sự hiệp làm một giữa Con và Cha.” (Tenney)
- Không thể giả định rằng họ sẽ tiếp tục đoàn kết; việc các môn đồ tản lạc sau cái chết của Chúa Giê-su sẽ hợp lý hơn là việc họ ở lại với nhau.
iii. Sự hiệp nhất mà Chúa Giê-su cầu nguyện cho dân Ngài có một khuôn mẫu. Dù Cha và Con là một nhưng không giống nhau, chúng ta không mong đợi sự hiệp nhất Cơ Đốc đích thực sẽ có nghĩa là tính đồng nhất về cấu trúc hay sự thống nhất về hình thức. Nó sẽ có nghĩa là sự hiệp nhất trong Linh, sự hiệp nhất về tấm lòng, sự hiệp nhất về mục đích và sự hiệp nhất về vận mệnh.
e.12Đang khi Con còn ở với họ, Con gìn giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con.: Chúa Giê-su hồi tưởng lại ba năm phục vụ cùng và cho nhóm sứ đồ. Trong thời gian đó, Ngài đã bảo vệ và hướng dẫn họ; Ngài đã gìn giữ họ. Chúa Giê-su đã làm công việc gìn giữ đó trong danh Cha Ngài, với quyền năng và thẩm quyền của Ngài và theo ý muốn của Ngài.
i.“Ở đây, như Cyril nhận xét, Chúa so sánh việc Ngài gìn giữ những người thuộc về Ngài với việc Cha gìn giữ những người đó – theo cách mà chỉ có thể giải thích được khi cả hai Ngôi đều có Quyền năng và Phẩm giá ngang nhau.” (Alford)
ii.“Nhờ quyền năng của Chúa Cha được ban cho Chúa Giê-su, chính Chúa Giê-su đã gìn giữ chúng như một kho báu được Chúa Cha giao phó cho Ngài, và giờ đây Ngài trình bày về sự quản lý của mình.” (Bruce)
iii.Chúa Giê-su không giữ các môn đồ của Ngài bằng danh riêng của Ngài, mà hoàn toàn dựa vào Đức Chúa Cha. Thật là dại dột khi chúng ta nghĩ rằng mình có thể giữ được bản thân hoặc người khác bằng danh mình, bằng nỗ lực, quyền lực hay ý chí riêng của mình.
iv.Cơ sở của lời thỉnh cầu của Chúa Giê-su bắt nguồn từ danh (bản chất) của Đức Chúa Trời và quyền sở hữu của Ngài đối với các môn đệ (những người mà Ngài đã giao cho Con).
f.12bCon đã gìn giữ họ, trừ đứa con của sự hư mất ra, thì trong đám họ không một người nào bị thất lạc,: Có một ngoại lệ trong công việc giữ gìn các môn đồ của Chúa Giê-su, đó là Giu-đa. Điều này là bởi vì, theo lời tiên tri trong Kinh Thánh, Giu-đa là con trai của sự hư mất, kẻ được định sẵn cho điều ác và sự hủy diệt.
i.“Hãy lưu ý, Kinh Thánh không nói “Con không để mất ai, ngoại trừ con trai của sự hư mất..” – Đấng Christ không bị mất con trai đó (so sánh với Giăng 18:9, ở đó không có ngoại lệ), nhưng nó đã để mất chính mình.” (Alford)
ii.“Đối với người đọc tiếng Anh, điều đáng lưu ý là trong nguyên văn, danh từ perdition (sự diệt vong) là từ phái sinh của động từ perished (đã chết). Không ai chết ngoại trừ người đáng phải chết; chính trạng thái và thuộc tính của người đó là chết.” (Alford)
iii.“‘Con trai của sự diệt vong’ ám chỉ đến tính cách hơn là số phận. Cụm từ này có nghĩa là anh ta mang đặc điểm của sự ‘lạc lối’, chứ không phải là anh ta đã được định sẵn là ‘lạc lối’.” (Morris)
g.12chầu cho lời Kinh thánh được ứng nghiệm: Những lời Kinh Thánh được ứng nghiệm bởi sự phản bội của Giu-đa đặc biệt là Thi Thiên 41:9 và Thi Thiên 109:8, được ghi chú rõ trong Công Vụ 1:20. Sự phản bội của A-hi-thô-phe chống lại vua Đa-vít là lời tiên tri về sự phản bội của Giu-đa chống lại Con của Đa-vít.
4.(13-16) Chúa Giê-su giải thích thêm về yêu cầu đầu tiên: giữ họ trong niềm vui của Ta và tránh xa kẻ ác.
a.13Nhưng bây giờ Con về cùng Cha, : Chúa Giê-su lại dùng cụm từ này, lần đầu tiên được ghi nhận trong Giăng 17:11. Ngài cầu nguyện lời cầu nguyện này với sự nhận thức đầy đủ về sự hoàn thành sắp tới của công việc trên đất của Ngài.
b.13bvà đương khi còn ở thế gian, Con nói những điều đó, hầu cho trong lòng họ được đầy dẫy sự vui mừng của Con: Chúa Giê-su không chỉ cầu nguyện cho sự giữ gìn và hiệp nhất của các môn đệ, như thể Ngài chỉ mong muốn để lại những người làm công tốt. Ngài thực sự quan tâm và cầu nguyện cho niềm vui được trọn vẹn trong cuộc sống của họ. Cụ thể hơn, Chúa Giê-su cầu nguyện cho niềm vui của chính Ngài được trọn vẹn trong cuộc sống của họ.
i.“Niềm vui của họ sẽ lớn hơn khi nhớ lại rằng vào đêm Chúa Giê-su bị phản bội, Ngài đã cầu nguyện cho các môn đồ của Ngài.” (Carson)
ii.Chúa Giê-su có một cuộc đời tràn đầy niềm vui; Ngài có thể nói về niềm vui của Ta. Nếu không, phần này của lời cầu nguyện sẽ không có ý nghĩa. Thật vậy, Chúa Giê-su là một người đầy đau khổ và quen thuộc với nỗi buồn (Ê-sai 53:3). Tuy nhiên, có một niềm vui và sự thỏa mãn trong kinh nghiệm sống của Chúa Giê-su vượt trội hơn bất kỳ ai khác từng sống trên đời.
Niềm vui của Ngài bắt nguồn từ mối quan hệ mật thiết không gián đoạn với Đức Chúa Cha.
- Niềm vui của Ngài là kết quả của đức tin chân chính và sự tin tưởng tuyệt đối vào Cha Ngài.
Niềm vui của Ngài đến từ việc chứng kiến những điều kỳ diệu mà Chúa đã làm.
- Niềm vui của Ngài không bao giờ bị suy giảm bởi tội lỗi của chính Ngài, bởi vì Chúa Giê-su chưa bao giờ phạm tội.
- Niềm vui của Ngài không bao giờ bị giảm sút bởi sự lừa dối.
- Niềm vui của Ngài không bao giờ giảm sút khi để cho ma quỷ có dù chỉ một chút cơ hội.
iii.Nếu Chúa Giê-su quan tâm đến niềm vui của các môn đồ, đến nỗi Ngài đã cầu nguyện cho điều đó, thì chúng ta có thể biết rằng Ngài cũng quan tâm đến việc chúng ta có được niềm vui. Mục đích của Đức Chúa Trời là làm cho cuộc sống của chúng ta thêm nhiều niềm vui, chứ không phải là làm cho nó bớt đi. Thế gian, xác thịt và ma quỷ sẽ nói với chúng ta điều khác, nhưng Đức Chúa Trời muốn niềm vui được trọn vẹn trong cuộc sống của chúng ta.
c.14Con đã truyền lời Cha cho họ, và thế gian ghen ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian vậy: Chúa Giê-su đã trung tín truyền đạt Lời của Đức Chúa Cha cho các môn đồ của Ngài. Ngay cả Chúa Giê-su cũng tự coi mình là một sứ giả.
i.14Con đã truyền lời Cha cho họ: “Không chỉ là lời dạy bằng miệng, mà là toàn bộ sự mặc khải của Đức Chúa Cha được thể hiện qua lời nói, hành động và nhân cách của Chúa Giê-xu Christ.” (Trench)
ii.“Hãy xem Chúa Giê-su lấy tất cả lời dạy của Ngài từ Cha như thế nào. Bạn không bao giờ nghe Ngài khoe khoang về việc mình là người khởi xướng những tư tưởng sâu sắc. Không, Ngài chỉ lặp lại cho các môn đệ những lời Ngài đã nhận được từ Cha: ‘Con đã truyền lại cho họ những lời mà Cha đã truyền cho con.’ Nếu Chúa Giê-su đã hành động như vậy, thì các sứ giả của Đức Chúa Trời càng phải tiếp nhận lời từ miệng Chúa và nói ra như họ đã nhận được!” (Spurgeon)
d.15aCon chẳng cầu Cha cất họ khỏi thế gian: Lời cầu nguyện này của Chúa Giê-su cảnh báo chúng ta không nên tìm nơi nương náu trong sự tách biệt của cơ đốc giáo; trong các tu viện hiện đại. Mục tiêu của chúng ta là ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian hay thuộc về ma quỷ; giống như một con tàu ở trên đại dương, nhưng không để đại dương ở trên tàu.
- Nếu chúng ta bị cất khỏi thế gian, thế gian sẽ chìm trong bóng tối hoàn toàn và sẽ diệt vong; Chúa Giê-su phán: “Các con là ánh sáng của thế gian.” Vậy nên, hãy tỏa sáng.
- Nếu chúng ta bị cất khỏi thế gian, thế gian sẽ không có chúng ta làm chứng nhân, không còn là phương tiện cứu rỗi cho họ nữa. Vì vậy, hãy dẫn dắt người khác đến với Chúa Giê-su.
- Nếu chúng ta bị cất khỏi thế gian, chúng ta sẽ mất đi cơ hội phục vụ Chúa Giê-su tại chính nơi mà chúng ta đã phạm tội chống lại Ngài. Vì vậy, hãy phục vụ Chúa Giê-su.
- Nếu chúng ta bị tách khỏi thế gian, chúng ta sẽ không nhận ra rằng có những khía cạnh về sự khôn ngoan, chân lý, quyền năng và ân điển của Chúa mà chúng ta nên trân trọng hơn khi ở trên đất, chứ không phải trên thiên đường. Vì vậy, hãy chiêm ngưỡng vinh quang của Chúa.
- Nếu chúng ta bị cất khỏi thế gian, chúng ta sẽ không có được nơi để chuẩn bị cho thiên đường. Không có luyện ngục; sự chuẩn bị của chúng ta bắt đầu ngay bây giờ. Vì vậy, hãy chuẩn bị cho thiên đường.
- Nếu chúng ta bị tách khỏi thế gian, chúng ta không thể thể hiện được sức mạnh của ân điển Chúa để gìn giữ chúng ta giữa muôn vàn khó khăn. Vì vậy, hãy tiếp tục tiến bước.
i.Gióp, Môi-se, Ê-li và Giô-na đều cầu nguyện xin được cất khỏi thế gian, nhưng Đức Chúa Trời không đáp lời. Ngài cũng muốn chúng ta ở lại thế gian để hoàn thành công việc Ngài giao cho chúng ta.
e.15Con không cầu xin Chúa cất họ ra khỏi thế gian, nhưng cầu xin Chúa giữ họ khỏi kẻ ác (tiếng đức: dem Bösen, điều ác): Chúa Giê-su chắc chắn muốn chúng ta ở trong thế gian, nhưng Ngài không muốn chúng ta trở nên xấu xa, hoặc bị kẻ ác đánh dấu. Chúa Giê-su không cầu xin chúng ta được cất ra khỏi trận chiến, mà cầu xin chúng ta được củng cố và bảo vệ trong đó.
i.“Từ sở hữu cách ponerou quả thực có thể được hiểu là giống trung (‘giữ họ khỏi điều ác’) hơn là giống đực (‘khỏi kẻ ác’); nhưng nhiều khả năng nó ám chỉ đến kẻ đã được nhắc đến ba lần với danh xưng ‘người cai trị thế gian này’ (Giăng 12:31; 14:30; 16:11).” (Bruce)
ii.Chúa Giê-su cầu nguyện cho những người thuộc về Ngài được giữ gìn khỏi kẻ ác, khỏi thế giới mà hắn cai trị, và khỏi mọi mưu kế và thủ đoạn xấu xa của hắn.
- Được giữ gìn khỏi sự gian ác của bội giáo.
- Được giữ gìn khỏi sự gian ác của thế gian.
- Được giữ gìn khỏi sự gian ác của sự bất thánh.
- Không phải là được giữ gìn khỏi sự gian ác của hoạn nạn hay khó khăn.
iii.“Kẻ ác, rõ ràng, thường hoạt động thông qua lòng thù hận của thế gian (xem Giăng 15:18-16:4); và các môn đệ sẽ cần được bảo vệ chống lại sự độc ác đó.” (Carson)
iv.Tất cả đều cần được giữ gìn. Nếu nghĩ về người thanh niên, ta sẽ hiểu họ cần được giữ gìn khỏi tội lỗi như thế nào. Người trẻ phải chiến đấu chống lại những điều xấu xa của riêng mình. Cảm xúc mạnh mẽ, dục vọng dường như bùng cháy dữ dội, và áp lực phải hòa nhập với thế gian dường như lớn hơn rất nhiều. Tuy nhiên, người đàn ông lớn tuổi lại đối mặt với nguy hiểm lớn hơn. Kinh Thánh không hề mô tả người thanh niên nào sa vào tội lỗi; hãy nghĩ đến Giô-sép và Đa-ni-ên, và cách họ chống lại tội lỗi. Những ví dụ về tội lỗi đến từ cuộc đời của những người đàn ông trung niên, như Đa-vít, Sa-lô-môn, Lót và nhiều người khác.
v.Trong một bài giảng về đoạn Kinh Thánh này, Spurgeon đã nói với những người đang phạm tội nhưng không cảm thấy đó là điều xấu xa: “Có một số người trong các bạn không cảm thấy tội lỗi là điều xấu xa; và tôi sẽ nói cho các bạn biết tại sao? Các bạn đã bao giờ thử kéo một cái xô lên khỏi giếng chưa? Các bạn biết rằng, khi xô đầy nước, các bạn có thể dễ dàng kéo nó lên miễn là xô vẫn ở trong nước; nhưng khi nó ở trên mặt nước, các bạn biết nó nặng như thế nào. Các bạn cũng vậy. Khi đang phạm tội, các bạn không cảm thấy đó là gánh nặng, nó dường như không phải là điều xấu xa; nhưng nếu Chúa một lần kéo các bạn ra khỏi tội lỗi, các bạn sẽ thấy nó là một điều xấu xa không thể chịu đựng được, một điều ác ghê tởm. Nguyện xin Chúa, đêm nay, kéo một số người trong các bạn lên khỏi tội lỗi! Dù các bạn đang ở rất sâu trong tội lỗi, nguyện xin Ngài kéo các bạn lên khỏi tội lỗi và ban cho các bạn sự chấp nhận trong Đấng Yêu Dấu!” (Spurgeon)
f.16Họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian: Bởi vì Chúa Giê-su có thể nhìn thấy các môn đệ của Ngài ở trong Ngài, nên Ngài có thể nhìn thấy họ không thuộc về thế gian, ngay cả khi Chúa Giê-su không thuộc về thế gian. Lời kêu gọi của Ngài dành cho các môn đệ là để họ trở thành chính con người thật của họ trong Ngài.
i.Chúa Giê-su không chỉ nói rằng dân Ngài không thuộc về thế gian; Ngài nói rằng họ không thuộc về thế gian ngay cả như chính Ngài không thuộc về thế gian – nói cách khác, theo cùng một khuôn mẫu rằng Chúa Giê-su không thuộc về thế gian.
ii.Có thể có người không thuộc về thế gian, nhưng theo một cách rất khác so với việc Chúa Giê-su không thuộc về thế gian. Họ có thể điên rồ, bạo lực, kỳ quặc, hoặc nhiều thứ khác nữa. Nhưng có một cách đặc biệt mà Chúa Giê-su không thuộc về thế gian.
- Bản chất của Chúa Giê-su không thuộc về thế gian.
- chức vụ của mình, Chúa Giê-su không thuộc về thế gian.
- Tính cách của Chúa Giê-su không thuộc về thế gian này.
5.(17-19) Yêu cầu thứ hai của Chúa Giê-su đối với các môn đệ: hãy thánh hóa họ.
a.17Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh: Thánh hóa có nghĩa là được biệt riêng ra để làm hài lòng và sử dụng theo ý muốn của Chúa. Điều đó hàm ý sự thánh thiện, được tách biệt khỏi sự hư hoại của thế gian và để phục vụ Chúa.
i.“Từ hagios (được dịch là ‘thánh hóa’, ‘làm cho thiêng liêng’, ‘cống hiến’) có nghĩa là biệt riêng và dâng hiến cho Chúa: dù đó là đồ vật, động vật tế lễ, hay con người để phục vụ Ngài.” (Trench)
ii.Chúa Giê-su không chỉ để các môn đệ tự thánh hóa mình. Ngài đã cầu nguyện cho sự thánh hóa của họ. Quá trình này, cũng như quá trình giữ gìn đức tin, không chỉ dành riêng cho chúng ta; đó là công việc của Đức Chúa Trời trong chúng ta và qua chúng ta.
b.17Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh; lời Cha tức là lẽ thật: Động lực đằng sau sự thánh hóa chính là lẽ thật. Lời Chúa được đọc, được nghe, được hiểu và được áp dụng.
i.“Sự thánh hóa không thể diễn ra nếu không có sự mặc khải thiêng liêng.” (Morris)
ii.“Bạn càng tin vào lẽ thật, bạn càng được thánh hóa. Tác động của lẽ thật lên tâm trí là tách con người ra khỏi thế gian để phụng sự Đức Chúa Trời.” (Spurgeon)
c.18Như Cha đã sai Con trong thế gian, thì Con cũng sai họ trong thế gian: Ý niệm về sự phục vụ được đặt giữa hai khái niệm về sự thánh hóa. Sự thánh hóa mà Chúa Giê-su muốn nói đến ở đây không chủ yếu là sự thánh khiết cá nhân (mặc dù điều đó cũng được bao gồm), mà là được biệt riêng ra để phục vụ và thực hiện sứ mệnh của Đức Chúa Trời.
i.“Ngài không chỉ để họ ở lại thế gian, mà còn sai họ vào thế gian để làm chứng cho chân lý này của Đức Chúa Trời.” (Alford) “Từ ‘sứ mệnh’ xuất phát từ động từ Latinh mitto, mittere, misi, missum, có nghĩa là ‘gửi đi’ hoặc ‘phóng đi’. Sứ mệnh là sự phái đi.” (Boice) “Họ không chỉ ở lại đó vì không thể làm gì khác; họ thực sự được phái vào đó với tư cách là người đại diện và sứ giả của Chúa.” (Bruce)
ii.“Đấng Christ là nhà truyền giáo vĩ đại, là Đấng Mê-si, là Đấng được sai đi; chúng ta là những nhà truyền giáo nhỏ, được sai đi khắp thế gian để thực hiện ý muốn và mục đích của Chúa Cha.” (Spurgeon)
iii.“Sứ mệnh của Đấng Christ cao cả hơn sứ mệnh của chúng ta; vì Ngài được phái đến để làm Đấng chuộc tội và người đứng đầu giao ước, và do đó đã đảm nhận những vị trí mà chúng ta dám mơ ước đến đó là sự kiêu ngạo. Tuy nhiên, vẫn có sự tương đồng, dù chỉ là sự tương đồng nhỏ nhoi như giọt nước so với biển cả.” (Spurgeon)
iv.Hãy suy ngẫm về cách Chúa Giê-su đến và liên hệ điều đó với cách Ngài sai chúng ta ra thế gian :
- Chúa Giê-su không đến với tư cách là một triết gia như Plato hay Aristotle, mặc dù Ngài am hiểu triết học cao hơn tất cả họ.
- Chúa Giê-su không đến với tư cách là một nhà phát minh hay một nhà khám phá, mặc dù Ngài có thể đã phát minh ra những điều mới và khám phá ra những vùng đất mới.
- Chúa Giê-su không đến với tư cách là một kẻ chinh phục, mặc dù Ngài quyền năng hơn cả Alexander hay Caesar.
- Chúa Giê-su đến để giảng dạy.
- Chúa Giê-su đã đến sống giữa chúng ta.
- Chúa Giê-su đến để chịu khổ vì lẽ thật và sự công chính.
- Chúa Giê-su đến để giải cứu loài người.
v.“Mặc dù Chúa Giê-su không cầu nguyện rõ ràng cho thế giới vào thời điểm này (câu 9), nhưng lời cầu nguyện của Ngài dành cho các môn đệ vẫn chứa đựng niềm hy vọng cho thế giới.” (Bruce)
d.19Con vì họ tự làm nên thánh, hầu cho họ cũng nhờ lẽ thật mà được nên thánh vậy: Không nên nghĩ rằng Chúa Giê-su chưa được thánh hóa cho đến thời điểm này. Tuy nhiên, giờ đây Ngài sắp bước vào một khía cạnh mới của việc được biệt riêng cho Đức Chúa Cha và mục đích của Ngài: hoàn thành công việc trên thập tự giá. Chính nhờ công việc đã hoàn thành đó mà lời Chúa và công việc của Chúa sẽ trở nên hiệu quả trọn vẹn trong đời sống của các môn đồ (hầu cho họ cũng nhờ lẽ thật mà được nên thánh vậy).
i.19Con vì họ tự làm nên thánh: “Với tư cách là thầy tế lễ, bàn thờ và vật tế lễ; và Đấng Christ đã làm điều này từ trong bụng mẹ cho đến khi chết; đặc biệt là lúc Ngài chịu chết.” (Trapp)
ii.“Chrysostom diễn giải câu ‘Ta tự thánh hóa mình’ thành ‘Tôi dâng hiến chính mình làm của lễ hy sinh’. Đây là một lời cầu nguyện tương tự như lời cầu nguyện ở vườn Ghết-sê-ma-nê trong sách Giăng.” (Bruce)
C.Chúa Giê-su cầu nguyện cho tất cả các tín đồ.
1.(20) Chúa Giê-su mở rộng phạm vi lời cầu nguyện của Ngài.
a.20 Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu: Chúa Giê-su đã cầu nguyện cho mười một môn đồ của Ngài, nhưng Ngài cũng có tấm lòng và tầm nhìn để cầu nguyện vượt ra ngoài họ. Ngài đã cầu nguyện cho những người sẽ tin nhận Ngài qua lời chứng của các môn đồ này. Ngài đã cầu nguyện cho chúng ta.
i.“Ngài đã cầu nguyện cho họ. Ngài cầu nguyện cho chúng ta. Ngài biết lời cầu thay của Ngài dành cho họ sẽ thắng thế. Ngài biết lời cầu thay của Ngài dành cho chúng ta cũng sẽ thắng thế. Vậy thì chúng ta hãy an nghỉ trong Ngài, với sự an nghỉ trong lòng vâng phục yêu thương và niềm tin vững chắc nhất.” (Morgan)
b.20bnhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa: Điều này cho thấy Chúa Giê-su mong đợi rằng sự thất bại sắp tới của các môn đồ chỉ là tạm thời. Những người khác sẽ nghe từ họ, và nhiều người sẽ tin vào Chúa Giê-su qua lời chứng của các môn đồ.
i.Chúa Giê-su chịu đóng đinh trên thập tự giá với niềm tin chắc chắn rằng công việc của Ngài sẽ trường tồn. Ngài không hề có một niềm hy vọng hão huyền nào về những gì Đức Chúa Trời sẽ làm thông qua các môn đồ. Chúa Giê-su rời bỏ công việc trên trần gian với đầy lòng tin tưởng vào công việc của Đức Chúa Trời qua các môn đồ.
ii.“Phần cuối lời cầu nguyện của Chúa Giê-su cho thấy Ngài mong đợi sự thất bại của các môn đệ chỉ là tạm thời. Toàn bộ giọng điệu của bài diễn thuyết chia tay được xây dựng trên giả định rằng sau khi phục sinh, họ sẽ đổi mới đức tin và tiếp tục một sứ mệnh mới trong quyền năng của Đức Thánh Linh.” (Tenney)
iii.“Theo tiêu chuẩn thành công của thế gian, Chúa Giê-su chẳng có gì đáng kể để chứng tỏ cho sứ mệnh của Ngài.” (Bruce) Tuy nhiên, Chúa Giê-su đã rời bỏ công việc trần gian với đầy niềm tin vào công việc của Đức Chúa Trời thông qua các môn đệ.
2.(21) Chúa Giê-su cầu nguyện cho sự hiệp nhất giữa tất cả các tín đồ, cũng như giữa các môn đệ ban đầu.
a.21để cho ai nấy hiệp làm một: Chúa Giê-su đã hình dung ra đám đông lớn trước ngai vàng của Đức Chúa Trời, gồm đủ mọi quốc gia, chủng tộc, ngôn ngữ, giai cấp và địa vị xã hội (Khải Huyền 7:9-10). Chúa Giê-su cầu nguyện rằng họ có thể vượt lên trên những khác biệt về nguồn gốc và hiểu được sự hiệp nhất của mình; 21để cho ai nấy hiệp làm một.
i.Dường như Chúa Giê-su đã cầu nguyện với ý nghĩ này: “Lạy Cha, con đã cầu nguyện cho sự hiệp nhất của các môn đệ mà Cha đã giao cho con. Nhưng tất cả họ đều là người Ga-li-lê, từ thời điểm và nơi chốn này. Sẽ có vô số người khác cũng trở thành môn đệ, và họ sẽ đến từ mọi quốc gia, mọi ngôn ngữ, mọi nền văn hóa, mọi tầng lớp, mọi địa vị, từ mọi thời đại cho đến hết dòng lịch sử. Xin Cha hãy làm cho họ hiệp nhất.”
ii.“Chúng ta phải trung thành với lẽ thật; nhưng chúng ta không được có tinh thần tranh chấp, tách rời khỏi những người là thành viên sống động của thân thể duy nhất và không thể chia cắt của Đấng Christ. Thúc đẩy sự hiệp nhất của Hội Thánh bằng cách tạo ra những sự chia rẽ mới là không khôn ngoan. Hãy vun đắp đồng thời tình yêu đối với lẽ thật và tình yêu đối với anh em.” (Spurgeon)
iii.“Tại sao chúng ta không hiệp nhất? Tội lỗi là yếu tố chia rẽ lớn. Những người hoàn toàn thánh thiện sẽ hoàn toàn hiệp nhất. Người càng thánh thiện, họ càng yêu mến Chúa và yêu thương nhau; và do đó họ càng gắn bó mật thiết hơn với nhau.” (Spurgeon)
iv.“Đấng Christ muốn tất cả các thành viên của Ngài được hiệp nhất trong tinh thần, hiệp nhất trong quyền lợi và đặc ân, và hiệp nhất trong hạnh phước của thế giới tương lai.” (Clarke)
b.21để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha: Trước đó trong lời cầu nguyện này, Chúa Giê-su đã cầu nguyện cụ thể rằng mười một môn đồ hiện diện trong lời cầu nguyện của Ngài được hiệp nhất (để họ được hiệp nhất như Chúng ta, Giăng 17:11). Ở đây, Chúa Giê-su mở rộng ý nghĩa của lời cầu nguyện đó cho tất cả các tín đồ, nguyện xin cho tất cả họ được hiệp nhất.
i.Cũng như trong lời cầu nguyện trước đó dành cho mười một môn đồ, Chúa Giê-su cầu nguyện rằng sự hiệp nhất của họ sẽ theo khuôn mẫu của sự hiệp nhất của Đức Chúa Trời Ba Ngôi, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời Cha và Đức Chúa Trời Con. “Nếu Cha ở trong Ngài và Ngài ở trong họ, thì Cha ở trong họ: họ được kéo vào chính sự sống của Đức Chúa Trời, và sự sống của Đức Chúa Trời là tình yêu trọn vẹn.” (Bruce)
ii.Việc lặp lại và mở rộng lời cầu nguyện này cho tất cả các tín đồ tương lai là rất quan trọng. Điều đó cho thấy sự hiệp nhất giữa toàn thể thân thể của Chúa Giê-xu Christ đã và đang rất quan trọng đối với Ngài.
iii. như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha, điều này cũng nói lên chân lý rằng nền tảng của sự hiệp nhất giữa chúng ta cũng giống như nền tảng của sự hiệp nhất giữa Cha và Con: bình đẳng về ngôi vị. Tất cả chúng ta đều ở trên cùng một nền tảng tại thập tự giá.
iv.“Hỡi những người yêu dấu, những người mà Đấng Christ sống trong họ không đồng nhất, nhưng là một. Sự đồng nhất có thể được tìm thấy trong cái chết, nhưng sự hiệp nhất này là sự sống. Những người hoàn toàn đồng nhất vẫn có thể không yêu thương nhau, trong khi những người khác biệt nhiều vẫn có thể thực sự và sâu sắc là một. Con cái chúng ta không đồng nhất, nhưng chúng tạo thành một gia đình.” (Spurgeon)
c.21blại để cho họ cũng ở trong chúng ta | bản engl: Để họ cũng được hiệp nhất trong Chúng Ta : Sự hiệp nhất mà Chúa Giê-su muốn nói đến là sự thống nhất đến từ sự sống chung trong cả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.
i.Như trước đây, Chúa Giê-su không cầu nguyện cho sự đồng nhất hay sự thống nhất về thể chế giữa các tín đồ, mà là cho sự thống nhất bắt nguồn từ tình yêu thương và bản chất chung, quy tụ nhiều phần khác nhau trong một thân thể của Chúa Giê-su. Đây không phải là sự đồng nhất được luật lệ hóa nhằm hợp nhất lúa mì và cỏ dại, cũng không phải là sự thống nhất của các thể chế. Chúa Giê-su muốn nói đến sự thống nhất đích thực của Đức Thánh Linh (Ê-phê-sô 4:3).
ii.Chúng ta phải tin rằng lời cầu nguyện này đã được đáp ứng, và Hội Thánh là một. Thất bại của chúng ta là không nhận ra và sống theo chân lý thiêng liêng đó.
d.21cđặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến: Đây là một lời tuyên bố đáng chú ý. Về cơ bản, Chúa Giê-su đã cho phép thế gian đánh giá tính xác thực của chức vụ Ngài dựa trên sự hiệp nhất của dân Ngài. Sự hiệp nhất giữa dân Chúa giúp thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến.
i.“Ngay cả khi cầu nguyện cho sự hiệp nhất của họ, Ngài vẫn nhìn xa hơn sự hiệp nhất đó đến thế giới vẫn chưa được cải đạo, thế giới đang cần đến chứng nhân được tạo ra từ sự hiệp nhất đó.” (Carson)
3.(22) Chúa Giê-su cầu nguyện rằng Hội Thánh sẽ được đánh dấu bằng vinh quang.
a.22Con đã ban cho họ sự vinh hiển mà Cha đã ban cho Con: Như Đức Chúa Cha đã chia sẻ vinh quang của Ngài với Đức Chúa Con (Giăng 17:5), thì Chúa Giê-su cũng đã ban vinh quang cho dân Ngài.
- Có nhiều cách mà Chúa Giê-su bày tỏ vinh quang của Ngài cho dân Ngài.
- Vinh quang của sự hiện diện Ngài.
- Vinh quang của Lời Ngài.
- Vinh quang của Thánh Linh Ngài.
- Vinh quang của quyền năng Ngài.
- Vinh quang của sự lãnh đạo của Ngài.
- Vinh quang của sự gìn giữ của Ngài.
ii.Trong tất cả những khía cạnh này, có một khía cạnh thiết yếu là sự hiện diện của Chúa Giê-su, Con Đức Chúa Trời. Theo Kinh Thánh, khi Đức Chúa Trời ban cho hoặc bày tỏ vinh quang của Ngài cho dân Ngài, đó là một dạng biểu hiện của sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Vinh quang của Đức Chúa Trời, theo một cách nào đó, là sự rạng rỡ hay tỏa sáng của sự hiện diện của Ngài, bản chất thiết yếu của Ngài.
iii.Sứ đồ Phao-lô cũng hiểu rằng Chúa Giê-su ban vinh quang của Ngài cho dân Ngài: Vì Đức Chúa Trời, – là Đấng có phán: Sự sáng phải soi từ trong sự tối tăm! – Đã làm cho sự sáng Ngài chói lòa trong lòng chúng tôi, đặng sự thông biết về vinh hiển Đức Chúa Trời soi sáng nơi mặt Đức Chúa Jêsus Christ. (2 Cô-rinh-tô 4:6)
b.22bsự vinh hiển mà Cha đã ban cho Con: Điều quan trọng cần nhớ là vinh quang mà Đức Chúa Cha ban cho Đức Chúa Con thường hiện ra với vẻ khiêm nhường, yếu đuối và đau khổ. Đó là vinh quang được thể hiện trọn vẹn qua sự hy sinh triệt để. Vinh quang của Chúa Giê-su gần như trái ngược với sự tự tôn và kiêu ngạo của con người.
i.Vinh quang của Chúa Giê-su được thể hiện trọn vẹn qua công việc của Ngài trên thập tự giá. Chúa Giê-su thường gọi đó là sự vinh hiển của Ngài (Giăng 7:39, 12:16, 12:23).
ii.“Cũng như vinh quang đích thực của Ngài là đi theo con đường phục vụ khiêm nhường dẫn đến đỉnh cao là thập tự giá, thì đối với họ, vinh quang đích thực nằm ở con đường phục vụ khiêm nhường, bất kể con đường đó dẫn họ đến đâu.” (Morris)
c.22cđể hiệp làm một cũng như chúng ta vẫn là một: Sự hiện diện của vinh quang – giữa các Ngôi trong Đức Chúa Trời và các thành viên của Hội Thánh Chúa Giê-su – vinh quang này góp phần vào sự hiệp nhất và thống nhất của dân Chúa.
i.Khi có cảm nhận về vinh quang của Chúa, sự hiệp nhất sẽ dễ dàng hơn nhiều. Những điều nhỏ nhặt thường chia rẽ chúng ta sẽ lùi về phía sau khi có cảm nhận về sự hiện diện của vinh quang Chúa.
4.(23) Chúa Giêsu cầu nguyện cho sự hiệp nhất dựa trên tình yêu.
a.23Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm một: Chúa Giê-su lại một lần nữa đề cập đến sự hiệp nhất sống động, hữu cơ mà Ngài cầu nguyện sẽ tồn tại giữa dân Ngài. Đây không phải là sự hiệp nhất độc đoán dựa trên sự cưỡng ép hay sợ hãi, và cũng không phải là sự hiệp nhất dựa trên sự thỏa hiệp. Chúa Giê-su cầu nguyện cho một sự hiệp nhất trong tình yêu thương và bản sắc chung nơi Ngài.
i.“Giống như sự thánh hóa, sự hợp nhất này đồng thời là điều đã đạt được và cũng là điều cần được hoàn thiện.” (Carson)
b.23bvà cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương họ cũng như Cha đã yêu thương Con: Ở đây, Chúa Giê-su đã lấy ý tưởng được giới thiệu trong Giăng 17:21 (để thế gian tin rằng Cha đã sai Con đến) và mở rộng nó. Sự lặp lại và sự mở rộng này rất đáng chú ý.
i.Ý tưởng rằng sự hiệp nhất của dân Chúa sẽ chứng tỏ cho thế giới thấy rằng Chúa Giê-su thực sự được Đức Chúa Cha sai đến là điều rất quan trọng đối với Chúa Giê-su đến nỗi Ngài đã lặp lại điều đó trong cùng một lời cầu nguyện ngắn.
ii.Sau đó, Chúa Giê-su mở rộng ý tưởng, cầu nguyện rằng sự hiệp nhất giữa các thế hệ tín đồ mai sau cũng sẽ chứng tỏ cho thế giới thấy rằng Chúa Giê-su yêu thương dân Ngài, và yêu thương họ theo khuôn mẫu tình yêu của Đức Chúa Cha dành cho Đức Chúa Con (và Cha đã yêu thương họ cũng như Cha đã yêu thương Con).
iii.Điều này nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của sự hiệp nhất và tình yêu thương giữa các tín đồ. Dường như Chúa Giê-su đã cho phép thế gian nghi ngờ cả sứ mệnh và tình yêu của Ngài nếu thế gian không thấy được sự hiệp nhất và tình yêu thương giữa các tín đồ.
- Điều này thật khó, bởi vì đôi khi những người thiếu tình yêu thương và hay chỉ trích nhất trong số những người theo Chúa Giê-su lại trực tiếp biện minh cho sự chia rẽ và chỉ trích gay gắt của họ là tình yêu, chẳng hạn như “Tôi chỉ yêu cầu các bạn phải giống hệt tôi vì tôi yêu các bạn.”
- Điều này thật khó, bởi vì đôi khi quả thật cần phải có sự phê bình, sửa sai và khiển trách nhân danh tình yêu thương.
- Điều này thật khó, bởi vì ngay cả khi chúng ta hiểu những lời của Chúa Giê-su ở đây, chúng ta cũng hiểu rằng có rất nhiều lý do khác khiến mọi người không tin (2 Cô-rinh-tô 3:13-16, Ê-phê-sô 4:17-19, Rô-ma 1:20-21). Các tín đồ Cơ đốc có trách nhiệm lớn lao là bày tỏ Chúa Giê-su cho thế giới qua tình yêu thương và sự hiệp nhất của họ, nhưng thường thì các tín đồ Cơ đốc lại quá vội vàng đổ lỗi cho nhau về một thế giới không tin.
iv.“Nhưng thật là một điều đáng buồn, khi một người ngoại đạo lại sớm có lý do để nói rằng: Không có loài thú nào gây hại cho con người nhiều như những cơ đốc nhân gây hại cho nhau.” (Trapp)
5.(24) Chúa Giê-su cầu nguyện để được ở cùng dân Ngài và để họ thấy được vinh quang của Ngài.
a.24Cha ôi, Con muốn Con ở đâu thì những kẻ Cha đã giao cho Con cũng ở đó với Con: Chúa Giê-su mong muốn sự hiệp nhất giữa Ngài và dân Ngài được trọn vẹn, như Ngài đã hứa với các môn đệ rằng điều đó sẽ xảy ra (Giăng 14:2-3).
i.Cụm từ “Con muốn” mang một ý nghĩa nhất định. Nó có nghĩa là Chúa Giê-su khao khát sự hoàn thành mọi sự, rất mong muốn dân Ngài được quy tụ về với Ngài trên thiên đàng. Chúa Giê-su khao khát sự hoàn thành mọi sự trên thiên đàng.
ii.Con ở đâu: Chúa Giê-su chưa ở trên trời, nhưng Ngài nói như thể Ngài đã ở đó rồi. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta được kêu gọi làm điều tương tự, hiểu rằng chúng ta đang ngồi cùng với Chúa Giê-su ở những nơi trên trời ngay cả khi chúng ta vẫn còn ở trên đất (Ê-phê-sơ 1:3 và 2:6).
iii.“Chẳng phải Ngài đã bị cuốn theo lòng nhiệt thành của sự sùng kính sao? Ngài ở đâu khi thốt ra những lời trong đoạn Kinh Thánh này? Nếu tôi hiểu theo ngôn từ, tôi có thể kết luận rằng Chúa chúng ta đã ở trên trời rồi. Ngài phán: ‘con muốn những người mà Cha đã ban cho con cũng ở với con, nơi con đang ở, để họ được thấy vinh quang của con.’ Chẳng phải Ngài muốn nói rằng họ nên ở trên trời với Ngài sao? Tất nhiên là vậy; nhưng Ngài vẫn chưa ở trên trời; Ngài vẫn còn ở giữa các sứ đồ, trong thân xác trần gian; và Ngài còn phải trải qua vườn Ghết-sê-ma-nê và đồi Gô-gô-tha trước khi bước vào vinh quang của Ngài. Ngài đã cầu nguyện đến mức cảm xúc dâng trào, khiến lời cầu nguyện của Ngài ở trên trời, và chính Ngài cũng ở đó trong Linh” (Spurgeon)
iv.Chúa Giê-su đã hứa điều gì đó với các môn đồ của Ngài (Giăng 14:2-3) rồi cầu nguyện xin Đức Chúa Cha thực hiện điều đó. Chúa Giê-su làm mọi việc đều dựa vào Đức Chúa Cha.
b.24bđể họ ngắm xem sự vinh hiển của Con, là vinh hiển Cha đã ban cho Con,: Đây là điều Chúa Giê-su nói sẽ thu hút sự chú ý của dân Ngài trên thiên đàng – chiêm ngưỡng vinh quang của Chúa Giê-su. Chắc hẳn phải có điều gì đó sâu sắc, mê hoặc, bao la đến mức vinh quang của Chúa Giê-su có thể thu hút sự chú ý của dân Chúa trong cõi vĩnh hằng.
c.24cvì Cha đã yêu Con trước khi sáng thế: Chúa Giê-su nói điều này liên quan đến vinh quang mà Đức Chúa Cha đã ban cho Đức Chúa Con. Vinh quang này được ban cho trong bối cảnh một mối quan hệ yêu thương, và một mối quan hệ yêu thương kéo dài đến tận cõi vĩnh hằng.
i.Điều này cho chúng ta biết rằng trước khi mọi sự được tạo dựng, đã có một mối quan hệ yêu thương giữa Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Ngay cả khi Chúa Giê-su không nói rõ điều này, chúng ta cũng có thể hiểu được qua những lẽ thật Kinh Thánh khác, hiểu rằng Đức Chúa Trời là vĩnh hằng (Mi-ca 5:2) và Đức Chúa Trời là tình yêu thương (1 Giăng 4:8 và 4:16). Chưa bao giờ có thời điểm nào Đức Chúa Trời không yêu thương và không phải là tình yêu thương.
ii.Tình yêu đích thực phải có một đối tượng bên ngoài chính nó để yêu thương; do đó, tình yêu đã tồn tại giữa Ba Ngôi Đức Chúa Trời trước khi mọi sự được tạo dựng. Bản chất Ba Ngôi của Đức Chúa Trời không chỉ đúng theo Kinh Thánh mà còn là một sự cần thiết về mặt logic dựa trên những gì chúng ta biết về Đức Chúa Trời qua Lời được mặc khải của Ngài.
6.(25-26) Kết thúc khải hoàn cho lời cầu nguyện của Chúa Giê-su.
a.25Hỡi Cha công bình: Chúa Giê-su sắp sửa chịu đóng đinh trên thập tự giá và trải qua toàn bộ thử thách của cuộc khổ nạn – tất cả đều do Đức Chúa Cha lên kế hoạch và gửi đến. Thế nhưng, Chúa Giê-su, tràn đầy tình yêu thương và lòng kính trọng đối với Đức Chúa Cha, đã kêu lên khi kết thúc lời cầu nguyện này: “ Lạy Cha công bình! ”
- Chúa Giê-su hiểu rằng sự đau khổ hiện tại và sắp xảy ra của Ngài không hề làm giảm đi sự công chính của Đức Chúa Cha dù chỉ một chút.
b.25bthế gian chẳng từng nhận biết Cha; song Con đã nhận biết Cha: Chúa Giê-su hiểu rằng thế gian không biết và không hiểu Đức Chúa Cha, nhưng chính Ngài thì biết và hiểu Ngài.
c.25cvà những kẻ nầy nhận rằng chính Cha đã sai Con đến: Chúa Giê-su lặp lại ý tưởng được đề cập lần đầu trong lời cầu nguyện này ở Giăng 17:8. Dù có những yếu đuối và thiếu sót, các môn đồ đều hiểu rằng Đức Chúa Cha đã sai Đức Chúa Con đến.
d.26Con đã tỏ danh Cha ra cho họ, Con lại sẽ tỏ ra nữa: Chúa Giê-su kết thúc lời cầu nguyện tuyệt vời này bằng một giọng điệu đầy đức tin và thậm chí là chiến thắng. Ngài biết rằng Ngài đã hoàn thành công việc của mình và sẽ hoàn thành sứ mệnh của mình.
i.Theo một nghĩa nào đó, toàn bộ công việc của Chúa Giê-su có thể được tóm tắt bằng câu nói rằng Ngài đã tỏ danh Cha ra cho các môn đồ và cho cả thế giới. Nghĩa là, Ngài đã bày tỏ và sống trọn vẹn bản chất và tính cách của Đức Chúa Cha như là “sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài” (Hê-bơ-rơ 1:3).
ii.Thế gian gọi Chúa Giê-su là kẻ phạm thượng (Giăng 10:33), kẻ say rượu, kẻ háu ăn và là bạn của những kẻ tội lỗi (Ma-thi-ơ 11:19), một người ngoại đạo bị quỷ ám (Giăng 7:20 và 8:48), và là con ngoài giá thú (Giăng 8:41). Chúa Giê-su không tin điều nào trong số đó, vì không điều nào là sự thật. Cuối cùng, Ngài có thể tự tin nói rằng: “Con đã bày tỏ danh Cha cho họ, và sẽ tiếp tục bày tỏ danh Cha nữa.“
e.26bđể cho tình yêu thương của Cha dùng yêu thương Con ở trong họ: Chúa Giê-su đã nhận được tình yêu từ Đức Chúa Cha, và mối quan hệ yêu thương này là sức mạnh và nguồn nuôi dưỡng đời sống Ngài. Tại đây, kết thúc lời cầu nguyện trọng đại của mình, Chúa Giê-su cầu xin rằng chính tình yêu đã là sức mạnh và nguồn nuôi dưỡng Ngài sẽ tràn đầy các môn đệ của Ngài (cả ở gần và ở xa).
Điều này cho thấy vị trí thiết yếu của tình yêu trong đời sống và cộng đồng cơ đốc. Chúa Giê-su coi trọng tình yêu đến nỗi Ngài đã cầu nguyện riêng cho tình yêu, trong khi Ngài có thể cầu nguyện cho nhiều điều khác.
- Nếu tách rời tình yêu khỏi niềm vui, bạn chỉ còn lại chủ nghĩa khoái lạc.
- Nếu bạn tách rời tình yêu khỏi sự thánh thiện, bạn sẽ trở nên tự cho mình là công chính, tự phụ.
- Nếu tách rời tình yêu khỏi chân lý, bạn sẽ có được giáo điều cay đăng.
- Hãy lấy tình yêu khỏi sứ mệnh, chỉ còn lại sự chinh phục.
- Nếu tách rời tình yêu thương khỏi sự hiệp nhất, chỉ còn lại sự chuyên chế.
f.26cvà chính mình Con cũng ở trong họ nữa: Chúa Giê-su cầu nguyện rằng các môn đồ của Ngài không chỉ được tràn đầy tình yêu của Đức Chúa Cha, mà còn được biết sự hiện diện nội tại của chính Chúa Giê-su. Điều này tiếp tục nhấn mạnh đến sự ở lại và sự hiện diện của Chúa Giê-su trong lòng từ những lời của Chúa Giê-su trước đó vào buổi tối hôm ấy (Giăng 15:1-8).
©1996–present The Enduring Word Bible Commentary by David Guzik
https://enduringword.com/bible-commentary/john-17/