Giăng 15 – Chúa Giê-su sắp ra đi dạy các môn đồ về đời sống trong Ngài

Giăng 15 – Chúa Giê-su sắp ra đi dạy các môn đồ về đời sống trong Ngài

“Tất cả những ai đọc những bài giảng được Giăng lưu giữ đều phải nhận thấy văn bản trông thật đơn giản, nhưng tư tưởng ẩn chứa bên trong lại siêu việt đến nhường nào, ngay cả khi chỉ hiểu một cách mơ hồ. Giăng đang bay cao ngút trời: còn chúng ta thì sao? Đó là nguồn dưỡng chất mạnh mẽ nhất trong Kinh Thánh.” (Trench)

A.Liên quan đến Chúa Giê-su khi Ngài ra đi.

1.(1-3) Chúa Giê-su là cây nho thật.

a.1Ta là gốc nho thật: Đây là một biểu tượng quen thuộc. Đức Chúa Trời nhiều lần dùng hình ảnh cây nho làm biểu tượng cho dân Ngài trong Kinh Thánh Hê-bê-rơ (một ví dụ là Thi Thiên 80:8-9). Tuy nhiên, nó thường được dùng theo nghĩa tiêu cực (như trong Ê-sai 5:1-2, 7 và Giê-rê-mi 2:21). Mới tuần trước, Chúa Giê-su đã công khai dạy về việc Y-sơ-ra-ên giống như một vườn nho trong dụ ngôn về vườn nho (Ma-thi-ơ 21:33-44).

i.Chúa Giê-su đã nói điều này với các môn đồ của Ngài, có lẽ khi họ đang đứng trong phòng trên phòng cao và chuẩn bị rời đi. Ngài dùng hình ảnh cây nho vì ở Israel cổ đại có rất nhiều cây nho. Hơn nữa, có một cây nho vàng lớn được đặt làm vật trang trí nổi bật ở mặt trước của đền thờ, truyền tải ý tưởng rằng Israel là cây nho của Đức Chúa Trời. Ngoài ra, “Cây nho cũng là một biểu tượng được công nhận của Đấng Mê-si.” (Dods)

ii.Ngược lại, Chúa Giê-su là cây nho thật. Chúng ta phải bén rễ trong Ngài (chứ không phải trong Y-sơ-ra-ên) nếu muốn kết trái cho Đức Chúa Trời. Trong cộng đồng Giao Ước Mới, sự nhận diện đầu tiên của chúng ta là ở chính Chúa Giê-su Christ, chứ không phải ở Y-sơ-ra-ên hay thậm chí là ở Giáo Hội nói chung.

iii.Trong số nhiều hình ảnh về mối quan hệ giữa Chúa và dân Ngài, hình ảnh cây nho cành cây nhấn mạnh sự phụ thuộc hoàn toàn và nhu cầu kết nối liên tục. Cành cây phụ thuộc vào cây nho còn hơn cả con chiên phụ thuộc vào người chăn chiên hay đứa con phụ thuộc vào cha. Khi Chúa Giê-su sắp rời khỏi các môn đệ, điều này là một sự khích lệ quan trọng. Ngài sẽ mãi gắn bó với họ và họ với Ngài, cũng như các cành cây gắn bó với cây nho chính.

b.1bCha ta là người trồng nho: Trong Cựu Ước, khi dùng hình ảnh cây nho tượng trưng cho Israel, Đức Chúa Cha cũng được miêu tả là Đấng vun trồng và chăm sóc cây nho. Đức Chúa Trời cũng hoàn thành vai trò này đối với người tin Chúa trong Giao Ước Mới.

i.Người tham gia Giao ước Mới có mối quan hệ với cả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con; với cả cây nho người trồng nho.

c.2Hễ nhánh nào trong ta mà không kết quả thì Ngài chặt hết: Những nhánh bị chặt bỏ vốn không gắn bó chặt chẽ với cây nho, điều này được chứng minh bằng việc chúng không sinh trái.

i.Có một cách hiểu khác về đoạn văn này đáng được xem xét. James Montgomery Boice (và một số người khác) tin rằng động từ tiếng Hy Lạp cổ airo, dịch là ” lấy đi”, dịch chính xác hơn là ” nâng lên”. Ý tưởng là Chúa Cha nâng những cây nho không sinh trái lên khỏi mặt đất (như thường thấy trong các tập quán chăm sóc vườn nho thời xưa). Những người chăm sóc cây nho thời xưa đã đảm bảo nâng chúng lên khỏi mặt đất để chúng có thể nhận được nhiều ánh nắng mặt trời hơn và cho quả tốt hơn.

ii.“Động từ được dịch là ‘cắt bỏ’ (aireo) theo nghĩa đen là ‘nhấc lên’ hoặc ‘lấy đi’; động từ thứ hai, ‘cắt tỉa sạch sẽ’ (kathaireo), là từ ghép của động từ thứ nhất, có nghĩa là ‘làm sạch’ hoặc ‘thanh lọc’.” (Tenney)

d.2bvà Ngài tỉa sửa những nhánh nào kết quả, để được sai trái hơn: Từ “tỉa sửa” ở đây cũng chính là từ “thanh tẩy” ở những chỗ khác. Cùng một từ có thể áp dụng cho cả “tỉa cành” hoặc “thanh tẩy” trong tiếng Hy Lạp cổ. Người làm vườn nho thanh tẩy cây nho có quả để nó ra nhiều quả hơn.

i.“Nếu để mặc cho cây nho phát triển tự nhiên, nó sẽ tạo ra rất nhiều cành không hiệu quả. Để đạt năng suất tối đa, việc cắt tỉa cành rộng rãi là điều cần thiết.” (Morris)

ii.“Gỗ chết còn tệ hơn cả sự không sinh trái, vì gỗ chết có thể chứa mầm bệnh và mục nát… Đức Chúa Trời loại bỏ gỗ chết khỏi hội thánh của Ngài và rèn luyện đời sống của người tin để hướng nó vào hoạt động sinh trái.” (Tenney)

iii.“Nếu chảy máu gây đau đớn, thì héo mòn còn tệ hơn. Thà tỉa cành để cây phát triển còn hơn chặt bỏ để thiêu rụi.” (Trapp)

e.3Các ngươi đã được trong sạch, vì lời ta đã bảo cho: Công việc tỉa cành, thanh tẩy đã bắt đầu trong mười một môn đồ mà Chúa Giê-su đã nói chuyện cùng. Họ đã nghe và tiếp nhận phần lớn lời dạy của Ngài và ở một nghĩa nào đó, họ đã được thanh sạch nhờ lời ấy.

i.Khi nói rằng các con đã được thanh sạch, Chúa Giê-su đã nhắc lại một ý tưởng từ đầu buổi tối: rằng có một sự thanh tẩy ban đầu, và sau đó là một sự thanh tẩy liên tục (Giăng 13:10).

ii.Lời Chúa là một tác nhân thanh tẩy. Lời Chúa lên án tội lỗi, khơi dậy sự thánh thiện, thúc đẩy sự tăng trưởng và bày tỏ quyền năng để chiến thắng. Chúa Giê-su tiếp tục thanh tẩy dân Ngài qua lời Chúa ( Ê-phê-sô 5:26).

iii.“Phương tiện để tỉa cành hay thanh tẩy là bằng Lời Chúa. Lời Chúa lên án tội lỗi; nó khơi gợi sự thánh thiện; nó thúc đẩy sự phát triển. Khi Chúa Giê-su áp dụng những lời Chúa ban cho Ngài vào đời sống của các môn đồ, họ đã trải qua một quá trình tỉa cành, loại bỏ điều ác khỏi họ và chuẩn bị cho họ phục vụ tiếp theo.” (Tenney)

2.(4-5) Mối quan hệ sống còn giữa cây nho và nhánh nho.

a.4Hãy cứ ở trong ta, thì ta sẽ ở trong các ngươi: Chúa Giê-su nhấn mạnh mối quan hệ tương hỗ. Không chỉ môn đồ ở trong Thầy, mà Thầy cũng ở trong môn đồ. Một phần của mối quan hệ mật thiết này được mô tả trong Nhã Ca 6:3: “Tôi thuộc về lương nhân tôi, Và lương nhân tôi thuộc về tôi.”

i.Chúa Giê-su dùng hình ảnh này để trấn an các môn đồ về sự kết nối và mối quan hệ bền chặt ngay cả khi Ngài sắp rời xa họ. Tuy nhiên, Ngài nói điều này theo cách cũng cho thấy khía cạnh lựa chọn thuộc về phía họ. Việc ở lại là điều họ phải lựa chọn.

ii.“Khi Chúa chúng ta phán: Hãy ở trong Ta, Ngài đang nói về ý chí, về những lựa chọn, những quyết định mà chúng ta đưa ra. Chúng ta phải quyết định làm những việc khiến bản thân mình hướng về Ngài và giữ mối liên hệ với Ngài. Đó chính là ý nghĩa của việc ở trong Ngài.” (Boice)

b.4bNhư nhánh nho, nếu không dính vào gốc nho, thì không tự mình kết quả được, cũng một lẽ ấy, nếu các ngươi chẳng cứ ở trong ta, thì cũng không kết quả được: Cành không thể kết trái nếu không gắn liền với cây nho. Người môn đồ không thể làm điều tốt thật sự cho Đức Chúa Trời và vương quốc của Ngài nếu họ không ý thức kết nối và gắn bó với Chúa Giê-su.

i.“Tất cả sức sống và sự an toàn của chúng ta đều đến từ Đấng Christ. Mầm mống của một ước muốn tốt lành, bông hoa của một quyết tâm tốt đẹp, và trái ngọt của một hành động tốt lành, tất cả đều đến từ Ngài.” (Trapp)

c.5Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh: Có lẽ Chúa Giê-su nói như vậy vì họ đã quá quen với việc nghĩ về Israel như cây nho và chủ yếu suy nghĩ theo mối liên hệ của họ với Israel. Giờ đây, họ phải nghĩ về Chúa Giê-su như cây nho, và nhấn mạnh mối liên hệ của họ với Ngài.

d.5bAi cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái: Việc sinh trái là điều tất yếu khi ở trong Ta. Chất lượng và số lượng trái có thể khác nhau, nhưng sự hiện diện của trái là điều chắc chắn.

i.Mục đích của cành cây là để kết trái. Mặc dù lá nho có nhiều công dụng, nhưng người ta không trồng nho chỉ để ngắm lá đẹp. Họ bỏ công sức chăm sóc, gieo trồng, tưới nước và vun trồng cây nho để có thể thu hoạch trái. Theo nghĩa này, chúng ta có thể nói rằng trái cây tượng trưng cho phẩm chất Cơ Đốc (như trái của Thánh Linh trong Ga-la-ti 5:22-23). Công việc của Chúa trong chúng ta và mối liên hệ của chúng ta với Ngài cần được thể hiện rõ ràng qua trái, và có lẽ là qua nhiều trái.

ii.Quả cũng hàm ý sự sinh sản vốn có. Hầu như mọi loại quả đều có hạt bên trong, những hạt này có chức năng sinh sản ra nhiều quả hơn.

iii.Khái niệm về sự ở trong Chúa không chỉ giới hạn ở việc chúng ta ở trong Chúa Giê-su; nó còn bao gồm việc Ngài ở trong chúng ta (và ta trong họ (BD2011|BHĐ và Ta ở trong người ấy). Đó là một mối quan hệ tương hỗ, đòi hỏi đời sống của chúng ta phải gắn bó mật thiết với Chúa Giê-su cả về mặt tâm linh và thực tiễn, đòi hỏi Ngài phải ngự trong chúng ta một cách tích cực và thực tế. Trách nhiệm về sự ở trong Chúa không chỉ thuộc về người tin Chúa.

e.5cvì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được: Không phải là các môn đồ không thể hoạt động gì nếu không có Chúa Giê-su. Họ vẫn có thể hoạt động mà không cần Ngài, cũng như kẻ thù của Chúa Giê-su và nhiều người khác. Tuy nhiên, họ và chúng ta không thể làm được điều gì có giá trị thực sự, vĩnh cửu nếu không có Chúa Giê-su.

i.“chữ 5Ta là được thể hiện qua đại từ nhân xưng ‘Ta’, và tuyên bố về mọi quyền năng hé lộ Đấng Toàn Năng. Những từ này có nghĩa là Thần thánh hoặc không là gì cả.” (Spurgeon)

ii.“Chỉ khi kết hợp với Ngài thì bất kỳ cành nào cũng có thể kết trái: một khi sự kết hợp đó bị phá vỡ, nhựa cây sẽ không còn chảy nữa; và cành đó không còn có thể kết trái, mặc dù phần nhựa còn lại trong đó vẫn có thể đủ để mọc lá và do đó tạm thời mang lại vẻ ngoài của sự sống.” (Trench)

iii.“Phao-lô không dùng lối nói của Giăng nhưng ông diễn đạt cùng một chân lý khi nói rằng: ‘không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi’ (Ga-la-ti 2:20) và ‘Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi’ (Phi-líp 4:13).” (Bruce)

iv.“‘Không có ta, các ngươi chẳng làm được gì;’ nếu điều này đúng với các sứ đồ, thì càng đúng hơn với những kẻ chống đối! Nếu bạn hữu của Ngài không thể làm gì nếu không có Ngài, thì ta chắc chắn rằng kẻ thù của Ngài cũng không thể làm gì chống lại Ngài.” (Spurgeon)

3. (6-8) Giá phải trả cho việc không tuân giữ và lời hứa dành cho những người tuân giữ.

a.6Nếu ai chẳng cứ ở trong ta thì phải ném ra ngoài, cũng như nhánh nho; nhánh khô đi: Chúa Giê-su cảnh báo các môn đệ rằng nếu không ở trong Ta thì sự sống sẽ tàn lụi. Nhánh nho chỉ sống được khi còn gắn liền với gốc nho; các môn đệ chỉ sống về mặt tâm linh khi gắn bó với Thầy.

i.Những động từ này mô tả một quá trình phát triển dành cho người không ở lại: bị đuổi ra, bị héo mòn, được gom lại, bị ném đi và bị thiêu đốt. Giống như các dụ ngôn khác, hình ảnh mà Đức Giêsu sử dụng ở đây không nhằm mô tả một hệ thống thần học hoàn chỉnh. Tuy nhiên, quá trình được mô tả là một lời cảnh báo nghiêm túc và có ý nghĩa về nguy hiểm của việc không tuân giữ.

ii.Cách diễn đạt mà Chúa Giê-su sử dụng ở đây rất quan trọng. Ngài không nói: ” Nếu ai không sinh trái thì bị đuổi ra.” Ngài nói: ” Nếu ai không ở trong Ta thì bị đuổi ra.Ngài biết ai ở trong Ta và ai không, và điều này không thể được phân biệt một cách hoàn hảo bằng sự đánh giá bề ngoài về kết quả.

b.6bngười ta lượm lấy, quăng vào lửa, thì nó cháy: Cành cây khô héo không sinh trái, ngay cả gỗ của nó cũng chẳng dùng được gì ngoài việc đốt. Việc nhắc đến lửa và sự đốt cháy, gợi lên sự liên tưởng đến hình phạt ở đời sau và cảnh báo về hậu quả nghiêm trọng nếu không tuân thủ.

i.Chúng ta hãy suy nghĩ về tác động của những lời này đối với mười một môn đồ đầu tiên nghe thấy chúng. Chúa Giê-su nói với họ rằng Ngài sẽ ra đi; nhưng họ sẽ không bị tách rời khỏi Ngài. Công việc của Đức Thánh Linh, được Cha sai đến, là giữ cho họ luôn kết nối với Chúa Giê-su. Nếu họ bị tách rời khỏi Ngài, họ sẽ bị hủy hoại – có lẽ giống như Giu-đa vậy.

ii.Đoạn văn này được hiểu theo ít nhất ba cách khác nhau liên quan đến sự an toàn của vị trí môn đệ tuyên xưng trong Chúa Giê-su.

  • Quan điểm thứ nhất cho rằng những nhánh bị loại bỏ là những người, dù từng là tín đồ chân chính, nhưng cuối cùng lại xuống địa ngục vì thiếu sự gắn bó và không kết trái. Họ từng là môn đệ, nhưng nay đã bị loại bỏ.
  • Quan điểm thứ hai cho rằng những nhánh bị loại bỏ là những người chỉ tỏ ra là môn đệ, chứ không thực sự ở trong Chúa Giê-su, và do đó sẽ xuống địa ngục (giống như Giu-đa).
  • Quan điểm thứ ba cho rằng những cành cây bị loại bỏ là những môn đồ vô ích, sống cuộc đời lãng phí và thực chất đã bị thiêu rụi, và đoạn Kinh Thánh này không đề cập đến số phận vĩnh hằng của họ (như Lót, cháu trai của Áp-ra-ham).

iii.Ý nghĩa dường như rất rõ ràng: không có môn đệ chân chính nào lại không gắn bó. Cành phải luôn kết nối với cây nho, nếu không nó sẽ không có sự sống và không mang lại lợi ích lâu dài.

iv.Bị đốt cháy : “Không phải là ‘bị thiêu đốt’ theo nghĩa bị tiêu hủy ; mà là ‘và phải bị thiêu đốt ‘, như Luther dịch.” (Alford)

c.7Ví bằng các ngươi cứ ở trong ta, và những lời ta ở trong các ngươi: Chúa Giê-su đã liên kết nguyên tắc ở trong Ta với hai ý tưởng đã được đề cập trước đó trong bài giảng trên phòng cao này.

  • Lời Ta ở trong các ngươi : Chúa Giê-su đã liên hệ sự ở trong với ý niệm trung thành với lời Ngài, như đã đề cập trước đó trong Giăng 14:23-24.
  • 7bhãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó.: Chúa Giê-su đã liên hệ việc ở trong Chúa với ý niệm về lời cầu nguyện được đáp lời, như đã đề cập trước đó trong Giăng 14:13-14. “Lời cầu nguyện đến một cách tự nhiên từ những người ở trong Chúa Giê-su… Cầu nguyện là sự tuôn trào tự nhiên của một tâm hồn, trong sự hiệp thông với Chúa Giê-su.” (Spurgeon)

i.Sống trong Chúa Giê-su nghĩa là sống theo lời Ngài và để lời Ngài sống mãi trong đời sống của người môn đồ. “Chúng ta không nên xem nhẹ tầm quan trọng của việc nhắc đến ‘lời của Ta’. Giáo huấn của Đấng Christ rất quan trọng và không thể xem nhẹ chỉ vì lợi ích của việc khơi dậy cảm xúc tôn giáo.” (Morris)

ii.“Mối liên hệ được duy trì bởi sự vâng phục và cầu nguyện. Việc ở trong Đấng Christ và để lời Ngài ở lại trong mình có nghĩa là chấp nhận một cách có ý thức thẩm quyền của lời Ngài và duy trì sự kết nối thường xuyên với Ngài qua lời cầu nguyện.” (Tenney)

iii.Người môn đệ trung thành, ở trong Chúa Giê-su này nên mong đợi lời cầu nguyện được đáp ứng như một phần trong mối quan hệ của họ với Ngài. Việc không thấy lời cầu nguyện được đáp ứng có nghĩa là có điều gì đó không ổn trong mối quan hệ của người môn đệ. Có lẽ có điều gì đó không ổn trong việc gắn bó, và những lời cầu nguyện bị sai lệch và không được đáp ứng. Có lẽ có điều gì đó không ổn trong việc cầu xin và người môn đệ không nhận thức được điều Chúa Giê-su muốn làm trong và qua Ngài.

iv.thì sẽ được điều đó: Điều đó trở nên an toàn cho Chúa khi Ngài nói với linh hồn được thánh hóa: “Hãy xin điều gì ngươi muốn, và điều đó sẽ được ban cho ngươi.” Bản năng thiêng liêng của con người ấy dẫn dắt anh ta đi đúng hướng; ân sủng trong linh hồn anh ta dập tắt mọi ham muốn tham lam và dục vọng ô uế, và ý chí của anh ta chính là bóng dáng thực sự của ý muốn Chúa. Sự sống tâm linh làm chủ trong người ấy, vì vậy những khát vọng của người ấy là thánh thiện, thiêng liêng, và giống như Chúa.

“Đức Chúa Trời có thể tự tin phán với linh hồn đã được thánh hóa rằng: ‘Hãy cầu xin điều gì con muốn, và điều đó sẽ được ban cho con.’ Bản năng thiêng liêng của người ấy dẫn dắt người ấy đi đúng đường; ân điển trong tâm hồn người ấy chế ngự mọi dục vọng tham lam và những ham muốn xấu xa, và ý chí của người ấy chính là hình bóng thực sự của ý chí Đức Chúa Trời. Đời sống tâm linh làm chủ trong người ấy, và vì vậy những khát vọng của người ấy là thánh thiện, thiêng liêng, giống như Đức Chúa Trời.” (Spurgeon)

d.8Nầy, Cha ta sẽ được sáng danh là thể nào: Ấy là các ngươi được kết nhiều quả, thì sẽ làm môn đồ của ta vậy: Mục đích của việc sinh nhiều trái là để làm vinh hiển Đức Chúa Trời, chứ không phải cho môn đồ. Một cành cây sinh nhiều trái mang lại vinh dự cho người chăm sóc cây nho, và một môn đồ sinh nhiều trái theo nghĩa thuộc linh mang lại vinh dự cho Đức Chúa Trời.

i.“Các cành và chùm nho không có lòng vị kỷ, không có mục đích nào ngoài vinh quang của Cây Nho và Người Trồng Nho: mọi mục đích khác đều bị loại bỏ vì không xứng đáng.” (Trench)

ii.8Nầy, Cha ta sẽ được sáng danh là thể nào: “Hay nói cách khác, được tôn kính. Người làm vườn vinh dự có những cây nho tốt, khỏe mạnh, sai trĩu quả: cũng vậy, Đức Chúa Trời vinh dự có những con cái mạnh mẽ, khỏe mạnh, thánh thiện, hoàn toàn không có tội lỗi và tràn đầy tình yêu thương của Ngài.” (Clarke)

iii.Hiệu quả thực sự chỉ được xác định trong một thời gian dài. “Sự hoán cải chân chính không được đo bằng quyết định vội vàng, mà bằng hiệu quả lâu dài.” (Carson) Nguyên tắc này được thể hiện trong dụ ngôn về các loại đất (Ma-thi-ơ 13:1-23).

4. (9-11) Mối liên hệ giữa tình yêu và sự vâng lời.

a.9Như Cha đã yêu thương ta thể nào, ta cũng yêu thương các ngươi thể ấy: Chúa Giê-su yêu thương các môn đồ của Ngài một cách có chủ đích theo cách mà Đức Chúa Cha yêu thương Ngài. Chúng ta biết rằng Chúa Giê-su yêu thương các môn đệ bằng cách dạy dỗ họ, bảo vệ họ, hướng dẫn họ, phục vụ họ cách hy sinh, và dùng quyền năng và thẩm quyền của Ngài để làm những điều đó. Theo một cách nào đó, Đức Chúa Cha cũng đã làm tất cả những điều đó cho Chúa Giê-su và Chúa Giê-su đã làm những điều đó cho các môn đệ theo khuôn mẫu đó.

i.Tình yêu của Chúa Giê-su dành cho dân Ngài thật đáng kinh ngạc, đến nỗi Ngài phải dùng đến phép so sánh hoặc hình ảnh này. Ngài không nói, “Ta yêu các con như mẹ yêu con mình” hay “Ta yêu các con như chồng yêu vợ” hay “Ta yêu các con như người lính yêu đồng đội” hoặc thậm chí “Ta yêu các con như người nghiện yêu ma túy”. Cách duy nhất Ngài có thể vẽ nên bức tranh ấy là dùng tình yêu của Cha dành cho Con.

ii.Như Cha đã yêu thương Ta, Ta cũng đã yêu thương các con: “Đây chắc chắn là lời tuyệt vời nhất của Đấng Christ về tình yêu thương của Ngài dành cho những người thuộc về Ngài. Không còn gì để nói thêm nữa. Tình yêu của Cha dành cho Con là gì, ai có thể diễn tả được? Chỉ cần gợi ý thôi cũng đã lấp đầy tâm hồn bằng cảm giác về chiều sâu vô cùng lớn lao không thể nào thấu hiểu.” (Morgan)

iii.“Hỡi những người yêu dấu, các bạn không thể, không dám, không bao giờ nghi ngờ tình yêu của Chúa Cha dành cho Con Ngài. Đó là một trong những chân lý không thể chối cãi mà các bạn chưa bao giờ nghĩ đến việc tranh luận. Chúa chúng ta muốn chúng ta đặt tình yêu của Ngài dành cho chúng ta ngang hàng với tình yêu của Chúa Cha dành cho chính Ngài. Chúng ta phải tin tưởng vào cả hai tình yêu đó một cách vững chắc như nhau.” (Spurgeon)

iv.Chúa Cha yêu thương Chúa Con bằng một tình yêu:

  • Nó không có khởi đầu.
  • Việc đó không bao giờ kết thúc.
  • Đó là chuyện riêng tư và thân mật.
  • Điều đó là không thể đo lường được.
  • Điều đó không thay đổi.

b.9bhãy cứ ở trong sự yêu thương của ta: Không có một cách duy nhất nào để mô tả bản chất và tính cách của Chúa Giê-su. Ngài tràn đầy quyền năng, sự khôn ngoan, chân lý, sự thánh thiện, lòng tận hiến, sự phục tùng, sự hy sinh và hàng tá phẩm chất khác. Trong tất cả những điều cần nhấn mạnh, Chúa Giê-su nói hãy ở trong tình yêu của Ta. Khi người môn đệ giữ vững mối liên hệ với tình yêu của Chúa Giê-su, mối quan hệ đó sẽ luôn bền chặt.

i.9bhãy cứ ở trong sự yêu thương của ta: “Hãy lưu ý rằng điều này được đưa ra như một lời giải thích về phương tiện để ở trong tình yêu của Ngài. Đây không phải là một trải nghiệm huyền bí nào cả. Đó chỉ đơn giản là sự vâng phục. Khi một người giữ các điều răn của Đấng Christ thì người đó ở trong tình yêu của Đấng Christ.” (Morris)

c.10Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài: Một lần nữa, Chúa Giê-su liên kết việc làm môn đệ chân chính với sự vâng phục mệnh lệnh của Ngài và tôn kính lời Ngài. Chúa Giê-su đã hoàn thành điều này đối với Cha Ngài; người môn đệ phải hoàn thành điều đó đối với Chúa Giê-su.

i.Như đã đề cập trước đó (Giăng 14:15), những gì Chúa Giê-su đã làm và dạy tối hôm đó trên phòng cao nhấn mạnh các điều răn của Chúa Giê-su, chủ yếu là về tình yêu thương đối với các môn đồ, sự phục vụ hy sinh vì các môn đồ, và tình yêu tin cậy đối với Đức Chúa Cha và Chúa Giê-su.

d.11Ta nói cùng các ngươi những điều đó, hầu cho sự vui mừng của ta ở trong các ngươi: Khi một môn đồ không ở trong tình yêu của Chúa Giê-su và do đó không giữ các điều răn của Ngài, môn đồ đó sẽ không kinh nghiệm được sự trọn vẹn của niềm vui mà Chúa Giê-su đã hứa cho những người ở trong tình yêu và sự vâng phục của Ngài.

i.“Không ai khốn khổ hơn người Cơ đốc nhân nào lưỡng lự trong việc vâng phục của mình. Anh ta không yêu tội lỗi đủ để tận hưởng những thú vui của nó, và anh ta cũng không yêu Đấng Christ đủ để vui mừng trong sự thánh thiện. Anh ta nhận thấy sự phản nghịch của mình là bất chính, nhưng sự vâng phục dường như không hấp dẫn. Anh ta không còn cảm thấy thuộc về thế gian nữa, nhưng ký ức về những mối quan hệ trong quá khứ và những lời ca quyến rũ của những bản nhạc cũ ngăn cản anh ta hát cùng các thánh. Anh ta là người đáng thương nhất; và anh ta không thể do dự mãi mãi.” (Carson)

e.11bhầu cho sự vui mừng của ta ở trong các ngươi: sự vui mừng của Chúa Giê-su không giống như những gì người ta thường hiểu là hạnh phúc hay phấn khích. Niềm vui của Chúa Giê-su không phải là sự sung sướng của một cuộc sống dễ chịu; đó là sự hân hoan khi được ở đúng theo ý Cha, và ý thức bước đi trong tình yêu thương và sự chăm sóc của Ngài. Chúng ta có thể có được niềm vui đó – chúng ta có thể có được niềm vui của Ngài – và có nó như một sự hiện diện bền vững.

i.Niềm vui của Ta: “Không phải ‘ niềm vui liên quan đến Ta ’, cũng không phải ‘niềm vui xuất phát từ Ta ’, hay ‘ niềm vui của Ta dành cho các con ’, mà là niềm vui của Ta, nói đúng hơn… sự hân hoan thánh thiện của chính Ngài, niềm vui của Đức Chúa Con trong nhận thức về tình yêu của Đức Chúa Trời.” (Alford)

ii.Khi Chúa Giê-su nói về niềm vui của Ngài, “Không ai hỏi Ngài ý Ngài là gì. Họ không nhìn nhau vẻ bối rối. Đối với họ, việc Thầy nói về niềm vui của mình dường như hoàn toàn tự nhiên. Từ đó, chúng ta hiểu rằng niềm vui của Đấng Christ là điều mà họ hoàn toàn quen thuộc.” (Morrison)

f.11cvà sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn: Đây là kết quả của việc sống trong tình yêu thương của Chúa Giê-su và sự vâng phục xuất phát từ mối quan hệ bền chặt đó.

i.sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn: “Hoặc, hoàn toàn -plhrwyh, đầy ắp : một phép ẩn dụ lấy từ một chiếc bình, trong đó nước hoặc bất cứ thứ gì khác được đổ vào cho đến khi đầy tràn. Tín ngưỡng của Đấng Christ xua tan mọi đau khổ khỏi trái tim của những người đón nhận nó một cách trọn vẹn. Chính để xua đuổi sự khốn khổ ra khỏi thế gian mà Chúa Giê-su đã đến thế gian.” (Clarke)

ii.“Chúa tạo ra con người, cũng như tạo ra những sinh vật khác, để được hạnh phúc. Họ có khả năng hạnh phúc, họ cảm thấy thoải mái nhất khi hạnh phúc; và giờ đây, khi Chúa Giê-su Christ đến để phục hồi những đổ nát do Sự Sa Ngã gây ra, Ngài phải mang lại cho chúng ta niềm vui Thiên cổ, — chỉ có điều niềm vui ấy sẽ còn ngọt ngào và sâu sắc hơn cả, khi chúng ta chưa từng đánh mất nó.” (Spurgeon)

B.Mối quan hệ giữa chúng ta khi Chúa Giê-su ra đi.

1.(12-15) Chúa Giê-su nói về mức độ tình yêu của Ngài mà họ phải noi theo.

a.12Điều răn của ta đây nầy: Các ngươi hãy yêu nhau: Khi Chúa Giê-su nói những lời này với các môn đệ khi họ đang đứng trong phòng cao, sau khi đứng dậy khỏi bàn ăn, chúng ta cảm nhận được sự nhấn mạnh được tạo ra bởi sự lặp lại. Chúa Giê-su thực sự quan tâm đến việc các môn đệ yêu thương nhau, và họ làm điều đó theo mức độ và phẩm chất tình yêu của Ngài dành cho họ.

i.“Có lẽ họ mong đợi những chỉ dẫn tỉ mỉ, chi tiết như những gì họ đã nhận được khi mới được phái đi (Ma-thi-ơ 10). Thay vào đó, tình yêu thương sẽ là kim chỉ nam đủ cho họ.” (Dods)

ii.“Chúng ta được phái đến thế gian để yêu thương nhau. Đôi khi chúng ta sống như thể được phái đến thế gian để cạnh tranh với nhau, hoặc để tranh cãi với nhau, hoặc thậm chí để cãi vã với nhau.” (Barclay)

iii.12bcũng như ta đã yêu các ngươi: “Tình yêu của Ngài vừa là nguồn gốc vừa là thước đo tình yêu của họ.” (Dods)

iv.“Sự đoàn kết thay vì ganh đua, lòng tin thay vì nghi ngờ, sự vâng phục thay vì tự cao tự đại phải là nguyên tắc chi phối công việc chung của các môn đệ.” (Tenney)

v.Đây là điều răn của Ta, là các con hãy yêu thương nhau: “Điều răn này đã khắc sâu trong lòng vị thánh truyền giáo này đến nỗi Thánh Giêrôme nói trong thư gửi tín hữu Ga-la-ti (sách 3, chương 6), rằng khi Giăng đã rất già, mỗi khi được khiêng đến các buổi họp mặt của các tín hữu, Giăng luôn nói: Hỡi các con bé mọn, hãy yêu thương nhau. Các môn đệ của ông, cuối cùng đã mệt mỏi vì sự lặp đi lặp lại liên tục những lời ấy, nên hỏi Giăng: Tại sao ông cứ nói đi nói lại như vậy? ‘Vì (Giăng trả lời) đó là điều răn của Chúa, và chỉ cần tuân giữ điều đó là đủ.’” (Clarke)

b.13Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình: Chúa Giê-su đã mô tả mức độ và phẩm chất tình yêu của Ngài dành cho họ, để họ noi theo và yêu thương nhau. Tình yêu của Ngài trọn vẹn và vô cùng cao cả, đến mức hi sinh cả mạng sống mình.

i.“Không ai có thể thể hiện tình yêu thương dành cho bạn mình sâu đậm hơn thế này: bởi vì, khi Ngài hi sinh cả mạng sống, Ngài hi sinh tất cả những gì mình có. Bằng chứng về tình yêu thương của Ta dành cho ngươi, ta sẽ chứng minh trong vài giờ nữa; và giáo lý mà Ta khuyên ngươi nên theo, ta sẽ tự mình làm gương.” (Clarke)

c.14Ví thử các ngươi làm theo điều ta dạy, thì các ngươi là bạn hữu ta: Họ là bạn vì họ vâng lời (mặc dù không hoàn toàn). Tình bạn với Chúa Giê-su không thể tách rời khỏi sự vâng phục các điều răn của Ngài.

i.“Hãy lưu ý rằng đó phải là sự vâng phục tích cực. ‘Các ngươi là bạn ta nếu các ngươi làm theo mọi điều ta truyền dạy. ’Một số người cho rằng chỉ cần tránh những điều Ngài cấm là đủ. Tránh xa điều ác là một phần quan trọng của sự công chính, nhưng điều đó không đủ để có được tình bạn.” (Spurgeon)

d.15Ta chẳng gọi các ngươi là đầy tớ nữa, vì đầy tớ chẳng biết điều chủ mình làm; nhưng ta đã gọi các ngươi là bạn hữu ta, vì ta từng tỏ cho các ngươi biết mọi điều ta đã nghe nơi Cha ta: Họ là bạn hữu vì Chúa Giê-su không giấu giếm họ, nhưng công khai bày tỏ những điều Ngài đã nhận được từ Đức Chúa Cha.

i. “Người bạn là người tâm phúc, người chia sẻ hiểu biết về mục đích của cấp trên và tự nguyện chấp nhận nó như mục đích của chính mình.” (Tenney)

e.15bta đã gọi các ngươi là bạn hữu ta: Chúa Giê-su mô tả mức độ và phẩm chất tình yêu của Ngài dành cho họ như một tình yêu đối xử với các tôi tớ như người bạn. Trong mối quan hệ giữa một môn đồ và thầy của mình thời đó, người ta không mong đợi đó là một tình bạn. Tuy nhiên, Chúa Giê-su, vị thầy, đã gọi các môn đồ của Ngài, những tôi tớ của Ngài, là bạn hữu.

i.Trong tư duy của thế giới cổ đại, nô lệ có thể là một công cụ hữu ích và đáng tin cậy nhưng không bao giờ được coi là cộng sự. Mặc dù nô lệ và bạn bè có thể thực hiện những công việc tương tự, nhưng một người bạn có thể là cộng sự trong công việc theo cách mà một người nô lệ không bao giờ có thể làm được.

ii. “John Wesley, khi nhìn lại sự cải đạo của mình trong những năm sau này, đã mô tả đó là thời điểm ông đổi đức tin của một người đầy tớ lấy đức tin của một người con.” (Bruce)

2.(16-17) Được chọn để kết trái và yêu thương nhau.

a.16Ấy chẳng phải các ngươi đã chọn ta: Chúa Giê-su vừa nói về đặc ân lớn lao dành cho các môn đệ – tình bạn với Thầy, lời cầu nguyện được đáp lời, kết trái bội phần, biết những điều từ Cha. Các môn đệ nên trân trọng những điều này mà không được kiêu ngạo như thể họ đã tự mình đạt được. Tất cả đều bắt nguồn từ việc Chúa Giê-su đã chọn họ, chứ không phải họ chọn Ngài.

i.“Chúng ta ở trong Đấng Christ, không phải vì chúng ta nắm giữ Ngài, mà vì Ngài nắm giữ chúng ta.” (Meyer)

ii.“Không phải họ chọn Ngài, như thường lệ khi các môn đệ gắn bó với một vị Rabbi nào đó. Học trò trên khắp thế giới đều thích tìm thầy mà họ yêu thích và gắn bó với thầy ấy. Nhưng các môn đệ của Chúa Giê-su không chủ động. Trái lại, chính Ngài đã chọn họ.” (Morris)

b.16bbèn là ta đã chọn và lập các ngươi,: Chúa Giê-su chọn các môn đệ không chỉ để họ có được niềm vui khi biết mình được chọn, mà còn để họ sinh trái bền vững, làm vinh hiển Đức Chúa Cha.

i.“Phần lớn thành quả của họ nhất thiết sẽ là việc dẫn dắt người khác đến với Đấng Christ: nhưng đó không phải là ý chính ở đây.” (Alford)

ii.16cđể các ngươi đi và kết quả, hầu cho trái các ngươi thường đậu luôn: “Từ ‘ra đi’ có lẽ chỉ đơn thuần diễn tả hoạt động sống và phát triển nguyên tắc; chứ không phải là những chuyến truyền giáo của các Tông đồ, như một số người đã giải thích.” (Alford)

c.16dLại cũng cho mọi điều các ngươi sẽ nhân danh ta cầu xin Cha, thì Ngài ban cho các ngươi: Một lần nữa, Chúa Giê-su liên kết việc kết quả với lời cầu nguyện được đáp ứng. Khi Ngài rời khỏi họ, kinh nghiệm cầu xin và nhận được của họ sẽ không kết thúc mà sẽ thay đổi, và Chúa Giê-su đã chuẩn bị cho các môn đệ của Ngài về điều này.

d.17Ta truyền cho các ngươi những điều răn đó, đặng các ngươi yêu mến lẫn nhau vậy: Một lần nữa, Chúa Giê-su truyền dạy các môn đệ phải yêu thương nhau. Khi Ngài rời khỏi họ, họ không được chia rẽ hay quay lưng lại với nhau, và Chúa Giê-su đã chuẩn bị cho họ để họ ở lại với nhau và yêu thương nhau.

C.Mối liên hệ với thế giới khi Chúa Giê-su ra đi.

1.(18-20) Thế gian có thể từ chối các môn đồ vì họ là ai.

a.18Ví bằng người đời ghét các ngươi: Chúa Giê-su nói với các môn đệ rằng thế gian thường sẽ ghét họ. Dù Chúa Giê-su tuyệt vời đến đâu và thông điệp của Ngài vĩ đại đến mức nào, họ vẫn nên chuẩn bị tinh thần bị từ chối khi Chúa Giê-su ra đi, cũng giống như việc họ thường bị chống đối khi Chúa Giê-su còn ở bên họ.

i.Các môn đồ mà Chúa Giê-su nói chuyện đêm đó sẽ nếm trải sự thù hận của thế gian. Họ bị bắt bớ và tất cả đều chết tử vì đạo nhân danh Chúa Giê-su, ngoại trừ Giăng — người mà họ tìm cách giết, nhưng ông đã sống sót một cách kỳ diệu mà không chết dưới tay họ.

ii.Những người Cơ đốc nhân đầu tiên hẳn đã biết đến sự thù hận của thế gian. “Tacitus đã nói về những người ‘bị ghét vì tội ác của họ, những người mà đám đông gọi là Cơ đốc nhân.’ Suetonius đã nói về ‘một chủng tộc người thuộc về một niềm tin dị đoan mới và xấu xa.’” (Barclay)

iii.“Thật là một sự thật kỳ lạ rằng thế giới chẳng mấy chốc đã biện minh cho thái độ thù địch của mình đối với họ bằng cách gán cho họ là người chủ động trong lòng thù hận. Tài liệu tham khảo sớm nhất còn tồn tại về người Cơ đốc nhân trong văn học ngoại giáo cáo buộc họ ‘thù hận loài người’.” (Tacitus, Biên niên sử, 15.44.5) (Bruce)

iv.Trong suốt các thế kỷ, các tín đồ cơ đốc giáo đã nếm trải sự thù hận của thế gian, và hàng triệu người đã chết vì Chúa Giê-su. Người ta nói rằng số người tử đạo vì Chúa Giê-su trong thế kỷ 20 nhiều hơn tất cả các thế kỷ trước cộng lại.

v.“Điều đáng chú ý là các môn đệ được biết đến bởi tình yêu thương của họ, còn thế gian được biết đến bởi lòng thù hận của nó.” (Morris)

b.18bthì hãy biết rằng họ đã ghét ta trước các ngươi: Chúa Giê-su hy vọng an ủi các môn đệ bằng sự hiểu biết rằng sự thù ghét của thế gian trước hết hướng về Ngài. Chúa Giê-su thu hút sự chú ý của đám đông lớn và lòng sùng kính từ mọi tầng lớp người; thế nhưng, nhìn chung, thế gian vẫn ghét Chúa Giê-su.

i.hãy biết rằng: “cụm từ các ngươi ‘hãy biết rằng cũng có thể được hiểu là mệnh lệnh ‘các bạn biết’. Do đó, ý nghĩa là ‘Các ngươi nhận thức được’ hoặc ‘Hãy chắc chắn’, để (theo cả hai cách hiểu) sự thù hận của thế gian đối với họ sẽ không làm họ bất ngờ.” (Tasker)

ii.họ đã ghét ta: “Thì hoàn thành của động từ ‘ghét‘ (memiseken) ngụ ý rằng sự ghét bỏ của thế gian là một thái độ cố hữu đối với Ngài — một thái độ cũng lan sang các môn đệ của Ngài.” (Tenney)

iii.Khi Chúa Giê-su nói chuyện với Sau-lơ thành Tạt-sơ trên đường đến Đa-mách, Ngài hỏi Sau-lơ: Tại sao ngươi bắt bớ Ta? (Công vụ 9:4) “Chúa, Đấng đích thân bị bắt bớ trên đất, ngay cả trong sự thăng lên của Ngài, vẫn tiếp tục bị bắt bớ, qua những người theo Ngài.” (Bruce)

iv.họ đã ghét ta: “Ngài và thế gian thù địch với nhau. Thế gian vui mừng khi quên đi Đức Chúa Trời: Ngài đến để đưa con người trở về với Đức Chúa Trời.” (Trench)

c.19Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi: Chúa Giê-su nói điều này vừa như một sự thật vừa như một lời giải thích. Điều này giải thích thêm lý do tại sao thế gian lại ghét các môn đồ của Chúa Giê-su. Nó cũng là một mô tả thực tế về các môn đồ – rằng trong nhiều khía cạnh, họ khác biệt với thế gian.

i.19ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi: “Sự căm ghét thế gian, thay vì gây chán nản, nên là điều đáng phấn khởi, vì đó là bằng chứng và sự đảm bảo rằng họ đã được Đấng Christ chọn lựa.” (Dods)

d.20Hãy nhớ lời ta đã nói cùng các ngươi: Đầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ ta, ắt cũng bắt bớ các ngươi; bằng họ đã giữ lời ta, ắt cũng giữ lời các ngươi: Chúa Giê-su chủ yếu bị bắt bớ bởi giới chức tôn giáo, những người chủ yếu phản ánh các giá trị và mục tiêu của thế gian trái ngược với Đức Chúa Trời. Một người có thể rất sùng đạo nhưng vẫn sống rất hòa nhập với thế gian.

i.Nếu họ giữ lời Ta, họ cũng sẽ giữ lời các ngươi : “Ý nghĩa của mệnh đề cuối trong câu này được Knox làm rõ: ‘Họ sẽ chú ý đến lời các ngươi như lời ta; nghĩa là, chẳng chú ý gì cả’.” (Tasker)

2. (21-25) Thế gian có thể từ chối các môn đồ vì Chúa Giê-su là ai.

a.21Nhưng vì danh ta họ sẽ lấy mọi điều đó đãi các ngươi, bởi họ không biết Đấng đã sai ta đến: Nếu con người không biết Đức Chúa Trời như Ngài thật sự là ai, họ thường tấn công và bắt bớ những người đại diện cho Đức Chúa Trời theo một cách nào đó. Điều này nên khiến những người bị bắt bớ cảm thông với những kẻ bắt bớ họ.

i.“Con người có thể thích hình thành một ý niệm về Cha toàn năng của họ, nhưng ý niệm đó sẽ mang màu sắc riêng của họ và màu sắc của thời đại họ đang sống. Ý niệm chân thực duy nhất về Ngài phải được tìm thấy từ Con Thiên Chúa.” (Trench)

b.22-24 22Nếu ta không đến và không phán dạy họ, thì họ chẳng có tội lỗi gì; song bây giờ họ không có thể chữa chối được tội lỗi mình. 23 Kẻ nào ghét ta cũng ghét Cha ta nữa. 24 Ví thử ta không làm giữa họ những việc mà chưa có người khác làm, thì họ vô tội, nhưng bây giờ họ đã thấy các việc ấy, và lại ghét ta cùng Cha ta: Bởi vì Chúa Giê-su đã đến và nói chuyện với thế gian, họ đã biết được những điều về Đức Chúa Trời mà trước đây họ chưa từng biết. Điều này khiến họ không còn cớ gì để ghét bỏ và chối bỏ Chúa Giê-su và Cha Ngài trên trời. Chúa Giê-su đã làm những việc mà không ai khác làm được giữa họ, vậy mà họ vẫn ghét bỏ và chối bỏ Ngài.

i. Nói với họ… và làm những việc giữa họ : “Bằng cả cuộc đời và lời nói của mình, ông quở trách và lên án tội lỗi của con người. Ông vạch trần sự tha hóa và đạo đức giả bên trong của con người, và họ phản ứng dữ dội trước sự phơi bày đó.” (Tenney)

ii. Nói với họ… làm giữa họ những việc : “Vậy thì Ngài bày tỏ cho chúng ta hai hình thức biểu hiện bản chất thần thánh của Ngài, bằng lời nói và bằng việc làm. Trong hai hình thức này, Ngài đặt lời nói lên hàng đầu, vì đó là sự mặc khải sâu sắc hơn, quý giá hơn và rực rỡ hơn về bản chất của Thiên Chúa so với các phép lạ của Ngài.” (Maclaren)

c.25Dường ấy, để cho ứng nghiệm lời đã chép trong luật pháp họ rằng: Họ ghét ta vô cớ: Chúa Giê-su trích dẫn câu này từ Thi Thiên 69:4 (và có thể cả Thi Thiên 35:19) để cho thấy tiền lệ Kinh Thánh và sự ứng nghiệm lời tiên tri rằng thế gian không có lý do chính đáng nào để ghét Chúa Giê-su và Cha Ngài như vậy.

i.“Sự thù ghét vô lý của họ đối với cả Ngài và Cha Ngài là điều không thể giải thích được, ngoại trừ việc nó chứng thực cho sự thật trong lời của người viết Thi thiên: Họ ghét tôi vô cớ (Thi thiên 35:19 ; 69:4 ).” (Tasker)

ii. “Sự trớ trêu trong câu nói của ông ấy rất rõ ràng: những người tự xưng là người bảo vệ Luật pháp lại đang ứng nghiệm lời tiên tri về kẻ thù của tôi tớ Chúa.” (Tenney)

iii. Vì các môn đồ của Chúa Giê-su mong đợi một mức độ thù ghét và từ chối nhất định từ thế gian, họ nên sống sao cho thế gian ghét họ mà không có lý do. Phi-e-rơ đã bày tỏ một phần tấm lòng này trong thư của mình: 14 Ví bằng anh em vì cớ danh Đấng Christ chịu sỉ nhục, thì anh em có phước; vì sự vinh hiển và Thánh Linh của Đức Chúa Trời đậu trên anh em. 15 Trong anh em chớ có ai chịu khổ như kẻ giết người, như kẻ trộm cướp, như kẻ hung ác, như kẻ thày lay việc người khác. 16 Nhưng nếu có ai vì làm tín đồ Đấng Christ mà chịu khổ, thì đừng hổ thẹn; thà hãy vì danh ấy ngợi khen Đức Chúa Trời là hơn. (1 Phi-e-rơ 4:14-16)

3.(26-27) Lời chứng của Đức Thánh Linh và các môn đệ.

a.26Khi nào Đấng Yên-ủi sẽ đến, là Đấng ta sẽ bởi Cha sai xuống: Trước đây Chúa Giê-su đã nói về việc sai Đấng An Ủi đến (Giăng 14:16, 14:26). Chúa Giê-su khi ra đi biết rằng các môn đồ sẽ cần sự hiện diện và quyền năng của Đức Thánh Linh để đối mặt với sự chống đối mà thế gian sẽ mang đến.

i.Đấng đến từ Cha: Câu hỏi này là một trong những nguồn gốc của cuộc tranh luận lịch sử giữa hai nhánh Kitô giáo Đông và Tây, bàn luận xem Chúa Thánh Linh xuất phát từ Chúa Cha hay từ cả Chúa Cha và Chúa Con.

ii.“Mặc dù sự giáng lâm của Đấng Bảo Trợ được nêu rõ là phụ thuộc vào sáng kiến của Con, nhưng Ngài chỉ được nói là ‘xuất phát’ từ Cha. Do đó, đã có cuộc tranh luận kéo dài giữa Đông và Tây về điều khoản filoque trong Kinh Tin Kính Nicea.” (Tasker)

iii.“Việc mở rộng ý nghĩa của điều khoản ‘Đấng đến từ Cha và Con’ (filioque – và Con) ở phương Tây có thể được biện minh bởi thực tế rằng cả Con lẫn Cha đều được cho là sai phái Thánh Linh; sự phản đối cơ bản đối với điều đó là việc một bộ phận của Giáo hội tự ý thay đổi cách diễn đạt của tín điều đại kết mà không tham khảo ý kiến của phần còn lại của Giáo hội là không chính đáng.” (Bruce)

b.26btức là Thần lẽ thật ra từ Cha, ấy chính Ngài sẽ làm chứng về ta: Chúa Giê-su đã nói với họ rằng Đấng An Ủi, tức là Đức Thánh Linh, sẽ tiếp tục công việc dạy dỗ của Chúa Giê-su (Giăng 14:26). Ở đây, Ngài giải thích rằng Đấng An Ủi sẽ nói về Chúa Giê-xu và những điều liên quan đến Ngài.

i.Mọi việc Đức Thánh Linh làm đều phù hợp với lời chứng về bản chất của Chúa Giê-su. Nhiệm vụ của Ngài là cho chúng ta biết và chỉ cho chúng ta thấy Chúa Giê-su là ai. Nếu những điều thuộc linh xảy ra không phù hợp với bản chất của Chúa Giê-su, thì đó không phải là do Đức Thánh Linh làm. Chính Ngài là Đấng sẽ làm chứng về Chúa Giê-su trong mọi việc Ngài làm.

c.27Còn các ngươi cũng sẽ làm chứng về ta: Các môn đồ không bị bỏ lại trong thế gian chỉ để chịu đựng sự thù ghét của thế gian. Được Đấng An Ủi và lời chứng của Ngài về Chúa Giê-su ban sức mạnh, họ sẽ làm chứng về Chúa Giê-su là ai và những gì Ngài đã làm để cứu chuộc thế giới.

i.“Lời chứng của Đấng bào chữa và lời chứng của các sứ đồ thực chất là một lời chứng duy nhất.” (Tasker)

ii.“Lời chứng của họ gắn liền với lời chứng của Chúa Thánh Linh. Chính Đấng Christ là Đấng mà họ làm chứng, và chính ơn cứu độ mà họ làm chứng. Đồng thời, đó cũng là lời chứng của chính họ. Họ không thể chỉ đơn giản là thư giãn và để mọi việc cho Thánh Linh.” (Morris)

iii.Việc làm chứng này có thể có ứng dụng đặc biệt đối với các sứ đồ. “Câu này ám chỉ đến bằng chứng lịch sử mà Đức Thánh Linh đã ban cho họ qua các tôi tớ và những người chứng kiến ​​lời Chúa (Lu-ca 1:2). Điều này tạo nên khía cạnh con người trong lời chứng vĩ đại về Thần Lẽ Thật, và đó chính là bản tóm tắt của những Phúc Âm được soi dẫn của chúng ta: khía cạnh thiêng liêng là lời chứng hiện hữu của Ngài trong đời sống và tấm lòng của mỗi tín đồ trong mọi thời đại.” (Alford)

d.27bvì các ngươi đã ở cùng ta từ lúc ban đầu vậy: Các môn đồ đủ tư cách làm chứng về Chúa Giê-su vì họ tin cậy Ngài, có Đức Thánh Linh, và đơn giản là đã ở cùng Chúa Giê-su – họ là một phần trong đời sống của Ngài và Ngài là một phần trong đời sống của họ.

©1996–present The Enduring Word Bible Commentary by David Guzik

https://enduringword.com/bible-commentary/john-15/