*Ghi chú: Khi kể chuyện về người con trai út, Chúa Jesus chỉ kể anh ấy ăn chơi phóng đãng, phung phí tài sản mình. Lời nói của người anh trai là người em phúng phí hết tài sản của cha với gái mại dâm từ người anh trai mà thôi và anh nói trong lúc đang giận giữ. Vì vậy tôi về sau đã bỏ đi lời đấy trong bài làm chứng ra. Một anh em Chúa đã dẫn tôi đến sự thật đó.
Các anh chị em được Chúa yêu thương! Tôi hôm nay muốn làm chứng với các anh chị em về những điều Chúa đã dạy tôi trong những ngày qua. Đây là một bài học cá nhân đối với tôi. Một số gợi ý tôi đã lấy từ cuốn sách „Verloren – gefunden“ của mục sư Wilhelm Busch (Những gợi ý tôi học được qua cuốn sách là những bài học riêng cho tôi vì chính tôi có những thiếu sót trong tâm linh đó)
Những đứa con lạc mất của Chúa
Vì không vâng lời người đầu tiên Chúa tạo ra, A-đam đã chốn và tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời (Sáng Thế 3:8). Con trai đầu của A-đam là Ca-in cũng phạm tội và lui ra khỏi sự hiện diện của Đức Giê-hô-va (Sáng Thế 4:16). Con người sau A-đam bao gồm cả chúng ta, vẫn tiếp tục phạm tội (Rô-ma 5:12) và xa rời Đức Chúa Trời (Ê-sai 59:2). Vì sự không vâng lời, trái tim chúng ta trở nên lừa dối và đầy ác tâm (Giê-rê-mi 17:9), tàn ác (Châm Ngôn 12:10), tự cao, kiêu ngạo (Châm Ngôn 18:12; Áp-đia 1:3), phân hai (Ô-sê 10:2) và vô ơn với Đức Chúa Trời (Rô-ma 1:21). Trái tim chúng tìm kiếm sự hủy diệt (Châm ngôn 24:2), nung nấu điều ác (Châm ngôn 6:18) và những kế hoạch không cứu rỗi (Giê-rê-mi 4:14), và đã chai cứng (Mác 6:52).
Đức Giê-hô-va nhìn vào trong lòng (1.Sa-mu-ên 16:7), nhưng mắt Chúa quá thánh sạch chẳng thể nhìn điều ác (Ha-ba-cúc 1:13). Ngài đã không tiếc hình phạt chính Con mình, khi Chúa Giê-su nhận tất cả tội lỗi chúng ta trên mình trên thập tự giá (Rô-ma 8:32). Con người tội lỗi sẽ chịu hình phạt hủy diệt đời đời, phân cách khỏi sự hiện diện của Chúa và vinh quang của quyền năng Ngài (2. Tê-sa-lô-ni-ca 1:9). Vì Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân đã phán: Tội ác ngươi sẽ trừng phạt ngươi, sự bội bạc của ngươi sẽ cáo trách ngươi. Hãy nhận biết và thấy rõ sự xấu xa và cay đắng khi lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và không có lòng kính sợ Ta (Giê-rê-mi 2:19).
Làm sao con người phạm tội có thể qua trở về với Đức Chúa Trời? Chúng ta cùng nhau đọc câu chuyện quen thuộc trong Lu-ca 15.
Người con trai lạc mất (con út)
Bước đầu tiên trở về với Đức Chúa Trời là sự ăn năn, vì Chúa Jesus đã nhấn mạnh điều này ba lần:
- Các ngươi hãy ăn năn, vì vương quốc thiên đàng đã đến gần (Ma-thi-ơ 4:17)
- Giờ đã trọn, vương quốc Đức Chúa Trời đã đến gần, các ngươi hãy ăn năn và tin nhận Tin Lành! (Mác 1:15)
- Nếu các ngươi chẳng ăn năn thì tất cả sẽ bị hư mất như vậy! (Lu-ca 13:3)
Ăn năn, trong tiếng Hy Lạp là metanoia, có nghĩa là thay đổi tư tưởng, suy nghĩ lại, quay đầu nội tâm, trở về với Đức Chúa Trời từ tận đáy lòng. Trong câu chuyện, chúng ta đọc về người con trai út: “Bấy giờ nó mới tỉnh ngộ, tự nhủ: … Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha và thưa với cha: Cha ơi, con đã phạm tội với trời và với cha, không xứng đáng gọi là con của cha nữa”“. Người con trai út tình ngộ, vì Thánh Linh đã kéo anh ta (Giăng 6:44, 65). Trái tim chai cứng không thể tự đến với Đức Chúa Trời, vì nó không còn nhận biết Ngài, không hiểu Ngài nữa và trở nên xa lạ với sự sống của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 4:18).
Người con trai lạc mất không đổ lỗi cho người khác, như A-đam và Ê-va đã làm (Sáng Thế 3). Người không bao biện theo kiểu “Ai cũng phạm lỗi”, mà tự nhận tội cá nhân: „Cha ơi, con đã phạm tội với trời và với cha“. Chúng ta cũng thấy nhiều lời xưng tội cá nhân khác trong Kinh Thánh:
- Si-môn Phi-e-rơ quỳ xuống ngang đầu gối Đức Chúa Jêsus và thưa: “Lạy Chúa, xin lìa khỏi con, vì con là người có tội (Lu-ca 5:8)
- Ông Phao-lơ viết: Vì tôi biết rằng điều thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Tôi có ý muốn làm điều thiện, nhưng tôi không có khả năng để làm. 19Vì tôi không làm điều thiện mình muốn, mà lại làm điều ác mình không muốn (Rô-ma 7:18-19)
- Đa-vít đã nhiều lần xưng tội của mình trước Đức Chúa Trời
- Đức Chúa Trời ôi! Xin thương xót con theo lòng nhân từ của Chúa; Xin xóa các sự vi phạm con theo đức bác ái của Chúa. Xin rửa sạch hết mọi gian ác và thanh tẩy tội lỗi con. Vì con nhận biết các sự vi phạm con, và tội lỗi con hằng ở trước mặt con. Con đã phạm tội với Chúa, chỉ với một mình Chúa thôi và làm điều ác dưới mắt Chúa. Để Chúa bày tỏ đức công chính khi Ngài tuyên phán và sự thanh sạch khi Ngài phán xét (Thi-Thiên 51:1-4)
- Ta đã phạm tội với Đức Giê-hô-va! (2.Sa-mu-ên 12:13)
- Đa-vít thưa với Đức Giê-hô-va: “Con đã phạm tội rất nặng trong điều con đã làm. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va ôi! Xin cất đi tội lỗi của đầy tớ Ngài đã phạm, vì con đã hành động rất ngu xuẩn.” (2.Sa-mu-ên 24:10)
Chúng ta nên ăn năn bao nhiêu lần? Mỗi lần khi chúng ta phạm tội – như Đa-vít đã làm. Vì nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là thành tín, công chính sẽ tha tội cho chúng ta và tẩy sạch chúng ta khỏi mọi điều bất chính (1. Giăng 1:9).
Nhưng người con trai út đã phạm những tội gì? Thứ nhất: Vô ơn và thiếu tôn trọng. Cha đã ban cho anh cuộc sống và chăm sóc anh đến khi trưởng thành. Cha đã gánh chịu bao nhiêu gánh nặng cho anh! Thế nhưng, người cha không nhận được lời cảm ơn nào. Thay vào đó, người con trai út nói: Thưa cha, xin chia cho con phần tài sản thuộc về con (Lu-ca 15:11). Thứ hai: Cuộc sống sa đoạ, đầy tội lỗi. Anh đã phung phí tài sản của cha bằng một cuộc sống buông thả (Lu-ca 15:13). Thứ ba: Ích kỷ và tự cao. Anh đi đến một xứ xa xôi (Lu-ca 15:13) để thỏa mãn dục vọng của riêng mình, xa tầm mắt của cha. Trong khi làm vậy, anh bỏ qua nỗi đau mà mình gây ra cho cha.
Bước thứ hai trở về với Đức Chúa Trời là sự hoán cải. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ ban cho chúng tấm lòng nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va. Chúng sẽ làm dân Ta và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của chúng, vì chúng sẽ hết lòng trở về với Ta (Giê-rê-mi 24:7). Chúng ta đọc tiếp trong Lu-ca 15 „20 Nó liền đứng dậy, trở về với cha mình. Nhưng khi còn ở đàng xa, người cha thấy nó thì động lòng thương xót, chạy ra ôm lấy cổ nó mà hôn. 21Người con thưa với cha: ‘Cha ơi, con đã phạm tội với trời và với cha, chẳng còn xứng đáng gọi là con của cha nữa“.
Người con trai lạc mất đã đứng dậy và đi trở về cha mình. Điều quan trọng là không chỉ dự định trong lòng – mà còn phải hành động vì Chúa Giê-su phán „Nếu các con biết những điều nầy và làm theo thì được phước“ (Giăng 13:17). Đúng vậy, bước đi trở về thật sự không phải là bước dễ dàng. Bước đi này đòi hỏi người con phải từ bỏ kiêu căng và sự tự cao, vượt qua những trở ngại về thể chất lẫn tinh thần, và sống kỷ luật. (Kiêu căng ám chỉ quan điểm của chúng ta về chính mình, còn tự cao ám chỉ cách chúng ta muốn người khác nhìn nhận về mình). Vì như Đa-vit đã nói: „Ta không muốn dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ta những tế lễ thiêu mà không mất tiền mua (tiếng Đức: mất gì cả)“ (2.Sa-mu-ên 24:24). Sự hoán cải của một tâm hồn tan vỡ và một trái tim tan nát là sự hy sinh làm đẹp lòng Đức Chúa Trời (Thi-Thiên 51:19). Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ân điển cho người khiêm nhường (Gia-cơ 4:6).
Giờ đây tôi nhận ra rằng có biết bao người – vận động viên, nghệ sĩ và những người khác – theo đuổi những mục tiêu phù du của họ bằng sự tham vọng, kỷ luật và kiên trì. Còn tôi, một người được gọi là Cơ Đốc nhân, lại theo đuổi mục tiêu vĩnh cửu – nhận lấy vương miện sự sống (Gia-cơ 1:12) – nhưng chỉ với một tấm lòng không nóng không lạnh (Khải Huyền 3:15). „Ta không muốn dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ta những tế lễ thiêu mà không mất tiền mua (tiếng Đức: mất gì cả) (2.Sa-mu-ên 24:24) Tôi tự hỏi mình: Món lễ nào mà tôi dâng cho Đức Chúa Trời đến nay thực sự khiến tôi phải hy sinh?
Người con trai lạc mất không nhận được sự giúp đỡ từ con người, dù đang cận kề cái chết vì đói – không ai cho anh ta ăn thức ăn của lợn (Lu-ca 15:16). Chúa Jesus đã từng tiên báo rằng tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội dần (Ma-thi-ơ 24:12). Điều này cũng thể hiện trong trường hợp này: ngay cả thức ăn của lợn, con người cũng không được phép ăn. Một mạng người có giá trị hơn mạng sống của loài vật phải không? Nhưng cảm tạ Cha, ơn lành, lòng tốt và lòng thương xót mà người con trai đã từng trải nghiệm vẫn còn trong lòng anh – “ biết bao nhiêu người làm mướn cho cha ta được ăn bánh dư dật” (Lu-ca 15:17).
Anh ta có quyền gì để trở về và đòi hỏi điều gì không? Không. Chính anh cũng biết điều đó, vì câu mà anh định nói: „..Xin Cha cho con là người làm thuê của cha! (Lu-ca 15:19) anh đã không nói ra. Tội lỗi được tha thứ cho anh là món quà lớn nhất mà anh có thể ước ao, và anh không cần gì hơn nữa. Câu nói “Con không còn xứng đáng được gọi là con của cha nữa” cho thấy rằng vì tội lỗi của mình, anh không có gì để tự hào hay trình ra trước mặt cha, và anh hoàn toàn cần đến sự tha thứ của cha.
Tiếp theo, chúng ta đọc về ơn lành, lòng tốt và lòng thương xót mà người con trai lạc mất nhận được từ cha, sau khi anh ăn năn và hoán cải. Anh được cha tiếp nhận bằng tình yêu thương và sự trìu mến, vượt quá mọi mong đợi. Anh nhận được nhiều hơn cả sự tha thứ cho tội lỗi của mình – tất cả đều miễn phí, không phải vì anh xứng đáng:
- Chiếc áo choàng công nghĩa (Ê-sai 61:10)
- Chiếc nhẫn làm dấu hiệu của giao ước mới và quyền làm con
- Đôi giày, biểu tượng sự bảo vệ của cha trên con đường đời
Dưới sự che chở của cha, bàn chân của người con sẽ không va vào đá (Thi-Thiên 91:12) và không bị sưng tấy hay tổn thương (Phục Truyền 8:4).
Người con trai lạc mất (con đầu)
Câu chuyện tiếp tục kể về người con trai trưởng. Hành vi của anh ban đầu có vẻ dễ hiểu đối với tôi, vì tôi có lẽ cũng sẽ hành xử như vậy. Nhưng Chúa đã cho tôi thấy rằng tôi, giống như người con trai trưởng, đã sai và cũng cần sự tha thứ. Người con trai trưởng đã phạm những tội gì? Mặc dù gần gũi với cha, anh vẫn không nhận ra cha mình. Anh không hiểu lời nói và ý muốn của cha, vì trái tim anh xa cách cha (Ê-sai 29:13).
Là con trưởng, anh mang trách nhiệm đối với gia đình và trước mặt Đức Chúa Trời. Người con trai trưởng không quan tâm đến người em trai khi em rời khỏi nhà cha. Anh cũng không cảnh cáo hay can thiệp hay cầu nguyện thay cho em. Anh cũng không giúp đỡ khi người em gần như sắp chết đói. Có phải đây cũng là thái độ giống như Ca-in khi Đức Chúa Trời hỏi: “Em ngươi A-bên ở đâu?” “Tôi không biết! Tôi có phải là người giữ em tôi không?” (Sáng Thế 4:9) Kinh Thánh cũng nói: “Nhưng nếu ai không lo lắng cho những người trong nhà mình, nhất là cho những người thân trong gia đình, thì đã chối bỏ đức tin và còn tệ hơn kẻ không tin.” (1 Ti-mô-thê 5:8). Chúa Jesus đã làm gì trước khi Ngài chịu chết? Ngài cầu nguyện cho các môn đồ của Ngài (Giăng 17). Và khi Ngài chịu treo trên thập tự, Ngài, là Con trưởng, đã lo cho việc chăm sóc mẹ của Ngài (Giăng 19:26-27).
Khi người em trai trở về, người con trai trưởng không hay biết gì, vì anh đang làm việc trên đồng. Anh không biết chuyện gì đang xảy ra trong nhà và phải hỏi một người đầy tớ. Nhưng tại sao người con trai trưởng lại làm việc trên đồng, trong khi cha đã có những người làm công ngày? Có phải trong lòng anh đã trốn tránh trách nhiệm và chỉ bận tâm đến những việc do chính mình chọn lựa? Điều này làm tôi nhớ đến câu chuyện về Ma-thê và Ma-ri, cùng lời Chúa Jesus: „Hỡi Ma-thê, Ma-thê, con lo lắng và bối rối về nhiều việc; nhưng chỉ có một việc cần mà thôi. Ma-ri đã chọn phần tốt, là phần sẽ không ai đoạt lấy của nàng được“ (Lu-ca 10:41-42). Phần tốt là Ma-ri ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe lời Ngài (Lu-ca 10:39), để giữ lời Đức Chúa Trời trong lòng, suy ngẫm và hiểu biết (Thi-thiên 1:2; Lu-ca 2:19).
Khi người em trai trở về, người con trai trưởng không vui mừng mà anh ta lại giận dữ. Anh không hiểu niềm vui lớn lao nơi thiên đàng và trước mặt các thiên sứ của Đức Chúa Trời, khi một người tội lỗi ăn năn (Lu-ca 15:7,10). Thay vào đó, anh chỉ nghĩ đến bản thân, đến những điều trần tục, và để cơn giận cùng lòng ghen tị chiếm lấy trái tim mình. Anh không nhận ra tội lỗi của chính mình cũng như ân điển mà cha đã ban cho người em, vì anh tự cho mình là công chính. Trong khi cả nhà vui mừng và ăn mừng, anh gây cớ vấp ngã cho người khác vì sự tự mãn của mình. Chúa Jesus kể câu chuyện này cũng để chỉ ra thái độ của các Pha-ri-siêu và kinh sư, những người thường than phiền và vấp phạm với Chúa: “Người này tiếp nhận người tội lỗi và ăn uống với họ!” (Lu-ca 15:2) “Ngài đã vào nhà người tội lỗi để ở lại!” (Lu-ca 19:7) v.v.
Mặc dù người cha chỉ nói rằng người con trai út đã lạc mất, nhưng người con trai trưởng cũng lạc mất về mặt tâm linh và cần phải ăn năn và hoán cải như người em. Như người con trai út, trong câu chuyện chúng ta không thấy lòng biết ơn nơi anh. Khác với người em, người con trai trưởng trong cơn giận thậm chí không nói ra từ “Cha” trong cuộc trò chuyện (trong KT tiếng Đức). Tuy nhiên, cha vẫn đối diện với anh bằng ân điển, lòng tốt và thương xót. Giống như với người con trai út, cha đã đi bước đầu tiên đến anh. Ngài nhắc anh về những kỷ niệm chung, về quyền làm con, và đưa anh trở lại ánh sáng: Con luôn ở cùng ta, và mọi sự của ta là của con (Lu-ca 15:31). Trên hết, cha nhắc anh về niềm vui vĩnh cửu – cùng với cha, cùng với em trai và cùng với những người xung quanh.
Có niềm vui nào lớn hơn rằng Chúa Jesus đã tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta?! (1 Giăng 1:7). Có niềm vui nào lớn hơn rằng Đức Chúa Trời toàn năng, Đấng sáng tạo trời đất, đã làm chúng ta được hòa giải với Ngài qua Chúa Jesus Christ?! (2 Cô-rinh-tô 5:18). Có niềm vui nào lớn hơn rằng tên chúng ta được ghi trên trời (Lu-ca 10:20) và chúng ta được làm con Đức Chúa Trời qua đức tin nơi Chúa Jesus Christ?! (Ga-la-ti 3:26). Có niềm vui nào lớn hơn rằng chúng ta được tham dự vào tiệc cưới thiên quốc của Chiên Con?! (Khải Huyền 19:7)
Những đứa con lạc mất của Chúa
Người tội lỗi làm sao có thể trở về cùng Đức Chúa Trời?
Chúa Jesus đã kể câu chuyện này, và Ngài chính là người cha trong câu chuyện. Ngài đã tạo dựng mọi sự; không có Ngài, không có gì được tạo nên (Giăng 1:3). Chúa Jesus đã sáng tạo con người theo ý muốn của Đức Chúa Trời, theo hình ảnh của Ngài, theo hình ảnh của Đức Chúa Trời Ngài tạo nên họ (Sáng Thế 1:27). Nhưng Đức Giê-hô-va từ trên trời nhìn xuống con cái loài người để xem có ai khôn ngoan, tìm kiếm Đức Chúa Trời chăng. Tất cả đều lầm lạc, cùng nhau trở nên đồi bại; chẳng có ai làm điều lành, dẫu một người cũng không (Thi-Thiên 14:2-3). Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời (Giăng 3:16). Chúa Jesus đã mang trên thập tự tất cả tội lỗi của thế gian, kể cả cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời vì tội lỗi, và Ngài đã chết vì chúng ta. Ai tin vào Chúa Jesus sẽ không phải gánh chịu hình phạt cho tội lỗi của mình trước tòa án của Đức Chúa Trời (Giăng 3:18; 5:24; Rô-ma 5:9; 2 Cô-rinh-tô 5:21), vì Chúa Jesus, Đấng Biện Hộ của chúng ta, đã hoàn tất mọi việc (Hê-bơ-rơ 10:14; 1 Giăng 2:1). Chúa Jesus đã chết vì chúng ta, nhưng Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã làm Ngài sống lại, vì Ngài là Chúa và là Con của Đức Chúa Trời. Ai tin vào Chúa Jesus cũng sẽ được sống lại và sống đời đời với Ngài (Giăng 11:25-26; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:14,16-17; 1 Cô-rinh-tô 15:22).
Vì nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều nầy không đến từ anh em mà là tặng phẩm của Đức Chúa Trời; (Ê-phê-sô 2:8-9). Chúa Jesus, Con của Đức Chúa Trời hằng sống toàn năng, đã hạ mình và tìm kiếm chúng ta. Ân điển của Ngài đã được bày tỏ cho chúng ta, và Ngài kiên nhẫn chờ đợi, cảnh giác như người cha trong câu chuyện, mong đợi sự trở về của những đứa con lạc mất.
Chúa Jesus nói: Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến với Ta, Ta sẽ cho các ngươi được an nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; hãy gánh lấy ách của Ta và học theo Ta thì linh hồn các ngươi sẽ được an nghỉ. Vì ách Ta dễ chịu và gánh Ta nhẹ nhàng (Ma-thi-ơ 11:28-30). Ta là đường đi, chân lý và sự sống. Chẳng bởi Ta thì không ai được đến với Cha (Giăng 14:6)
Đức Thánh Linh phán: “Ngày nay (có nghĩa là bây giờ) nếu các ngươi nghe tiếng Ngài thì chớ cứng lòng (Hê-bơ-rơ 3:7-8).
Chúng ta có thấy chính mình trong câu chuyện về hai người con hoang đàng không? Có, tôi thấy mình trong cả hai người con lạc mất. Bản thân tôi, tôi chỉ có thể nói: Khốn cho tôi! Tôi chết mất! Khốn nạn cho tôi! Lạy Chúa, con tin; xin giúp con thoát khỏi sự vô tín của mình! Tôi tin chắc rằng Đấng đã bắt đầu làm việc lành trong tôi/ anh em sẽ làm trọn việc ấy cho đến ngày của Đấng Christ Jêsus. (Phi-líp 1:6). Chúa sẽ giải cứu tôi/ chúng ta khỏi mọi điều ác và đem tôi/ chúng ta vào vương quốc thiên đàng của Ngài. Cầu xin vinh quang thuộc về Ngài đời đời vô cùng! A-men (2. Ti-mô-thê 4:18)