Giăng 12 – GIỜ ĐÃ ĐẾN
A.Một bữa tối tại Bethany.
1.(1-2) La-xa-rơ ăn và Ma-thê phục vụ.
a.1Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Chúa Jêsus đến thành Bê-tha-ni, nơi La-xa-rơ ở, là người Ngài đã khiến sống lại từ kẻ chết: Giăng đã đưa ra một mốc thời gian, cho chúng ta biết rằng đây là tuần cuối cùng trước khi Chúa Giê-su chịu chết và được chôn cất. Gần một nửa Phúc Âm của Giăng dành cho tuần cuối cùng này. Ma-thi-ơ đã sử dụng hơn 33% Phúc Âm của mình để nói về tuần đó, Mác gần 40% và Lu-ca hơn 25% – tức là bảy ngày trong toàn bộ cuộc đời của Chúa Giê-su.
b.2Người ta đãi tiệc Ngài tại đó, và Ma-thê hầu hạ; La-xa-rơ là một người trong đám ngồi đồng bàn với Ngài: Chưa đầy một tuần trước khi bị đóng đinh, Chúa Giê-su đã tham dự một bữa tối ở Bê-tha-ni, có lẽ để mừng việc La-xa-rơ sống lại từ cõi chết. Với tất cả những gì Chúa Giê-su đang nghĩ đến, khi biết trước số phận của mình lúc đến Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt Qua, việc Ngài tham dự bữa tối này quả là điều đáng chú ý. Hầu hết mọi người sẽ không muốn giao tiếp xã hội.
i.“Ngài không muốn làm phiền lòng chủ nhà bằng thái độ xa cách, tự mãn tại bàn ăn. Lý do của bữa tiệc rõ ràng là việc Chúa Giê-su làm cho La-xa-rơ sống lại, như được gợi ý bởi việc ông được nhắc đến hai lần trong câu 1 và 2.” (Maclaren)
ii.Tại đó họ đã chiêu đãi Ngài: “Từ ‘vì thế’ (mà bản AV lược bỏ) chỉ lòng biết ơn đối với sự hồi phục của La-xa-rơ, điều mà gia đình đó thể hiện bằng cách mời Ngài dùng bữa tối.” (Trench)
c.Ma-thê phục vụ: Có vẻ như bữa tối này diễn ra tại nhà của Si-môn người mắc bệnh phong (Ma-thi-ơ 26:6 và Mác 14:3). Bạn bè của ông là Ma-thê, La-xa-rơ và Ma-ri cũng có mặt. Vì Ma-thê dường như là chủ nhà, một số người cho rằng Si-môn người mắc bệnh phong có quan hệ họ hàng với Ma-ri, Ma-thê và La-xa-rơ, hoặc thậm chí ông là chồng của Ma-thê. Nếu theo phong tục thông thường, bữa tối này dành cho những người đàn ông trong làng và Ma-thê cùng những người phụ nữ khác phục vụ.
i.Trong trí tưởng tượng của chúng ta, dễ dàng hình dung Ma-thê mang những món ăn ngon nhất đến cho Chúa Giê-su trước tiên, và liên tục mời Ngài ăn thêm. Bà rất biết ơn và hạnh phúc khi được phục vụ Chúa Giê-su. Sự phục vụ của bà được trân trọng và đánh giá cao.
ii.“Giăng không nói, như Mác và Ma-thi-ơ, rằng chủ nhà ở Bêtani là Si-môn người mắc bệnh phong. Trong câu chuyện ở Lu-ca chương 7, chủ nhà, Si-môn người Pha-ri-si, gần như chắc chắn là một Si-môn khác với người được nhắc đến trong Mác. Si-môn là một cái tên rất phổ biến trong người Giu-đa.” (Tasker)
iii.“Điểm khác biệt đáng kể duy nhất là các sách Phúc Âm Nhất Lãm dường như chỉ đặt lễ này hai ngày trước Lễ Vượt Qua (Ma-thi-ơ 26:2; Mác 14:1). Nhưng họ đưa lễ này vào trong ngoặc đơn để trình bày động cơ trực tiếp của hành động của Giu-đa, và do đó bỏ qua trình tự thời gian nghiêm ngặt.” (Dods)
2.(3) Ma-ri xức dầu lên chân Chúa Giêsu.
a.3Bấy giờ, Ma-ri lấy một cân dầu cam tùng hương thật, rất quí giá, xức chân Đức Chúa Jêsus, và lấy tóc mình mà lau: Giữa bữa ăn tối, Ma-ri đã dâng cho Chúa Giê-su một món quà đặc biệt. Việc rửa chân cho khách không phải là điều bất thường, nhưng việc làm điều đó ngay trong bữa ăn, lại dùng một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất rất quý giá (BD2020) để xức, và lau chân Ngài bằng tóc của mình (BD2020), dùng tóc như một chiếc khăn, thì lại là điều bất thường.
- Món quà của Ma-ri vô cùng khiêm nhường. Khi khách đến nhà, thường thì người ta sẽ rửa chân cho khách bằng nước và xoa một chút dầu thơm hoặc nước hoa lên đầu. Nhưng ở đây, Ma-ri đã dùng loại dầu thơm quý giá này để xức lên chân Chúa Giêsu. Bà cho rằng loại dầu thơm quý giá của mình chỉ xứng đáng được dùng cho đôi chân của Ngài. “Chăm sóc đôi chân là việc của người tôi tớ thấp hèn nhất. Vì vậy, hành động của Ma-ri thể hiện sự khiêm nhường sâu sắc cũng như lòng sùng kính lớn lao.” (Morris)
- Món quà của Ma-ri vô cùng lớn lao. Bà đã dùng rất nhiều một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất rất quý giá (BD2020). Hương liệu và dầu thơm thường được dùng như một khoản đầu tư vì chúng nhỏ gọn, dễ mang theo và dễ bán. Giuđa tin rằng loại dầu này trị giá ba trăm đơ-ni-ê (Giăng 12:5), tương đương với tiền lương cả năm của một người lao động.
- Món quà của Ma-ri thể hiện sự chân thành đáng kinh ngạc. Không chỉ tặng dầu thơm đắt tiền, bà còn lau chân Chúa bằng tóc của mình. Điều này có nghĩa là bà đã để lộ mái tóc của mình trước công chúng, điều mà một phụ nữ Giu-đa hiếm khi làm.
i.dầu cam tùng hương: “Cả Giăng và Mác đều mô tả nó bằng tính từ pistikos (Mác 14:3). Điều kỳ lạ là không ai thực sự biết từ đó có nghĩa là gì. Có bốn khả năng. Nó có thể xuất phát từ tính từ pistos có nghĩa là trung thành hoặc đáng tin cậy, và do đó có thể có nghĩa là chính hãng. Nó có thể xuất phát từ động từ pinein có nghĩa là uống, và do đó có thể có nghĩa là chất lỏng. Nó có thể là một loại thương hiệu, và có thể phải được dịch đơn giản là dầu cam tùng hương (nard pistic). Nó có thể xuất phát từ một từ có nghĩa là hạt dẻ cười, và là một loại tinh chất đặc biệt được chiết xuất từ nó. Trong bất kỳ trường hợp nào, đó cũng là một loại nước hoa đặc biệt có giá trị.” (Barclay)
ii.“Nó rất đắt tiền, nhưng giờ đây, vì có thể dùng cho Ngài, nó cũng chẳng đáng là bao. Có cả một cân, nhưng đối với Ngài vẫn không hề thừa. Nó rất ngọt, nhưng cũng không quá ngọt đối với Ngài” (Spurgeon)
iii.“Hành động này càng gây ấn tượng mạnh mẽ hơn vì một phụ nữ Giu-đa chưa bao giờ để tóc xõa nơi công cộng. Điều đó dường như bị coi là dấu hiệu của sự phóng đãng. Nhưng Ma-ri đã không tính toán với phản ứng của công chúng. Trái tim bà hướng về Chúa và bà đã bày tỏ phần nào cảm xúc của mình trong hành động đẹp đẽ và cảm động này.” (Morris)
iv.Trong tất cả những điều này, Ma-ri là một hình mẫu về lòng sùng kính đối với Chúa Giêsu. “Cuộc đời của Ma-ri được khắc họa cho chúng ta qua ba bức tranh đáng nhớ, trong mỗi bức tranh, bà đều ở dưới chân Chúa Giêsu.” (Erdman)
- Lu-ca 10:39 : Ma-ri ngồi dưới chân Chúa Giê-su và học hỏi.
- Giăng 11:32 : Ma-ri sấp mình dưới chân Chúa Giê-su và đầu phục Ngài.
- Giăng 12:3 : Ma-ri xức dầu chân Chúa Giê-su và tôn kính Chúa Giê-su.
v.“Bạn phải ngồi dưới chân Ngài, nếu không bạn sẽ không bao giờ xức dầu cho chân Ngài; Ngài phải truyền dạy lời dạy thiêng liêng của Ngài cho bạn, nếu không bạn sẽ không bao giờ xức dầu thơm quý giá lên Ngài.” (Spurgeon)
b.3bcả nhà thơm nức mùi dầu đó: Khứu giác giúp lưu giữ những ký ức lâu dài và John nhớ lại mùi hương dễ chịu mà tinh dầu của Ma-ri mang lại cho cả ngôi nhà.
3.(4-6) Giuđa phản đối món quà lớn của Ma-ri.
a.4Nhưng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, là một môn đồ về sau phản Ngài, nói rằng: Chẳng bao lâu sau, Giu-đa đã phản bội Chúa Giê-su. Sự phản bội của hắn càng trở nên tăm tối hơn khi so sánh với lòng sùng kính rạng rỡ của Ma-ri dành cho Chúa Giê-su. Giu-đa có lẽ đã phản đối món quà của Ma-ri vì hắn xấu hổ trước sự thể hiện tình yêu giản dị nhưng mạnh mẽ của Bà.
i.Đây là nơi duy nhất trong Tân Ước mà Giu-đa được nhắc đến là đã làm điều ác ngoài việc phản bội Chúa Giê-su, và ngay cả việc này cũng được thực hiện trong bí mật. Giu-đa đã che giấu thành công sự đen tối trong lòng mình khỏi mọi người ngoại trừ Chúa Giê-su. Vẻ bề ngoài thường đánh lừa. Nhiều người có một lớp vỏ bọc tôn giáo che giấu tội lỗi bí mật.
ii.“Ông ta sẵn sàng bán đứng Đấng Cứu Thế của mình. Và đó là một sự kết hợp công bằng: vì, như Austin nói, Giuđa đã bán đi sự cứu rỗi của mình, còn những người Pha-ri-si đã mua lấy sự diệt vong của họ” (Trapp)
b.5 Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đơ-ni-ê đặng bố thí cho kẻ nghèo? Đây là một cảnh tượng khó xử. Rồi Giu-đa phá vỡ sự im lặng ngượng ngùng bằng sự nhạy bén về giá trị tiền bạc của mình – nhưng lại không hề trân trọng những gì Chúa coi trọng. Ông ta cho rằng việc thể hiện tình yêu thương và lòng sùng kính đối với Chúa Giê-su là thái quá.
i.“Giuda, bị mù quáng bởi lợi ích cá nhân, đã chỉ trích hành động của bà, và do đó tự bộc lộ mình là người hoàn toàn trái ngược với chính tinh thần của Chúa.” (Morgan)
ii.Thái độ “Điều này chẳng phải là hơi quá đáng sao” của Giu-đa đã lan truyền. Ma-thi-ơ 26:8 cho thấy Giu-đa không phải là người duy nhất có ý kiến phản đối này. Những người khác dường như cũng cảm thấy Giu-đa nói có lý. “Sự bàng hoàng trước những gì họ đã thấy chắc hẳn đã gây ra một sự im lặng ngượng ngùng ngắn ngủi, rồi bị phá vỡ bởi một giọng nói thể hiện cảm xúc của nhiều người” (Bruce)
iii.Đôi khi lối suy nghĩ này bị bóp méo thành lời biện minh cho đủ loại xa hoa và phung phí, cho rằng không có gì là quá tốt đối với Chúa Giê-su – và trong sự bóp méo đó, là dành cho những người tự nhận là phục vụ Ngài. Chúng ta nhận thấy rằng điều này được thực hiện trực tiếp cho Chúa Giê-su, chứ không phải cho bất kỳ môn đệ nào. Chúng ta cũng nhận thấy rằng nó được đổ ra trong một hành động duy nhất, chứ không phải là một tác phẩm nghệ thuật nào đó có thể bán để giúp đỡ người nghèo hoặc mở rộng vương quốc của Chúa Giê-su.
c.6Người nói vậy, chẳng phải lo cho kẻ nghèo đâu, song vì người vốn là tay trộm cắp, và giữ túi bạc, trộm lấy của người ta để ở trong: Chúng ta có lý khi cho rằng lúc đó Giăng không biết Giu-đa là kẻ trộm ; điều này được giấu kín với các môn đồ. Tuy nhiên, chúng ta cũng có lý khi cho rằng Chúa Giê-su biết Giu-đa là kẻ trộm nhưng Ngài vẫn bổ nhiệm ông làm thủ quỹ.
i.Lu-ca 8:2-3 cho chúng ta biết rằng những người phụ nữ rộng lượng đã chu cấp một phần nhu cầu tài chính của Chúa Giê-su và các môn đồ Ngài. Số tiền đó được Giu-đa giữ và quản lý.
ii.“Khi một người đàn ông đã sa vào lòng tham ích kỷ đến mức bỏ lại sự trung thực thông thường phía sau, thì không có gì ngạc nhiên khi cảnh tượng của tình yêu hoàn toàn hy sinh bản thân (như của Ma-ri) trông như một sự điên rồ đối với anh ta” (Maclaren)
iii.“Từ Hy Lạp được dịch là ‘lấy ’ (bastazo) có nghĩa là cả ‘mang đi’ và ‘mang đi mất’. Giuđa đã làm cả hai!” (Tasker) “Việc ἐβάσταζεν có thể mang nghĩa ‘lấy đi’ hoặc ‘lấy đi mất’ là điều không thể bàn cãi.” (Dods)
iv.“Động từ ‘bare’ [take] ở thì quá khứ chưa hoàn thành, cho thấy ông ta thường xuyên lấy nó”, và thường xuyên lấy đi mất. (Trench)
Có lẽ chính lòng tham và sự bất mãn đã khiến ma quỷ cắm rễ trong cuộc đời Giu-đa. “Hãy cẩn thận với sự bất mãn. Chính tội lỗi của ma quỷ đã đuổi hắn ra khỏi thiên đường. Từ đó, linh hồn bất an này thích rình rập trong những vùng nước hỗn loạn.” (Trapp)
vi.Theo một số tài liệu về trình tự thời gian, Giu-đa đã ra đi vào ngày hôm sau và thỏa thuận với các lãnh đạo tôn giáo để phản bội Chúa Giê-su với giá 30 đồng bạc (Ma-thi-ơ 26:14-16, Mác 14:10-11). “Ấn tượng để lại là Giu-đa, khi thấy mất đi một nguồn làm giàu cá nhân, đã vội vàng tạo ra một nguồn khác.” (Morris)
4.(7-8) Chúa Giê-su bênh vực Ma-ri và giải thích những gì bà đã làm.
a.7Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy để mặc người: Nếu chúng ta hết lòng yêu mến Chúa Giêsu, Ngài sẽ không chỉ trích chúng ta; nhưng đó là điều Giuđa đã làm. Tốt hơn nhiều nếu chúng ta giống như Bà Ma-ri (hết lòng yêu mến Chúa Giêsu) hơn là giống như Giuđa (chỉ trích những người khác, khi họ thể hiện tình yêu lớn lao dành cho Chúa Giêsu).
b.7bngười đã để dành dầu thơm nầy cho ngày chôn xác ta. 8 Vì các ngươi thường có kẻ nghèo ở với mình, còn ta, các ngươi không có ta luôn luôn: Cũng như việc phản đối gay gắt chi phí tang lễ tại buổi lễ cho người quá cố là bất lịch sự, thì việc Giuđa hay bất cứ ai khác định giá tình yêu và lòng tận hiến của Ma-ri dành cho Chúa Giêsu khi Ngài còn sống cũng là điều không phù hợp.
i.“Chi phí bất thường tại một đám tang không bị coi là không phù hợp; tại sao lại có người phản đối nếu loại dầu thơm lẽ ra được dùng để xức lên thi thể người quá cố lại được đổ lên người ông ta khi ông ta vẫn còn sống và có thể cảm nhận được tình yêu thương đã thúc đẩy hành động đó?” (Bruce)
ii.Mác 14:9 chép rằng: “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin lành nầy được giảng ra, việc người đã làm cũng sẽ được nhắc lại để nhớ đến người.” “Tác giả Phúc Âm ghi lại lời hứa đó không nhắc đến tên của Ma-ri; Giăng, người có nhắc đến tên bà, lại không ghi lại lời hứa. Việc tên tuổi chúng ta có được ghi nhớ hay không, không quan trọng lắm, miễn là Chúa Giê-su mang tên chúng khắc sâu trong lòng Ngài.” (Maclaren)
iii.Những gì Giăng viết về mùi hương của dầu lan tỏa khắp ngôi nhà có thể là cách ông diễn đạt điều mà Mác 14:9 đã nói. “Có một câu nói của các rabbi: ‘Mùi hương của dầu tốt lan tỏa từ phòng ngủ đến phòng ăn, còn danh tiếng tốt lan tỏa từ đầu này đến đầu kia của thế giới.’” (Morris)
5.(9-11) Âm mưu giết cả Chúa Giêsu và La-xa-rơ.
a.9-11 9 Một bọn người Giu-đa nghe Đức Chúa Jêsus có tại đó, bèn đến, chẳng những vì Ngài thôi, lại cũng để xem La-xa-rơ, là người Ngài đã khiến từ kẻ chết sống lại. 10 Các thầy tế lễ cả bèn định giết luôn La-xa-rơ nữa: Những thầy tế lễ cả đều là người Sa-đu-sê, và người Sa-đu-sê không tin vào sự phục sinh. La-xa-rơ là một minh chứng sống về sự sống sau cái chết, và việc có ông ta ở bên cạnh là một điều gây khó xử cho hệ thống thần học của họ. Đối với họ, chỉ có một giải pháp cho vấn đề khó xử này – đó là giết luôn La-xa-rơ nữa.
i.“Đó là một sự điên rồ khủng khiếp đến mức nào, khi dám chống lại chính trời cao! Khi dám tìm cách giết một con người, chỉ vì Chúa đã ban cho người đó sự sống!” (Trapp) “Trong đề xuất quỷ quái này, sự cứng đầu của sự vô tín được thể hiện ở mức độ cực đoan nhất.” (Dods)
ii.“Khi con người ghét Chúa Giê-su, họ cũng ghét những người mà Ngài đã ban phước, và sẽ không từ bỏ bất kỳ phương tiện nào để tìm cách bịt miệng những lời chứng của họ.” (Spurgeon)
iii.“Những người này mù quáng đến mức không nhận ra rằng Đấng đã làm cho ông ta sống lại, sau khi ông ta đã chết bốn ngày, có thể làm cho ông ta sống lại lần nữa dù họ đã giết ông ta cả ngàn lần?” (Clarke)
b.11vì có nhiều người Giu-đa nhân cớ người mà chia rẽ họ và tin theo Đức Chúa Jêsus: Điều này làm cho vấn đề của các thầy tế lễ thượng phẩm trở nên trầm trọng hơn. Phép lạ hồi sinh La-xa-rơ đã thu hút nhiều người đến với Chúa Giê-su. Vì vậy, theo quan điểm của các nhà lãnh đạo tôn giáo này, La-xa-rơ cũng phải bị ngăn chặn.
i.Đã bỏ họ và tin theo Đức Chúa Jêsus: “Cụm từ ‘đã bỏ đi và tin tưởng vào Chúa Giê-su’ có thể là từ ngữ Semit, có nghĩa là ‘ngày càng tin tưởng vào Chúa Giê-su’.” (Bruce)
B.Cuộc khải hoàn tiến vào thành phố.
1.(12-16) Đám đông chào đón Chúa Giê-su như một vị Vua sắp đến.
a.12Qua ngày sau, có một đám dân đông đến đặng dự lễ, biết Đức Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem: Đây là đám đông lớn đến dự những ngày lễ trọng đại nhất của Giáo Giu-đa – đó là Lễ Vượt Qua. Nhiều người trong số họ đến từ xứ Ga-li-lê. Khi họ đến, họ mang theo những con chiên con. Luật Giu-đa quy định rằng con chiên dùng để tế lễ Vượt Qua phải ở với gia đình ít nhất ba ngày trước khi hiến tế (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:3-6). Khi Chúa Giê-su đến và đi vào Giê-ru-sa-lem, những con chiên dùng để tế lễ sẽ vây quanh Ngài và mọi người khác.
i.“Josephus, nhà sử học người Giu-đa, cho chúng ta biết rằng vào một năm nọ, người ta đã tiến hành điều tra dân số về số lượng chiên con bị giết thịt trong lễ Vượt Qua và con số đó là 256.500. Nói cách khác, với số lượng lớn như vậy, chiên con hẳn phải được lùa lên Giê-ru-sa-lem suốt cả ngày. Do đó, bất cứ khi nào Chúa Giê-su vào thành, Ngài chắc hẳn đã làm điều đó được bao quanh bởi những con chiên, chính Ngài là chiên con vĩ đại nhất.” (Boice)
b.13 bèn lấy những lá kè ra đón Ngài, và reo lên rằng: Nhiều người (một đám dân đông) tụ tập cho một sự kiện giống như cuộc diễu hành yêu nước. Cành cọ là biểu tượng của chủ nghĩa dân tộc Giu-đa từ thời Maccabees. Đám đông coi Chúa Giê-su như một vị cứu tinh về chính trị và quốc gia, nhưng không hẳn là một vị cứu tinh về mặt tâm linh.
i.“Họ chào đón Chúa Giê-su như một vị vua, mặc dù không hiểu rõ bản chất vương quyền của Ngài. Dường như họ coi Ngài như một nhà lãnh đạo dân tộc tiềm năng, người mà nhờ sự giúp đỡ của Ngài họ có thể hoàn toàn độc lập khỏi các thế lực ngoại xâm.” (Tasker)
ii.“Từ thời Maccabees, cây cọ hoặc cành cọ đã được sử dụng như một biểu tượng dân tộc. Cành cọ xuất hiện trong đám rước kỷ niệm việc tái cung hiến đền thờ vào năm 164 trước Công nguyên (2 Maccabees 10:7) và một lần nữa khi lễ giành được độc lập chính trị hoàn toàn được tổ chức dưới thời Simon vào năm 141 trước Công nguyên (1 Maccabees 13:51). Sau đó, cây cọ xuất hiện như biểu tượng quốc gia trên các đồng tiền, do những người nổi dậy ở Judea đúc trong các cuộc nổi dậy lần thứ nhất và thứ hai chống lại La Mã (66-70 và 132-135 sau Công nguyên).” (Bruce)
c.13bHô-sa-na! Chúc phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến, là Vua của Y-sơ-ra-ên! Đám đông lớn và nhiệt thành này đã chào đón Chúa Giê-su bằng những lời từ Thi Thiên 118:25-26, sách dành cho Đấng Mê-si. Tiếng hô Hosanna có nghĩa là “hãy cứu ngay bây giờ”, và trong ngày này, đám đông đã đón nhận Chúa Giê-su như một Đấng Mê-si khải hoàn.
d.14 Đức Chúa Jêsus gặp một con lừa con, bèn lên cỡi, y như lời chép rằng: Chúa Giê-su làm điều này vừa để hoàn thành lời tiên tri một cách có chủ ý (Xa-cha-ri 9:9), vừa để thể hiện bản chất của vương quốc Ngài. Đó là một vương quốc thuộc linh, chứ không phải một vương quốc quân sự. Ngài đến trong hòa bình, chứ không phải chiến tranh.
i.“Con lừa không phải là phương tiện di chuyển thông thường của một người gây chiến. Nó là con vật của người yêu chuộng hòa bình, một thầy tế lễ, một thương nhân hoặc những người tương tự. Nó cũng có thể được sử dụng bởi một người có địa vị cao nhưng chỉ trong những mục đích hòa bình. Một kẻ chinh phục sẽ cưỡi ngựa chiến vào thành phố, hoặc có thể dẫn đầu quân đội của mình tiến vào thành phố bằng cách đi bộ. Con lừa tượng trưng cho hòa bình.” (Morris)
ii.“Chúa Giê-xu không đến với tư cách là kẻ chinh phục mà là sứ giả hòa bình. Ngài cưỡi trên lưng một con lừa, không phải là ngựa của hoàng gia, mà là con vật của một người dân thường đang đi làm công việc” (Tenney)
e.15-16 15 Hỡi con gái thành Si-ôn, chớ sợ chi, nầy, Vua ngươi đến, cỡi trên lừa con của lừa cái. 16 Môn đồ trước vốn không hiểu điều đó; nhưng đến khi Đức Chúa Jêsus đã được vinh hiển, mới nhớ lại những sự đó đã chép về Ngài, và người ta đã làm thành cho Ngài: Điều này cho thấy, khi đám đông hô vang “Xin cứu ngay! ”, họ đã nghĩ đến sự cứu rỗi về chính trị khỏi ách áp bức của người La Mã. Tuy nhiên, người La Mã có lẽ cảm thấy họ chẳng có gì phải sợ hãi trước một vị vua tự xưng, người đến mà không có quân đội hay những biểu tượng quyền lực được công nhận.
i.“‘Con gái Siôn’ là hình tượng nhân cách hóa của thành Giê-ru-sa-lem; hình tượng này xuất hiện thường xuyên trong Cựu Ước, đặc biệt là trong các sách tiên tri sau này.” (Tenney)
2.(17-19) Đám đông kéo đến sau Chúa Giê-su, khiến các nhà lãnh đạo kinh ngạc.
a.17-78 17 Đoàn dân ở cùng Ngài, khi Ngài kêu La-xa-rơ ra khỏi mộ và khiến từ kẻ chết sống lại, đều làm chứng về Ngài. 18 Ấy cũng tại điều đó mà đoàn dân đi đón Ngài, vì có nghe rằng Ngài đã làm phép lạ ấy: Đám đông tôn thờ Chúa Giê-su vì họ tin rằng việc Ngài làm cho La-xa-rơ sống lại chứng tỏ rằng Chúa Giê-su có thể là Đấng Mê-si chiến thắng mà họ hằng mong đợi.
i.“Người nào có thể hồi sinh người chết chắc chắn sẽ có thể giải phóng thành phố thiêng khỏi ách thống trị của Caesar.” (Bruce)
b.19 Nhân đó, người Pha-ri-si nói với nhau rằng: Các ngươi thấy mình chẳng làm nổi chi hết; kìa, cả thiên hạ đều chạy theo người! Sự nổi tiếng của Chúa Giê-su đã làm phật lòng kẻ thù của Ngài. Nó khiến họ cảm thấy mình chẳng làm gì được cả (BHĐ) Chúng ta vui mừng khi thấy kẻ thù của Chúa Giê-su thất vọng.
i.“Dĩ nhiên là những người Pha-ri-si đã phóng đại, nhưng những lời ‘cả thế gian sẽ theo Ngài’ (Giăng 12:19), giống như lời của Cai-phe trong Giăng 11:50, đều mang tính tiên tri một cách vô thức.” (Tasker)
ii.“Họ lo ngại rằng một số người Giu-đa đang bị ảnh hưởng. Nhưng lời nói của họ thể hiện niềm tin của Giăng rằng Ngài đang chinh phục thế giới.” (Morris)
C.Thời khắc đã đến.
1.(20-23) Người Hy Lạp đến gặp Chúa Giê-su.
a.20Vả, trong đám đã lên đặng thờ lạy trong kỳ lễ, có mấy người Gờ-réc: Chúng ta không được biết về lai lịch của những người Hy Lạp này. Họ có thể là những người Hy Lạp cải đạo sang giáo Giu-đa. Họ cũng có thể là những người Hy Lạp kính sợ Chúa, những người rất tôn trọng Giáo Giu-đa nhưng không cải đạo và không chịu phép cắt bì. Hoặc đơn giản họ chỉ là những du khách Hy Lạp, nổi tiếng với tính hiếu kỳ.
i.“Chúng tôi đã nghe nhiều điều về Ngài ấy, và chúng tôi muốn được nhìn thấy người mà chúng ta đã nghe những điều kỳ lạ như vậy. Sự cứu rỗi cuối cùng của linh hồn thường bắt nguồn, dưới sự hướng dẫn của Chúa, từ một nguyên tắc của sự tò mò đơn giản. Nhiều người chỉ mong muốn được nhìn thấy hoặc nghe một người nói nhiều hơn về Chúa Giê-su, về các phép lạ và lòng thương xót của Ngài; và khi nghe, họ đã cảm nhận được quyền năng của thế giới tương lai, và đã trở thành những người thực sự tin vào lẽ thật của Phúc Âm.” (Clarke)
ii.“Trong dịp này, sự tò mò của người Hy Lạp về Chúa Giê-su có thể chỉ đơn giản là vì mọi người đều đang nói về Ngài. Nhưng cũng có thể có một lý do đặc biệt hơn. Giữa câu 19 và 20, một hoặc hai ngày đã trôi qua: Chúa Giê-su không còn trên đường đến Giê-ru-sa-lem nữa, mà đang giảng dạy hằng ngày trong khuôn viên đền thờ. Và trong thời gian đó, theo Mác 11:15-17, Ngài đã đuổi những người buôn bán và đổi tiền ra khỏi khuôn viên đền thờ — tức là, chính xác hơn, khỏi sân ngoài đền thờ — để nơi đó có thể hoàn thành mục đích được Chúa định sẵn là ‘nhà cầu nguyện cho muôn dân ‘ (Ê-sai 56:7). Liệu những người Hy Lạp này có nhận ra hành động này được thực hiện vì lợi ích của những người ngoại như họ, là những người ngoại, khi đến thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật, phải tự giới hạn mình ở sân ngoài đền thờ hay không?” (Bruce)
b.21-22 21 đến tìm Phi-líp, là người ở thành Bết-sai-đa, thuộc xứ Ga-li-lê, mà xin rằng: Thưa chúa, chúng tôi muốn ra mắt Đức Chúa Jêsus. 22 Phi-líp đi nói với Anh-rê; rồi Anh-rê với Phi-líp đến thưa cùng Đức Chúa Jêsus: Những người Hy Lạp này đã nghe nói về Chúa Giê-su, có lẽ về danh tiếng của Ngài như một người thầy và người làm phép lạ. Những gì họ biết về Chúa Giê-su khiến họ muốn biết thêm về Ngài, vì vậy họ đến gặp Phi-líp (người môn đồ duy nhất có tên Hy Lạp) để xin được gặp Chúa Giê-su.
i.“Những người Hy-lạp (phương Tây) này xuất hiện vào cuối cuộc đời Chúa Giê-su, đã trình bày cùng một nội dung như các nhà thông thái từ phương Đông vào đầu cuộc đời Ngài — nhưng họ đến với Thập tự giá của Vua, giống như những người đến nơi con trẻ nằm” (Stier, được trích dẫn trong Alford)
c.23Đức Chúa Jêsus bèn đáp rằng: Giờ đã đến, khi Con Người sẽ được vinh hiển: Ít nhất hai lần trước đó, Chúa Giê-su đã nói rằng thời điểm chưa sẵn sàng (Giăng 2:4, 7:6). Ngài coi sự quan tâm tìm kiếm này của dân ngoại như một dấu hiệu cho thấy Giờ Con Người được vinh hiển đã đến (BD2011).
i.“Trong Phúc Âm này, chúng ta thấy Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế của thế gian, và rõ ràng Giăng muốn chúng ta hiểu rằng sự tiếp xúc với người Hy Lạp đã mở ra đỉnh điểm… Chúa Giêsu coi đó là bằng chứng cho thấy sứ mệnh của Ngài đã đạt đến đỉnh điểm và giờ đây Ngài phải chết vì thế gian, kể cả người Hy Lạp.” (Morris)
ii.Việc giờ của Ngài chưa đến đã giúp Ngài thoát khỏi bạo lực trước đó (Giăng 7:30, 8:20). Giờ đây, khi giờ đã đến, đã đến lúc Chúa Giê-su phải thực hiện sự hy sinh cuối cùng.
iii.Chúa Giê-su thực sự không đáp lại những người ngoại đạo tìm kiếm đức tin này, nhưng Ngài sẽ làm điều đó ở phía bên kia thập tự giá. Nếu nhân loại muốn nhận được sự sống mới trong Con Đức Chúa Trời, thì Chúa Giê-su phải chết (được vinh hiển) trước đã.
d.23Giờ đã đến, khi Con Người sẽ được vinh hiển: Chúa Giê-su không có ý nói rằng Ngài sẽ được vinh hiển trong mắt loài người. Điều đó vừa xảy ra khi Ngài khải hoàn tiến vào thành. Sự vinh hiển mà Chúa Giê-su chỉ ra ở đây là sự vinh hiển trên thập tự giá. Điều mà thế gian chỉ có thể coi là sự sỉ nhục đáng hổ thẹn, Chúa Giê-su lại coi đó là sự vinh hiển.
i.Giờ đã đến: “Động từ ‘đã đến‘, ở thì hoàn thành, ‘giờ đã đến và sẽ ở lại với chúng ta’. Không thể quay ngược lại được nữa.” (Morris)
2.(24-26) Chúa Giê-su giải thích lý do tại sao Ngài sẵn lòng đối diện với cái chết.
a.24Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu hột giống lúa mì kia, chẳng chết sau khi gieo xuống đất, thì cứ ở một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết quả được nhiều: Cũng như một hạt giống sẽ không bao giờ trở thành cây nếu nó không chết đi và được chôn xuống, thì cái chết và sự chôn cất của Chúa Giê-su là cần thiết cho sự vinh hiển của Ngài. Trước khi có quyền năng phục sinh và sự sinh sôi nảy nở, phải có sự chết.
i.“Nguyên tắc được nêu trong câu 24 có phạm vi ứng dụng rộng; đặc biệt, nếu nó đúng với Chúa Giê-su, thì nó cũng phải đúng với những người theo Ngài.” (Bruce)
b.25Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất đi, ai ghét sự sống mình trong đời nầy thì sẽ giữ lại đến sự sống đời đời: Chúng ta được kêu gọi ghét sự sống mình, không phải theo nghĩa là coi thường nó, mà theo nghĩa là tự nguyện hiến dâng nó cho Chúa. Mạng sống của chúng ta rất quý giá, nhất là vì đó là điều chúng ta có thể dâng cho Chúa Giê-su.
i.Chúa Giê-su đã chỉ rõ ghét sự sống của chúng ta, khi Ngài nói rằng ai ghét sự sống mình trong đời nầy. Chúng ta phải coi nhẹ nhàng sự sống ở thế gian này, thay vào đó hãy nhìn nhận rằng chúng ta chỉ là những khách lạ và người lữ hành, có nhà ở trên trời chứ không phải dưới đất (Hê-bơ-rơ 11:13-16).
ii.“Người biết đặt ưu tiên đúng đắn có thái độ yêu mến những điều thuộc về Chúa đến nỗi so với điều đó, mọi sự tập trung đến những việc đời này đều trở nên đáng ghét.” (Morris)
c.26Nếu ai hầu việc ta, thì phải theo ta: Trở thành một Cơ Đốc nhân có nghĩa là phục vụ Chúa Giê-su, theo Ngài. Điều đó không có nghĩa là bạn ngừng làm việc, chăm sóc gia đình hoặc học tập ở trường. Điều đó có nghĩa là bạn làm tất cả những điều đó với tư cách là người phục vụ Chúa Giê-su, người theo Chúa Giê-su.
i.“Tất cả những ai muốn có Đấng Christ làm Đấng Cứu Thế, [các bạn] phải sẵn lòng hầu việc Ngài. Chúng ta không được cứu rỗi bởi sự hầu việc, nhưng chúng ta được cứu rỗi để phục vụ Ngài.” (Spurgeon)
ii.Phục vụ Ta: “phục vụ (Diakonos) đặc biệt là người hầu cận, tại bàn ăn hoặc ở nơi khác; đầy tớ (doulos) có thể phục vụ từ xa: do đó, từ diakonos rất phù hợp trong câu này. Chức vụ chấp sự (phó tế diakonos) có vẻ khiêm nhường và khó nhọc, nhưng được Cha coi trọng hoặc tôn vinh sẽ làm cho cuộc sống thêm trọn vẹn.” (Dods)
iii.Các môn đồ dễ dàng nghĩ rằng: “Chúa Giê-su sắp chịu đóng đinh trên thập tự giá. Tạ ơn Chúa, tôi không phải chịu như vậy.” Nhưng rồi Chúa Giê-su nói: “ Hãy theo Ta.”
iv.“Hãy tưởng tượng một Người đàn ông đứng trước toàn thể nhân loại, và bình tĩnh, dứt khoát nói với họ rằng: ‘Ta là hiện thân của lý tưởng về hành vi con người; Ta là hiện thân của sự hoàn hảo; và tất cả các ngươi, với vô vàn sự khác biệt về hoàn cảnh, văn hóa và tính cách, hãy lấy Ta làm mẫu mực và hướng dẫn cho mình.” (Maclaren)
d.26bvà ta ở đâu, thì kẻ hầu việc ta cũng sẽ ở đó: Chúa Giê-su mô tả người tôi tớ là người muốn ở nơi Chúa Giê-su ở. Đây không phải là chế độ nô lệ bị ép buộc, nơi người tôi tớ muốn được tự do khỏi chủ. Đây là một sự phục vụ tự nguyện, được lựa chọn, chỉ đơn giản là muốn được ở gần Chủ.
i.Ta ở đâu: “Từ này không đề cập đến nơi ở của Chúa chúng ta vào thời điểm đó, mà là nơi ở đích thực, cốt yếu của Ngài, tức là (Giăng 17:24) trong vinh quang của Đức Chúa Cha.” (Alford)
e.26cnếu ai hầu việc ta, thì Cha ta ắt tôn quí người: Đây là một lời hứa đáng chú ý. Phần thưởng cho việc phục vụ Chúa Giê-su là nhận được sự tôn vinh từ Đức Chúa Cha. Sự tôn vinh này vừa là phần thưởng vừa là sự công nhận.
3.(27-28a) Vào giờ quyết định, Chúa Giê-su bày tỏ quyết tâm của Ngài.
a.27Hiện nay tâm thần ta bối rối (BHĐ linh hồn Ta phiền não): Chúa Giê-su đã nhận được giờ phút quan trọng này, nhưng Ngài vẫn bối rối vì biết những đau đớn trên thập tự giá sẽ như thế nào. Giăng không kể cho chúng ta về lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong vườn Ghết-sê-ma-nê, nhưng ý nghĩa đằng sau lời cầu nguyện đó được thể hiện trong Giăng 12:27-28.
i.“Là một người đàn ông, Ngài lo lắng về viễn cảnh cái chết bạo lực. Tự nhiên ghê tởm cái chết: Chúa đã gieo vào tự nhiên sự ghê tởm đó, để nó trở thành nguyên tắc tự bảo vệ; và chính vì điều này mà chúng ta có được sự thận trọng và cẩn trọng để tránh nguy hiểm.” (Clarke)
b.27bTa sẽ nói gì? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ nầy! Nhưng ấy cũng vì sự đó mà Con đến giờ nầy! Biết rằng đây là giờ phút quyết định, Chúa Giê-su không thể cầu xin được trốn tránh giờ phút này, bởi vì Ngài biết rằng chính vì mục đích này mà tôi đã đến giờ phút này. Thập tự giá, điều đã phủ bóng lên toàn bộ cuộc đời và chức vụ của Chúa Giê-su, giờ đây sẽ trở thành hiện thực trong kinh nghiệm của chính Ngài.
i.“Rõ ràng là những lời này thể hiện một câu hỏi biện luận (rhetorical question), một lời cầu nguyện giả định mà Chúa Giê-su nhìn vào, nhưng Ngài từ chối cầu nguyện” (Morris)
ii.“Mục đích chính của sự Nhập Thể của Ngài, lý do Ngài đến thế gian và tiếp tục hiện diện đến giờ phút này là để chịu đựng sự Khổ nạn này.” (Trench)
c.28Cha ơi, xin làm sáng danh Cha! Khi Chúa Giê-su nghĩ đến thập tự giá chỉ còn vài ngày nữa, mối quan tâm chính của Ngài là làm vinh hiển danh và bản chất của Đức Chúa Cha.
4.(28b-30) Đức Chúa Cha làm chứng về Chúa Giêsu bằng tiếng nói từ trời.
a.28bBấy giờ có tiếng từ trên trời phán xuống rằng: Đây là lời chứng ngôn thiêng liêng thứ ba về địa vị Đức Chúa Con của Chúa Giê-su, sau tiếng phán thiêng liêng được nghe thấy khi Ngài chịu phép báp-têm và khi Ngài hóa hình.
b.28cTa đã làm sáng danh rồi, ta còn làm cho sáng danh nữa! Đây là sự bảo đảm từ Đức Chúa Trời Cha. Khi đến gần thập tự giá, mối quan tâm lớn nhất của Đức Chúa Jesus là tôn vinh Đức Chúa Trời Cha, và Ngài đã được bảo đảm rằng Ngài đã và sẽ tiếp tục làm điều đó.
i.Và ta còn làm cho sáng danh nữa: “Đấng Christ đã được tôn vinh: 1. Bởi những phép lạ xảy ra khi Ngài chết. 2. Trong sự phục sinh của Ngài. 3. Trong sự thăng thiên và ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. 4. Trong sự giáng lâm của Đức Thánh Linh trên các sứ đồ. và 5. Trong sự thành công đáng kinh ngạc mà Tin Mừng đã mang lại, và nhờ đó vương quốc của Đấng Christ đã được thiết lập trên thế giới.” (Clarke)
ii.Và ta còn làm cho sáng danh nữa: “Từ ‘còn…nữa’ ở đây không chỉ hàm ý sự lặp lại đơn thuần, mà là sự nhấn mạnh, sự tôn vinh thêm một lần nữa: và lần này là trọn vẹn và dứt khoát.” (Alford)
c.29-30 29 Đoàn dân ở tại đó nghe tiếng, thì nói rằng ấy là tiếng sấm; có kẻ khác nói: Một vị thiên sứ nào nói với Ngài. 30 Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán rằng: Ấy chẳng phải vì ta mà tiếng nầy vang ra, nhưng vì các ngươi: Đối với một số người, tiếng phán của Đức Chúa Trời nghe như sấm sét. Những người khác lại cho rằng đó là tiếng nói của thiên thần. Còn đối với những ai có thể phân biệt được, tiếng phán ấy đã cho họ niềm tin nơi Chúa Giê-su trước những ngày trọng đại này.
i.“Vậy nên trong Công vụ 9:7, 22:9, các bạn đồng hành của Sau-lơ đã nghe thấy những tiếng vang vật lý, nhưng không thể hiểu được Tiếng nói, vì nó không dành cho họ.” (Trench)
5.(31-33) Chúa Giê-su công khai tuyên bố về cái chết của Ngài.
a.31Hiện bây giờ, có sự phán xét thế gian nầy: Thần của thế gian này đã bị phán xét qua cách nó đối xử với Chúa Giê-su trên thập tự giá. Thập tự giá không chỉ phán xét thế gian mà còn đánh bại Sa-tan (vua chúa của thế gian nầy phải bị xua đuổi). Sự thất bại của thế gian (nền văn hóa chống đối Chúa Giê-su) và Sa-tan là chiến thắng của Đức Chúa Trời và chiến thắng của dân Chúa.
i.Chúng ta có thể định nghĩa thế giới này theo nghĩa mà Chúa Giê-su đã nói đến như là một nền văn hóa đối lập với Chúa Giê-su. Nền văn hóa này có một người lãnh đạo, vua chúa của thế gian nầy – Sa-tan, kẻ thù lớn của Đức Chúa Trời (Giăng 14:30, 16:11 ; 2 Cô-rinh-tô 4:4, Ê-phê-sô 2:2, 6:12).
b.31bvà hiện nay vua chúa của thế gian nầy phải bị xua đuổi: Sa-tan, kẻ thù lớn nhất, đã bị xua đuổi theo một nghĩa nào đó, bởi những gì Chúa Giê-su đã hoàn thành trên thập tự giá. Sa-tan đã bị xua đuổi khỏi mọi quyền lực chính đáng đối với dân Chúa.
i.“Nhưng phán xét của thế gian đối với Chúa Giê-su, do thế lực tà ác (archon) của trật tự hiện tại chỉ đạo, sẽ bị lật đổ tại một tòa án cao hơn; chính linh thống trị đó sẽ bị lật đổ.” (Bruce)
ii.“Chính vì sự bất tuân mà con người bị Đức Chúa Trời đuổi khỏi Vườn Ê-đen vì đã phục tùng vua chúa của thế gian này (Giăng 12:31); hôm nay, nhờ sự vâng phục trọn vẹn của Chúa Giê-su trên thập tự giá, Vua của thế gian này sẽ bị truất phế khỏi ngôi vị hiện tại của hắn.” (Tasker)
iii.Cô-lô-se 2:14-15 đã mô tả sống động sự thất bại của Sa-tan tại thập tự giá: 14 Ngài đã xóa tờ khế lập nghịch cùng chúng ta, các điều khoản trái với chúng ta nữa, cùng phá hủy tờ khế đó mà đóng đinh trên cây thập tự; 15 Ngài đã truất bỏ các quyền cai trị cùng các thế lực, dùng thập tự giá chiến thắng chúng nó, và nộp ra tỏ tường giữa thiên hạ..
c.32Còn ta, khi ta đã được treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta: Động từ được dùng cho từ “treo lên” có ý nghĩa kép rõ ràng. Nó có nghĩa là sự nâng lên theo nghĩa đen (như bị treo trên thập tự giá) và sự tôn vinh (được nâng cao địa vị hoặc danh dự). Chúa Giê-su hứa rằng khi Ngài được treo lên (được nâng lên, được tôn vinh) trên thập tự giá, Ngài sẽ kéo mọi người đến với chính mình.
i.“Trong chữ ὑψωθῶ [được nâng lên], mặc dù ý nghĩa trực tiếp là việc Ngài được treo lên trên thập tự giá, nhưng cũng có một hàm ý ngầm về việc được nâng lên ngai vàng… Chính thập tự giá đã trở thành ngai vàng của Ngài và nhờ đó Ngài thu hút con người đến với Ngài như những thần dân của Ngài.” (Dods)
ii.khi ta đã được treo lên: “ Từ ‘ nếu khi ’, như thường lệ, mang nghĩa ‘nếu khi’. Chúa Giê-su không hề nghi ngờ rằng Ngài sẽ bị đóng đinh trên thập tự giá.” (Tasker)
iii.Chúa Giê-su biết rằng lợi ích từ công việc của Ngài trên thập tự giá sẽ vượt xa sự ban phước và cứu rỗi cho dân Giu-đa. Ngài sẽ kéo mọi người đến cùng Ngài.
iv.Thu hút mọi người | kéo mọi người: “Thập tự giá là nam châm của Cơ đốc giáo. Chúa Giê-xu Christ thu hút mọi người, nhưng chủ yếu là nhờ Thập tự giá của Ngài… Như lịch sử đã chứng minh, bạn sẽ làm mất đi sức hút của Cơ đốc giáo nếu loại bỏ cái chết trên Thập tự giá vì tội lỗi của thế giới. Những gì còn lại không phải là một nam châm, mà chỉ là một mẩu sắt vụn.” (Maclaren)
v.mọi người: “Không có tầng lớp hay tạo vật nào bị loại trừ khỏi lòng thương xót của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-su Christ. ‘Nếu Ta được tôn cao, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta’; và lịch sử của Giáo hội chứng minh điều này là đúng như thế nào: danh sách những người được cải đạo bao gồm cả hoàng tử và người nghèo, quý tộc và người hầu hạ.” (Spurgeon)
d.33Ngài phán vậy để chỉ mình phải chết cách nào: Chúa Giê-su không chỉ biết rằng Ngài sẽ chết, mà còn biết rằng Ngài sẽ chết trên thập tự giá, bị treo lên khỏi mặt đất. Chúa Giê-su biết cái chết của Ngài sẽ đau đớn và nhục nhã như thế nào, nhưng Ngài vẫn vâng phục ý muốn của Đức Chúa Trời.
6.(34-36) Đấng Mê-si-a sẽ sống đời đời chăng?
a.34Đoàn dân thưa rằng: Chúng tôi có học trong luật pháp rằng Đấng Christ còn đời đời, vậy sao thầy nói Con Người phải bị treo lên? Con Người đó là ai? Dân chúng chỉ được dạy những đoạn trong luật pháp (Cựu Ước) nói về sự chiến thắng của Đấng Mê-si. Họ hầu hết không biết đến những đoạn nói về sự đau khổ của Ngài (như Thi Thiên 22 và Ê-sai 53). Điều đó khiến họ tự hỏi liệu Chúa Giê-su có thực sự là Đấng Mê-si, Con Người hay không.
i.“Có một số đoạn Kinh Thánh nói về sự trường tồn của triều đại Ngài, như Ê-sai 9:7 ; Ê-xê-chi-ên 37:25 ; Đa-ni-ên 7:14, có lẽ họ đã nhầm lẫn các đoạn này với nhau, và do đó đi đến kết luận rằng, Đấng Mê-si không thể chết; vì Kinh Thánh đã nói rằng, ngai vàng, vương quốc và triều đại của Ngài sẽ trường tồn.” (Clarke)
ii.Đám đông nhiệt liệt chào đón một người chinh phục chính trị lại không muốn suy ngẫm về cái chết hy sinh của Ngài. Điều đó không phù hợp với quan niệm của họ về một Đấng Messiah.
iii.Con Người: “Đoạn văn này và các đoạn văn khác cho thấy rằng danh hiệu “Con Người” là một danh hiệu gợi ý về Đấng Mê-si, nhưng không hoàn toàn rõ ràng về ý nghĩa và không hoàn toàn trùng khớp với danh hiệu “Đấng Mêsia”. (Dods)
b.35-36 35 Đức Chúa Jêsus bèn đáp rằng: Sự sáng còn ở giữa các ngươi ít lâu; hãy đi trong khi các ngươi còn có sự sáng, e rằng sự tối tăm đến thình lình cùng các ngươi chăng; kẻ đi trong nơi tối tăm thì chẳng biết mình đi đâu. 36 Các ngươi đương có sự sáng, hãy tin sự sáng, hầu cho trở nên con cái của sự sáng. Đức Chúa Jêsus phán như vậy, rồi đi, và ẩn mình cách xa họ: Chúa Giê-su đã bảo đảm với họ rằng Ngài sẽ ở cùng họ chỉ trong một thời gian ngắn nữa. Ánh sáng của chức vụ trên đất của Ngài sắp tắt.
i.Chúng ta phải tin vào Chúa Giê-su khi ánh sáng còn đó, vì nó sẽ không kéo dài mãi mãi. Thần của Đức Chúa Trời sẽ không mãi tranh đấu với con người (Sáng thế ký 6:3), và chúng ta phải đáp lại lời kêu gọi của Ngài khi nó còn vang vọng đến chúng ta.
ii.con cái của sự sáng: “Thành ngữ Semitic ‘con cái của’ mô tả những người đàn ông sở hữu những đặc điểm của người được cho là ‘cha’ của họ. Trong cách diễn đạt của chúng ta, có lẽ chúng ta nên nói “những người của ánh sáng,” tương tự như cách diễn đạt “một con người chính trực.” (Tasker)
7.(37-41) Giăng giải thích sự không tin của họ dựa trên lời tiên tri trong Cựu Ước.
a.37Vả, dẫu Ngài đã làm bấy nhiêu phép lạ trước mặt chúng, họ cũng không tin Ngài: Trong suốt sách Phúc Âm của mình, Giăng đã kể cho chúng ta nghe về nhiều dấu kỳ mà Chúa Giê-su đã thực hiện, những dấu kỳ đó lẽ ra phải khiến chúng ta tin Ngài (Giăng 2:11, 4:54, 6:14). Tuy nhiên, nhiều người vẫn không tin Ngài. Sử dụng hai đoạn trích từ sách Ê-sai (Ê-sai 53:1 và 6:9-10), Giăng giải thích rằng điều này đã được tiên tri.
i.“Sau nhiều thế kỷ lịch sử Cơ đốc giáo, trong đó nhà thờ hầu như chỉ toàn người ngoại đạo, chúng ta đã chấp nhận rằng việc có rất ít người Giu-đa trong Giáo hội là điều hoàn toàn bình thường. Nhưng đó không phải là cách mà những người trong Tân Ước nhìn nhận vấn đề.” (Morris)
b.38để được ứng nghiệm lời nầy của đấng tiên tri Ê-sai: Lạy Chúa, ai đã tin lời giảng chúng tôi, và cánh tay Chúa đã tỏ ra cho ai? Trích dẫn từ Ê-sai 53:1, Giăng nhấn mạnh rằng nếu ai đó tin, đó là vì Đức Chúa Trời đã tỏ ra chính Ngài và chân lý của Ngài cho họ. Chúa Giê-su đã tỏ bày chính Ngài cho họ qua nhiều dấu lạ và qua lời dạy của Ngài.
c.39Vả lại, chúng không thể tin, vì Ê-sai lại có nói rằng: 40 Ngài đã khiến mắt họ mù, lòng họ cứng, hầu cho mắt chẳng thấy, lòng chẳng hiểu, không tự hối cải, và ta chẳng chữa lành cho
: Khi trích dẫn Ê-sai 6:9-10, Giăng nhấn mạnh rằng sự không tin là do Đức Chúa Trời hành động để phán xét những ai từ chối nhìn nhận sự thật của Ngài và quay về với Ngài. Đức Chúa Trời sẽ củng cố quyết định của họ, hoặc là tin vào Chúa Giê-su hoặc là chống lại Ngài. Dựa trên nguyên tắc này, họ không thể tin, như Ê-sai đã mô tả.
i.“Không một ai trong số họ được định sẵn là không có khả năng tin; điều đó được nói rõ ở dưới đây (Giăng 12:42) rằng một số người thực sự đã tin. Nhưng lời tiên tri trong Cựu Ước phải được ứng nghiệm, và nó đã được ứng nghiệm nơi những người, trên thực tế, không tin.” (Bruce)
ii.“Ngài không có ý nói rằng sự mù quáng diễn ra ngoài ý muốn hoặc trái với ý muốn của những người này. Điều này cũng không xảy ra với sự cứng lòng của họ. Những người này đã chọn điều ác. Đó là sự lựa chọn có chủ ý của chính họ, là lỗi của chính họ.” (Morris)
d.41Ê-sai nói điều đó, khi thấy sự vinh hiển của Ngài và nói về Ngài: Như lời tiên tri được ghi lại trong Ê-sai 6, tiên tri Ê-sai đã thấy Chúa, Đức Giê-hô-va (Ê-sai 6:1-13). Giăng đã hiểu đúng rằng Ê-sai đã thấy vinh quang của Chúa Giê-su trước khi Ngài nhập thể và rằng Chúa Giê-su chính là Đức Giê-hô-va.
i.“Khải tượng của Ê-sai được ghi lại trong Ê-sai 6 được Giăng giải thích là khải tượng về toàn thể Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Vị tiên tri đã thấy vinh quang của Đấng Christ cũng như vinh quang của Đức Chúa Cha.” (Tasker)
8.(42-43) Một số nhà cầm quyền có niềm tin yếu vào Chúa Giê-su.
a.42Nhưng, trong hàng quan trưởng cũng có nhiều người tin Đức Chúa Jêsus; song vì cớ người Pha-ri-si, nên không xưng Ngài ra, sợ bị đuổi khỏi nhà hội chăng: Vào thời điểm này trong chức vụ của Chúa Giê-su, có nhiều người đã bí mật tin Ngài. Họ đã thấy các dấu lạ và nghe lời dạy của Ngài, nhưng vì sợ những gì người khác sẽ nghĩ và làm chống lại họ nên họ không dám công khai tuyên bố (xưng nhận) lòng trung thành và sự tin cậy của mình đối với Chúa Giê-su.
i.Sự làm học trò cách kín dấu là một mâu thuẫn nội tại, vì “Hoặc là sự bí mật giết chết sự làm môn đệ, hoặc là sự làm môn đệ giết chết sự bí mật” (Barclay)
ii.Giám mục Trench có cái nhìn cảm thông hơn: “Các nhà bình luận quá khắt khe với những người nhút nhát này. Có phải tất cả các tín đồ Cơ đốc đều anh hùng? Chẳng lẽ không có ai đủ dũng cảm sao?” (Trench)
b.43Vì họ chuộng danh vọng bởi người ta đến hơn là danh vọng bởi Đức Chúa Trời đến: Chúa Giê-su vừa giải thích rằng nếu ai phục vụ Ngài, người đó sẽ được Đức Chúa Trời tôn trọng (Giăng 12:26). Tuy nhiên, có nhiều người yêu mến sự tôn trọng đến từ con người hơn sự khen ngợi đến từ Đức Chúa Trời.
i.Yêu thích lời khen ngợi của con người: “Chẳng qua chỉ là một chút hơi thở hôi hám? Những kẻ này sẽ nhận được phần thưởng của mình.” (Trapp)
9.(44-50) Lời kêu gọi cuối cùng về niềm tin: Chúa Giê-su đưa ra lời kêu gọi cuối cùng, tha thiết tới đám đông.
a.44Tuy vậy, Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán rằng: Ai tin ta, chẳng phải tin ta, nhưng tin Đấng đã sai ta đến: Đây là những lời cuối cùng trong Phúc Âm Giăng, mà Chúa Giê-su nói với công chúng. Trong bài diễn thuyết cuối cùng này trước đám đông, Chúa Giê-su nhấn mạnh các chủ đề của tất cả những bài giảng trước đó của Ngài trong sách Giăng. Nó bao gồm lời nhắc nhở về giáo huấn của Ngài, lời thách thức phải quyết định, lời cảnh báo cho những người quyết định chống lại Ngài và lời hứa cho những người quyết định tin theo Ngài.
i.cất tiếng phán rằng: “Thì quá khứ chưa hoàn thành trong nguyên văn cho thấy tiếng kêu đó kéo dài dai dẳng.” (Tasker)
ii.“Thông thường, Đấng Cứu Thế của chúng ta không kêu la. Ngài không la to cũng không cất tiếng nói trên đường phố. Nhưng thỉnh thoảng, vào một số giờ phút trọng đại, các sách Phúc Âm cho chúng ta biết rằng Ngài đã kêu lên (Giăng 7:37).” (Morrison)
b.45Còn ai thấy ta, là thấy Đấng đã sai ta đến: Chúa Giê-su nhấn mạnh sự hiệp nhất của Ngài với Đức Chúa Cha. Tin vào Chúa Giê-su nghĩa là đặt niềm tin vào Đấng đã sai Chúa Giê-su đến, hơn cả việc đặt niềm tin vào chính Chúa Giê-su.
i.Mặc dù họ định đóng đinh Ngài vì Ngài khẳng định điều này (sự hiệp một của Ngài với Đức Chúa Cha), nhưng Ngài không rút lại bất cứ điều gì Ngài đã nói, mà còn khẳng định mạnh mẽ hơn nữa, ngay trong lúc cận kề cái chết!” (Clarke)
c.46Ta là sự sáng đã đến thế gian, để ai tin ta, chẳng ở nơi tối tăm nữa. 47Lại nếu kẻ nào nghe lời ta mà không vâng giữ, ấy chẳng phải ta xét đoán kẻ đó: Chúa Giê-su nhấn mạnh sự chân thật của chính Ngài, và sự cần thiết của việc con người phải theo Chúa Giê-su – nếu không sẽ sống trong bóng tối.
d.47b-48a 47bvì ta đến chẳng để xét đoán thế gian, nhưng để cứu chuộc. 48a Người nào bỏ ta ra và không nhận lãnh lời ta, đã có kẻ xét đoán rồi: Sự nhập thể không cần thiết nếu Chúa Giê-su chỉ đến để phán xét. Ngài không cần thêm nhân tính vào thần tính của mình để làm điều đó, nhưng Ngài cần làm điều đó để cứu chuộc nhân loại. Tuy nhiên, “lời TA đã rao giảng, chính lời đó sẽ xét đoán họ nơi ngày sau cùng” (c.48b) – sẽ có những hậu quả không thể tránh khỏi nếu chối bỏ Chúa Giê-su.
i.“Lời cuối cùng của Ngài không phải là lời lên án. Đó là lời kêu gọi dịu dàng.” (Morris)
ii.“Trong Phúc Âm thứ tư luôn có một nghịch lý cốt yếu: Chúa Giê-su đến trong tình yêu thương, nhưng sự đến của Ngài lại là một sự phán xét.” (Barclay)
e.49Bởi ta chẳng nói theo ý riêng ta; nhưng Cha sai ta đến, đã truyền lịnh cho ta phải nói điều chi và phải nói thể nào: Chúa Giê-su nhấn mạnh sự vâng phục của Ngài đối với Đức Chúa Cha. Quyền năng của Ngài gắn liền với sự vâng phục của Ngài đối với Đức Chúa Cha.
i.50Ta biết mạng lịnh Cha, ấy là sự sống đời đời. Vậy, những điều ta nói, thì nói theo như Cha ta đã dặn: “Khái niệm thứ nhất đề cập đến nội dung dạy dỗ, còn khái niệm thứ hai đề cập đến các phương pháp truyền đạt khác nhau.” (Dods)