Giăng 11 – Chúa Giê-su Khiến La-xa-rơ Sống Lại Từ Cõi Chết
A.Cái chết của La-xa-rơ.
1.(1-3) Có người đưa ra lời thỉnh cầu với Chúa Giêsu.
1 Có một người đau, tên là La-xa-rơ, ở Bê-tha-ni, là làng của Ma-ri và chị người là Ma-thê. 2 Ma-ri là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc mình lau chân Ngài; chính anh người là La-xa-rơ đương đau.
a.Bấy giờ, có một người kia bị bệnh : Đây có lẽ là phép lạ đáng chú ý nhất mà Chúa Giê-su đã thực hiện. Người ta có thể nói rằng thật ngớ ngẩn khi nghĩ rằng phép lạ này khó hơn phép lạ kia, nhưng dấu lạ thứ bảy trong Phúc Âm Giăng này lại là độc nhất vô nhị.
i.“Không có sự tương đồng nào trong việc hồi sinh một người đàn ông đã chết được bốn ngày và cơ thể đã bắt đầu phân hủy.” (Barclay)
ii.“Thật đáng ngạc nhiên khi các nhà truyền giáo khác lại bỏ qua một câu chuyện đáng chú ý như thế này, trong đó một số nét tính cách tốt đẹp nhất của Chúa chúng ta được thể hiện. Giả thuyết của Grotius có rất nhiều giá trị. Ông cho rằng ba nhà truyền giáo kia đã viết sử của họ trong thời gian La-xa-rơ còn sống; và họ không nhắc đến ông vì sợ khơi dậy lòng căm thù của người Giu-đa đối với ông.” (Clarke)
iii.Morris đưa ra một lý do khác khiến Phúc Âm Nhất Lãm (tin lành cộng quan, Synoptic Gospels) không đề cập đến việc Chúa Giê-su sống lại là vì Phi-e-rơ không có mặt; trong những tháng này, ông ở Ga-li-lê trong khi Chúa Giê-su ở Pê-rê (bên kia sông Giô-đanh, vùng mười thành, Decapolis-ND) và Bê-tha-ni. Nhiều người cho rằng Phúc Âm Nhất Lãm tập trung vào lời tường thuật của Phi-e-rơ về sự dạy dỗ và chức vụ của Chúa Giê-su.
iv.La-xa-rơ, ở Bê-tha-ni: “’La-xa-rơ,’ dạng tiếng Hy Lạp của Eleazar = Chúa là Đấng giúp đỡ tôi.” (Dods)
b.La-xa-rơ… Ma-ri và em gái Ma-thê : Chúa Giê-su có mối quan hệ mật thiết với gia đình này. Khi La-xa-rơ bị bệnh, việc họ mang nhu cầu của mình đến với Chúa Giê-su là điều tự nhiên. Người ta mong đợi rằng nếu Ngài đã đáp ứng một cách kỳ diệu nhu cầu của rất nhiều người khác, thì Ngài cũng sẽ đáp ứng nhu cầu của họ.
c.3Vậy, hai chị em sai người đến thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nầy, kẻ Chúa yêu mắc bịnh: Maria và Ma-thê không đặc biệt xin Chúa Giêsu đến chữa lành La-xa-rơ. Họ cảm thấy không cần thiết, chỉ cần nói với Chúa Giêsu vấn đề là đủ.
- “Tình yêu của Chúa Giê-su không tách chúng ta khỏi những nhu cầu và sự yếu đuối thông thường của đời sống con người. Những người của Chúa vẫn là con người.” (Spurgeon)
2.(4-6) Chúa Giêsu trả lời chậm trễ.
a.4Đức Chúa Jêsus vừa nghe lời đó, bèn phán rằng: Bịnh nầy không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, hầu cho Con Đức Chúa Trời bởi đó được sáng danh: La-xa-rơ đã chết khi Chúa Giê-su nói điều này, nhưng Ngài biết kết quả cuối cùng sẽ là vinh quang của Đức Chúa Trời, chứ không phải sự chết. Chúa Giê-su cũng biết rằng những sự kiện được ghi lại trong chương này sẽ khiến các nhà lãnh đạo tôn giáo quyết tâm giết Chúa Giê-su. Điều này có nghĩa là kết quả cuối cùng sẽ là Con Đức Chúa Trời được vinh hiển qua sự chết và sự phục sinh của Ngài.
i.“Cách hiểu đúng đắn duy nhất về câu trả lời này và toàn bộ hành động của Chúa chúng ta ở đây là — Ngài đã biết và thấy trước mọi điều ngay từ đầu.” (Alford)
ii.“ Lẽ ra chúng ta nên nói rằng bệnh tật dẫn đến cái chết, nhưng cuối cùng lại dẫn đến vinh quang của Đức Chúa Trời. Nhưng Đấng nhìn thấy kết cục từ khởi đầu đã nói bằng một phong cách hùng hồn mà chúng ta không thể bắt chước được. Vì vậy, Chúa phán về mọi sự, không phải như chúng ta thấy, cũng không phải như chúng đang ở hiện tại, mà là như chúng sẽ diễn ra trong tương lai lâu dài.” (Spurgeon)
b.5Vả, Đức Chúa Jêsus yêu Ma-thê, em người, và La-xa-rơ: Giăng nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giê-su thực sự yêu thương hai chị em này và anh trai của họ. Đây là một lời nhắc nhở quan trọng, cho thấy việc thử thách đức tin của họ không phải là sự phủ nhận tình yêu của Ngài.
i.“Việc đề cập riêng biệt đến ba người có lẽ nhằm nhấn mạnh tình cảm của Chúa Giê-su dành cho từng người. Ngài không chỉ yêu thương gia đình Ma-thê, Maria và La-xa-rơ.” (Morris)
ii.Tình yêu thương riêng của Chúa Giêsu dành cho ba người này đặc biệt có ý nghĩa khi chúng ta nghĩ về sự khác biệt của họ, cả về tính khí lẫn hoàn cảnh sống.
iii.“ Người môn đệ được Chúa Giê-su yêu mến ấy (ám chỉ Giăng | ND) không hề ngần ngại khi ghi lại rằng Chúa Giê-su cũng yêu thương La-xa-rơ: không có sự ghen tị giữa những người được Đấng Yêu Dấu chọn lựa.” (Spurgeon)
c.6Khi Ngài nghe người nầy đau, bèn ở lại hai ngày nữa trong nơi Ngài đương ở: Có vẻ lạ là Chúa Giê-su không hành động ngay lập tức để đáp ứng nhu cầu lớn lao này. Sự chậm trễ này có lẽ khiến các môn đồ bối rối và khiến Ma-ri và Ma-thê đau khổ.
i.Rõ ràng Chúa Giêsu đã kéo dài nỗi buồn của Maria và Ma-thê. Đây là hai ngày nữa họ phải chịu đựng nỗi đau khổ tột cùng. Tuy nhiên, “Nỗi buồn kéo dài cũng vì lý do nó được gửi đến. Gửi nó đi trong chốc lát thì chẳng ích gì.” (Maclaren)
ii.Chúa Giê-su cố tình chờ đến khi La-xa-rơ nằm trong mộ bốn ngày rồi mới đưa ông trở về từ cõi chết. “Lightfoot trích dẫn một truyền thuyết đáng chú ý của Ben Kaphra: ‘Nỗi đau buồn lên đến đỉnh điểm vào ngày thứ ba. Trong ba ngày, linh hồn lảng vảng quanh ngôi mộ, may ra nó có thể trở về với thân xác. Nhưng khi thấy sắc mặt thay đổi, nó rút lui và bỏ lại thân xác.’” (Dods)
iii.Trong Phúc âm Giăng, có ba lần một người thân yêu của Chúa Giêsu yêu cầu Ngài làm điều gì đó (Giăng 2:1-11, 7:1-10). Trong mỗi trường hợp này, Chúa Giêsu đều trả lời theo cùng một cách.
- Đầu tiên, Chúa Giê-su từ chối đáp ứng yêu cầu của họ và sau đó Ngài đã thực hiện yêu cầu đó sau khi chứng minh rằng Ngài làm mọi việc theo thời điểm và ý muốn của Đức Chúa Trời, chứ không phải của con người.
- Qua hành động của mình, Chúa Giê-su chứng minh rằng sự trì hoãn của Ngài không phải là sự chối bỏ. Chúng sẽ mang lại vinh quang lớn hơn cho Đức Chúa Trời.
3.(7-10) Chúa Giêsu can đảm quyết định đi đến Giuđê và Giêrusalem.
a.7Rồi đó, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy trở về xứ Giu-đê. 8 Môn đồ thưa rằng: Thưa thầy, hôm trước dân Giu-đa tìm ném đá thầy, thầy còn trở lại nơi họ sao!: Chúa Giê-su có thể khiến La-xa-rơ sống lại từ xa. Do sự phản đối của các nhà lãnh đạo tôn giáo, Giu-đê là một nơi nguy hiểm đối với Chúa Giê-su. Tuy nhiên, Chúa Giê-su vẫn sẵn lòng trở về xứ Giu-đê. – bất chấp lời cảnh báo của các môn đồ.
b.9Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Trong ban ngày há chẳng phải có mười hai giờ sao?: Các môn đồ của Chúa Giê-su đã rất ngạc nhiên khi thấy Ngài trở về vùng Giu-đê trong khi Ngài đang bị truy nã ở đó. Chúa Giê-su đáp lại rằng Ngài vẫn còn việc phải làm. Mười hai giờ là một cách nói ẩn dụ về thời gian mà Đức Chúa Cha đã dành cho công việc trên đất của Chúa Giê-su.
i.Có nhiều ứng dụng thực tế của câu nói sáng suốt này.
- Không gì có thể rút ngắn thời gian của chúng ta.
- Có đủ thời gian cho mọi việc cần làm.
- Chúng ta chỉ có từng đó thời gian, vì vậy không được lãng phí nó.
ii.“Chúa Giê-su đang nói rằng một người phải hoàn thành ngay công việc trong ngày, vì đêm đến là lúc công việc kết thúc.” (Barclay)
iii.“Một ngày chỉ có mười hai giờ, và trước khi bạn kịp mơ thấy thì mặt trời đã lặn. Hãy hoàn thành những gì Chúa đã sai bạn đến đây để làm.” (Morrison)
c.9b-10 Nếu ai đi ban ngày, thì không vấp, vì thấy sự sáng của thế gian nầy. 10 Nhưng nếu ai đi ban đêm, thì vấp, vì không có sự sáng: Trong những giờ phút này, không điều gì có thể gây hại cho Chúa Giêsu và các môn đồ. Họ phải làm việc trước đêm Chúa Giêsu chịu khổ nạn.
i “Tôi có một khoảng thời gian cố định để làm việc, được Cha tôi chỉ định; trong khoảng thời gian đó, tôi không cảm thấy nguy hiểm, tôi bước đi trong ánh sáng của Ngài, giống như người lữ hành trong ánh sáng của thế giới này bước đi vào ban ngày.” (Alford)
4.(11-15) Chúa Giêsu nói rõ với họ về cái chết của La-xa-rơ.
a.11-13 11 Ngài phán như vậy, rồi tiếp rằng: La-xa-rơ, bạn ta, đương ngủ; nhưng ta đi đánh thức người. 12 Môn đồ thưa rằng: Thưa Chúa, nếu người ngủ, chắc sẽ được lành. 13 Vả, Đức Chúa Jêsus phán lời đó chỉ về sự chết của La-xa-rơ; song môn đồ tưởng nói về giấc ngủ thường : Chúa Giê-su đã dùng ẩn dụ quen thuộc về giấc ngủ để mô tả cái chết của La-xa-rơ. Hình ảnh ẩn dụ này đặc biệt có ý nghĩa bởi vì Chúa Giê-su sẽ sớm đánh thức người – đưa La-xa-rơ trở về từ cõi chết.
i.Chúa Giê-su nói về con gái của Giai-ru rằng nó đang ngủ (Ma-thi-ơ 9:24). Vào cuối cuộc tử đạo của Ê-tiên, chúng ta được biết rằng ông đã ngủ (Công vụ 7:60).
b.14-15 14 Đức Chúa Jêsus bèn nói tỏ tường cùng môn đồ rằng: La-xa-rơ chết rồi. 15 Ta vì các ngươi mừng không có ta tại đó, để cho các ngươi tin; nhưng chúng ta hãy đi đến cùng người: Chúa Giê-su có thể vui mừng, ngay cả trước cái chết của một người bạn thân thiết, bởi vì Ngài biết chắc kết cục. Chúng ta thấy ở cuối các sự kiện của chương này, nỗi đau buồn đã được an ủi, sự sống được phục hồi, nhiều người tin Chúa hơn, và cái chết cần thiết của Chúa Giê-su đã được khởi động. Tất cả những điều này là lý do để vui mừng.
i.“Vì vậy, chúng ta có thể học được rằng Ngài thường cho phép chúng ta đi vào bóng tối sâu thẳm hơn, và những bí ẩn đau khổ sâu sắc hơn, để chúng ta có thể chứng minh quyền năng của Ngài một cách hoàn hảo hơn.” (Morgan)
ii.15b nhưng chúng ta hãy đi đến cùng người: “Chúa chúng ta có lẽ đã rời Bê-tha-ni vào ngày đó, hoặc ngày hôm sau, khi La-xa-rơ qua đời. Ngài đến Bê-tha-ni ba ngày sau đó; và dường như La-xa-rơ đã được chôn cất khoảng bốn ngày, và do đó, ông đã được chôn cất vào ngày hoặc ngày sau khi ông qua đời.” (Clarke)
5.(16) Đức tin mạnh mẽ của Thô-ma.
a.16Nhân đó, Thô-ma, gọi là Đi-đim(nghĩa là “sinh đôi”): Truyền thống Giáo hội cho rằng Thô-ma được gọi là sinh đôi (Song Tử) vì trông giống Chúa Giêsu, khiến ông gặp nguy hiểm đặc biệt. Nếu có ai trong số các tông đồ của Chúa Giêsu có nguy cơ bị bách hại thì đó chính là người trông giống Chúa Giêsu.
i.Tất cả người Giu-đa thời đó đều có hai tên – một là tên Giu-đa mà người ta gọi trong vòng họ hàng của mình, còn tên kia là tên Hy Lạp mà người ta gọi trong vòng họ hàng rộng hơn. Thô-ma là tên Giu-đa, còn Đi-đim là tên Hy Lạp, có nghĩa là Song Tử (anh em sinh đôi)” (Barclay)
b.Thô-ma 16bnói với môn đồ khác rằng: Chúng ta cũng hãy đi tới đó đặng chết với Ngài!: Thô-ma đã sẵn lòng đi với Chúa Giê-su, dù có phải chết với Ngài. Ông đã cam kết điều này mà không hiểu rõ lời hứa về sự phục sinh.
i.“Thô-ma thốt lên tiếng kêu tuyệt vọng trung thành.” (Tasker)
ii.“Ông là người bi quan nhất trong số các tông đồ, và bây giờ có cái nhìn u ám, và như đã được chứng minh, là quan điểm như đã được chứng minh, là đúng đắn về hậu quả của việc trở về Giu-đê này, nhưng lòng trung thành trìu mến của ông ngăn cấm ý nghĩ để Chúa Jesus đi một mình.” (Dods)
B.Chúa Giêsu gặp Ma-thê và Ma-ri.
1.(17-22) Ma-thê chào Chúa Giêsu khi Người đến Bêtania.
a.17Khi Đức Chúa Jêsus đến nơi, thấy đã chôn La-xa-rơ trong mộ bốn ngày rồi: Chúa Giê-su đợi bốn ngày vì Ngài biết văn hóa tín ngưỡng Giu-đa thời bấy giờ cho rằng linh hồn ở lại gần mộ ba ngày, hy vọng sẽ trở về với thân xác. Do đó, người ta chấp nhận rằng sau bốn ngày, hoàn toàn không còn hy vọng sống lại.
b.18-19 18 Vả, thành Bê-tha-ni cách thành Giê-ru-sa-lem chỉ độ mười lăm ếch-ta-đơ. 19 Có nhiều người Giu-đa đã đến đó đặng yên ủi Ma-thê và Ma-ri về sự anh chết: Đây là một đám đông lớn, vẫn còn hiện diện bốn ngày sau khi La-xa-rơ được chôn cất. Việc tham gia cùng những người đang thương tiếc cái chết của một người thân được coi là một nghĩa vụ quan trọng.
i.“Một đoàn rước gồm người thân, bạn bè và đôi khi là người đưa tang được thuê đã đưa thi thể đến mộ; và tang lễ thường kéo dài trong vài ngày sau đó.” (Tenney)
ii.20 Lúc Ma-thê nghe Đức Chúa Jêsus đến, thì đi đón Ngài; nhưng Ma-ri thì ngồi tại nhà: “Có lẽ qua hoàn cảnh này, người truyền bá Phúc Âm muốn truyền đạt ý tưởng về nỗi buồn và sự đau khổ của bà; bởi vì những người đau khổ thời xưa thường đặt mình vào tư thế này để thể hiện sự đau thương của họ; nỗi đau buồn của họ khiến họ gần như bất động.” (Clarke)
c.21 Ma-thê thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa có đây, thì anh tôi không chết: Ma-thê thành thật bày tỏ sự thất vọng của mình khi Chúa Giêsu đến muộn. Bà tin rằng Chúa Giêsu đã có thể chữa lành cho anh trai bà khi anh ấy vẫn còn sống. Có thể bà thậm chí còn không nghĩ rằng Chúa Giêsu đã có thể khiến La-xa-rơ sống lại từ cõi chết.
i.“Cái chết không hề mạnh hơn bệnh tật khi ở trước mặt Ngài, nhưng những người này không nhận ra điều đó. Họ nghĩ về Cái chết như một điều bất khả chiến bại. Với bệnh tật, con người có thể vật lộn, chiến đấu, và thường chiến thắng. Nhưng trước sự hiện diện của cái chết, họ trở nên bất lực.” (Morgan)
d.22 mà bây giờ tôi cũng biết mọi điều Ngài sẽ xin Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời ắt ban cho: Ma-thê không tin chắc Chúa Giê-su sẽ khiến em trai mình sống lại. Thay vào đó, bà nói rằng bà vẫn tin cậy Chúa Giê-su bất chấp sự thất vọng này. Đây là một minh chứng đức tin đáng chú ý, đáng được xem như một tấm gương.
i.“Một số lời cầu nguyện sẽ tốt hơn nếu chúng ngắn gọn hơn — tốt hơn nữa nếu chúng không nói lên ý muốn riêng của chúng ta mà nói lên lòng tin tưởng của chúng ta vào ý muốn tốt lành của Đấng Christ. Tôi thích việc Ma-thê và Ma-ri không nói ra lời cầu nguyện.” (Spurgeon)
- Có thể có sức mạnh to lớn trong những lời cầu nguyện “ngay bây giờ-BD2011 ”.
- Người thân yêu của bạn có thể đã chết và bốc mùi như La-xa-rơ – bạn có tin Chúa Giê-su vì họ ngay bây giờ không?
- Tình huống của riêng bạn có thể tệ hại như La-xa-rơ – bạn có tin vào Chúa Jesus ngay bây giờ không?
2.(23-27) Ta là sự sống lại và là sự sống.
a.23 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Anh ngươi sẽ sống lại: Ma-thê hiểu rằng anh trai mình là La-xa-rơ sẽ sống lại cùng với tất cả những người công chính vào ngày cuối cùng. Bà thậm chí không nghĩ rằng Chúa Giê-su có thể lập tức đưa La-xa-rơ từ cõi chết trở về.
i.Chúng ta có thể an ủi người đang đau buồn bằng cách nói: “Bạn sẽ gặp lại người thân yêu”. Chúng ta thực lòng muốn nói điều đó và thực lòng muốn an ủi, nhưng chúng ta không có ý nói: “Bạn sẽ gặp lại người thân yêu ngay bây giờ”. Chúa Giê-su có ý nói rằng La-xa-rơ sẽ sống lại ngay bây giờ.
ii.“Sự phục sinh vào ngày sau cùng chỉ có thể thực hiện được nhờ Quyền năng của Ta, và do đó Ta cũng có thể làm cho họ sống lại ngay bây giờ.” (Alford)
iii.24Ma-thê thưa rằng: Tôi vẫn biết rằng đến sự sống lại ngày cuối cùng, anh tôi sẽ sống lại: “Nhờ ảnh hưởng của những người Pha-ri-si và những người theo đường lối của họ, đây hiện là niềm tin chung giữa những người Giu-đa, bất chấp sự phản đối của người Sa-đu-sê.” (Bruce)
iv.“Rõ ràng là bà nhận được rất ít sự an ủi từ sự thật về sự phục sinh xa vời và chung chung: bà cần sự phục sinh và sự sống đến gần hơn với gia đình mình, và trở thành một sự thật hiện tại hơn đối với bà.” (Spurgeon)
b.25 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi: Chúa Giê-su không tuyên bố mình có sự sống lại và sự sống, hay hiểu biết những bí mật về sự sống lại và sự sống. Thay vào đó, Chúa Giê-su nói một cách đầy kịch tính rằng Ngài là sự sống lại và sự sống. Biết Chúa Giê-su là biết sự sống lại và sự sống; có Chúa Giê-su là có sự sống lại và sự sống.
i.“Bà xem sự phục sinh và sự sống như những điều sẽ xảy ra trong một tương lai mờ mịt. ‘Không,’ Đấng Christ phán, ‘Ta là sự phục sinh và sự sống. Ta không chỉ nhận được những điều này qua lời cầu nguyện từ Đức Chúa Trời, mà Ta còn là những điều này nữa.’” (Spurgeon)
ii.“Ngoài Ngài ra không có sự sống lại hay sự sống.” (Dods)
iii.“Ngươi nói rằng anh em ngươi sẽ sống lại trong sự phục sinh vào ngày sau rốt; nhưng nhờ ai mà người anh em sống lại nếu không phải nhờ TA, Đấng là tác giả của sự phục sinh và là nguồn sự sống? Và chẳng phải bây giờ Ta cũng dễ dàng cho người ấy sống lại như lúc đó sao ?” (Clarke)
c.26 Còn ai sống và tin ta thì không hề chết.: Chúa Giê-su đã mạnh dạn thách thức Ma-thê tin rằng Ngài là nguồn sự sống đời đời. Chúa Giê-su tự giới thiệu mình là Đấng chiến thắng sự chết. Trong khi nhân loại nói chung đều sợ chết, thì Cơ Đốc nhân chỉ sợ sự hấp hối | đang chết dần. Người tin Chúa sẽ không bao giờ chết, mà chỉ đơn giản là chuyển đổi ngay tức thời từ đời sống cũ sang đời sống mới.
i.“Những người tin vào Chúa Giê-su Christ dường như đã chết, nhưng thực ra họ vẫn sống. Họ không ở trong mồ, họ ở mãi bên Chúa. Họ không vô thức, họ đang ở cùng Chúa trên Thiên Đàng. Cái chết không thể giết chết một tín đồ, nó chỉ có thể dẫn họ đến một hình thức sống tự do hơn.” (Spurgeon)
ii.“Tất nhiên, Chúa Giê-su không có ý nói rằng người tin Chúa sẽ không chết về mặt thể xác. Ngay cả lúc đó, La-xa-rơ đã chết, và hàng triệu tín đồ của Chúa Giê-su cũng đã chết kể từ đó. Nhưng Ngài muốn nói rằng người ấy sẽ không chết theo nghĩa cái chết mang ý nghĩa vĩnh cửu.” (Morris)
iii.“Cái chết đến với kẻ vô đạo như một hình phạt, nhưng đối với người công chính như một lời triệu tập đến hoàng cung của Cha mình: đối với tội nhân, đó là một cuộc hành hình, đối với thánh nhân, đó là sự giũ bỏ. Cái chết đối với kẻ ác là Vua của nỗi kinh hoàng; cái chết đối với thánh nhân là sự kết thúc của nỗi kinh hoàng, là khởi đầu của vinh quang.” (Spurgeon)
iv.“Trong Hội Thánh nguyên thủy, khi họ lặp lại điều khoản trong kinh tin kính, ‘Tôi tin sự sống lại của thân thể,’ họ chỉ vào thân thể mình và nói, etiam hujus carnis, ngay cả xác thịt này.” (Trapp)
v.Chúa Giê-su đã đưa ra một lời tuyên bố vĩ đại: Ta là sự sống lại và sự sống. Ai tin Ta, dù có chết, cũng sẽ sống. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể phán những điều như vậy một cách chân thật.
d.26bNgươi tin điều đó chăng? Chúa Giê-su thách thức Ma-thê không phải tranh luận hay đồng tình về mặt lý trí, mà là tin tưởng. Cô phải tin Chúa Giê-su là Đấng Ngài đã phán và Ngài có thể làm những gì Ngài đã phán.
i.“Ngài không nói, Ngươi có hiểu điều này không?” (Trapp)
ii.“Điều đó có nghĩa là Ngài sẽ không làm cho anh trai bà sống lại nếu bà không tin sao? Không; vì Ngài đã quyết định ‘đánh thức người dậy’ trước khi rời khỏi xứ Pê-rê, bên kia sông Giô-đanh.” (Maclaren)
e.27 Người thưa rằng: Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, là Đấng phải đến thế gian: Ma-thê trả lời đúng. Chúa Giê-su đã và đang là Đấng Mê-si (Đấng Christ). Chúa Giê-su đã và đang là Đức Chúa Trời ở giữa chúng ta (Con Đức Chúa Trời).
i.Tôi tin rằng : “Ở đây, chữ ‘tôi’ được nhấn mạnh. Dù trường hợp của người khác có thế nào, cô ấy vẫn đặt niềm tin vào Chúa Giê-su.” (Morris)
ii.Boice gọi những lời này là chỗ dựa đức tin của Ma-thê – chúng là sự hỗ trợ chắc chắn giúp bà có thể vươn lên cao hơn.
3.(28-32) Sự hối tiếc của Ma-ri.
a.28Người nói xong, liền về, lén kêu em là Ma-ri: Chúng ta không được biết chính xác lý do Ma-thê làm điều này một cách bí mật. Có thể đoán rằng bà làm vậy để giúp Ma-ri có được vài khoảnh khắc riêng tư với Chúa Jesus trước khi đám đông những người đưa tang khác vây quanh họ.
i.28bmà rằng: Thầy ở đằng kia, đương gọi em lại: “Bà ấy gọi Chúa Giê-su là ‘Thầy’ và bài viết này có lẽ rất quan trọng. Trong số những người theo Ngài, Chúa Giê-su được biết đến chủ yếu qua các hoạt động giảng dạy của Ngài. Nhưng Ngài được công nhận là vô song. Ngài là ‘ Người Thầy’.” (Morris)
ii.Người Thầy (διδάσκαλος |didaskalos): “Điều quan trọng cần lưu ý là cách sử dụng thuật ngữ này của một người phụ nữ. Các Ra-bi Giu-đa từ chối dạy dỗ phụ nữ, nhưng Chúa Jesus lại có quan điểm rất khác.” (Morris)
iii.29Ma-ri vừa nghe mấy lời, vội vàng đứng dậy đến cùng Ngài. 30 Vả, Đức Chúa Jêsus chưa vào trong làng, nhưng còn đứng nơi Ma-thê đến đón Ngài. 31 Khi những người Giu-đa đương ở trong nhà với Ma-ri và yên ủi người, thấy người đứng dậy đi ra vội vã như vậy, thì theo sau, vì nghĩ rằng người đến mộ đặng khóc: “Ma-thê nói với Ma-ri rằng Chúa Giêsu đang gọi bà. Đối với Ma-ri, điều này tương đương với một mệnh lệnh hãy đến. Ma-ri không chần chừ mà đã đến ngay với Chúa Giêsu.” (Tenne)
b.32 Nhưng Ma-ri, lúc đã tới nơi Đức Chúa Jêsus đứng, vừa thấy Ngài, thì sấp mình xuống chân Ngài mà nói rằng: Lạy Chúa, nếu có Chúa đây, thì anh tôi không chết! La-xa-rơ có hai chị em gái là Ma-ri và Ma-thê. Ma-thê đã thưa với Chúa Giê-su về bệnh sắp chết của La-xa-rơ, rồi Ma-ri mới lên tiếng. Lời của bà rất giống với lời Ma-thê thưa với Chúa Giê-su (Giăng 11:21).
i.“Có khả năng là họ đã nói điều này với nhau nhiều lần kể từ khi La-xa-rơ chết.” (Bruce)
c.32bLạy Chúa, nếu có Chúa đây, thì anh tôi không chết!: Đây là một trong những đoạn Kinh Thánh mà chúng ta ước mình có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy biểu cảm trên khuôn mặt. Đây có thể là một lời tuyên bố đức tin cao quý, nói rằng nếu Chúa Giê-su ở đó, họ hoàn toàn không nghi ngờ gì rằng Ngài đã chữa lành cho La-xa-rơ. Mặt khác, nó cũng có thể được xem như một lời chỉ trích về sự chậm trễ dường như là điều hiển nhiên của Chúa Giê-su.
C.La-xa-rơ được sống lại.
1.(33-38) Chúa Giêsu rất xúc động khi đến mộ.
a.33Đức Chúa Jêsus thấy người khóc, và những người Giu-đa đi với người cũng khóc, bèn đau lòng cảm động mà phán rằng: Các ngươi đã chôn người ở đâu? 34 Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin hãy lại coi.: Nỗi đau buồn và nước mắt của Maria và Ma-thê đã làm Chúa Giêsu xúc động. Thiên Chúa nhìn thấy những giọt nước mắt đau buồn của họ và động lòng thương xót.
- Chúa nhìn thấy nước mắt của chúng ta.
- Chúa cảm động trước những giọt nước mắt của chúng ta.
- Chúa nhớ đến những giọt nước mắt của chúng ta.
- Chúa hành động để lau khô nước mắt của chúng ta.
b.33bvà những người Giu-đa đi với người cũng khóc: Người Giu-đa vào thời điểm và địa điểm đó không hề giữ kín nỗi buồn hay đau khổ của mình.
i.“Chúng ta phải nhớ rằng đây không phải là một giọt nước mắt nhẹ nhàng. Nó gần như là tiếng than khóc và gào thét cuồng loạn, bởi vì quan điểm của người Giu-đa cho rằng tiếng khóc càng không kiềm chế thì càng thể hiện sự tôn kính đối với người chết.” (Barclay)
ii.Chúa Giê-su thấy người khóc… Chúa Giê-su khóc : Có một sự tương phản quan trọng giữa nước mắt của Ma-ri và nước mắt của Chúa Giê-su. Khóc lóc (từ dùng để chỉ Ma-ri trong Giăng 11:33) là một từ mô tả tiếng than khóc lớn. Khóc lóc (từ dùng để mô tả nỗi đau buồn của Chúa Giê-su trong Giăng 11:35) là một từ khác chỉ sự khóc thầm. Chúa Giê-su rất xúc động, nhưng không mất kiểm soát.
iii.Morris nói về Chúa Giê-su khóc : “Câu được dùng ở đây (và chỉ được dùng trong Tân Ước) ám chỉ một tiếng khóc thầm lặng. Chúa Giê-su không than khóc lớn tiếng nhưng Ngài vô cùng đau buồn.”
c.Đức Chúa Jêsus 33cbèn đau lòng cảm động:Khi đến nơi mộ của La-xa-rơ, Chúa Giê-su rên rỉ trong lòng. Trong tiếng Hy Lạp cổ, cụm từ này có nghĩa đen là ” hít như ngựa” – ám chỉ sự tức giận và phẫn nộ.
i.“Động từ được dịch là ‘rên rỉ’ là một động từ khác thường. Nó biểu thị một tiếng động lớn, không rõ ràng, và cách dùng đúng của nó dường như là tiếng khịt mũi của ngựa. Khi dùng cho nam giới, nó thường biểu thị sự tức giận.” (Morris)
ii.Theo Trench, nghĩa của đau lòng cảm động là “’Và làm phiền chính mình.’ Cụm từ này thật đáng chú ý: cố tình khơi dậy trong chính mình cảm giác phẫn nộ trước sự tàn phá do kẻ ác gây ra, và sự dịu dàng dành cho những người than khóc.”
iii.“Trong tiếng Hy Lạp cổ điển thông thường, cách dùng thông thường của từ embrimasthai là một con ngựa đang khịt mũi. Ở đây, nó hẳn có nghĩa là Chúa Jesus đã xúc động sâu sắc đến mức một tiếng rên rỉ vô thức trào ra từ trái tim Người.” (Barclay)
iv.Điều này có nghĩa là Chúa Giê-su không quá buồn trước cảnh tượng xung quanh ngôi mộ của La-xa-rơ. Chính xác hơn, Chúa Giê-su đã tức giận. Chúa Giê-su đã tức giận và lo lắng trước sự hủy diệt và quyền lực của kẻ thù lớn nhất của nhân loại: sự chết. Chúa Giê-su sẽ sớm đập tan quyền lực thống trị của sự chết.
v.“Đấng Christ không đến mộ như một khán giả nhàn rỗi, nhưng như một đô vật chuẩn bị cho cuộc chiến. Vì vậy, không có gì lạ khi Ngài lại rên rỉ, bởi vì sự thống trị tàn bạo của cái chết mà Ngài phải chiến thắng đang hiện ra trước mắt Ngài.” (Calvin)
d.35Đức Chúa Jêsus khóc: Chúa Giê-su chia sẻ nỗi đau buồn của những người than khóc. Tuy nhiên, không giống bất kỳ ai khác, Chúa Con đã có thể làm điều gì đó cho nỗi đau buồn của họ. Chúa Giê-su đã để cho nỗi đau buồn này hành động độc đáo cho La-xa-rơ, điều mà một ngày nào đó Ngài sẽ làm cho tất cả những người công chính đã chết.
i.Chúa Giê-su khóc : Có nhiều khía cạnh trong những từ này.
- Chúa Giê-su thực sự là một con người.
- Có thể không có tội lỗi hay sự xấu hổ trong nước mắt.
- Chúa Giêsu đã quen với nỗi đau buồn.
- Chúa Giê-su không xấu hổ về nhân tính của Ngài.
- Chúa Giêsu đồng cảm với nỗi đau buồn của người khác.
- Chúa Giê-su yêu thương con người.
ii.“Chúa Jesus có nhân tính hoàn hảo, và nhân tính thuần khiết thì rộng lượng và thông cảm.” (Clarke) “Ngài chịu đựng mọi sự yếu đuối vô tội của bản chất chúng ta.” (Spurgeon)
iii.Trong Kinh Thánh, Chúa Giê-su tôn trọng nước mắt của những người khác đã khóc, và tất cả những ai khóc.
- Áp-ra-ham khóc khi chôn cất Sa-ra.
- Jacob khóc khi vật lộn với Thiên thần.
- Đa-vít và Giô-na-than cùng khóc.
- vua Ê-xê-chia khóc vì bệnh tật của mình.
- Giô-si-a khóc vì tội lỗi của dân tộc mình (2Các Vua 22:11).
- Giê-rê-mi là nhà tiên tri khóc. (Giê-rê-mi 9:1)
iv.“Đôi khi chúng ta được bảo rằng nếu chúng ta thực sự tin rằng bạn bè mình sẽ sống lại, và rằng họ vẫn an toàn và hạnh phúc ngay cả bây giờ, thì chúng ta không thể khóc. Tại sao không? Chúa Giê-su đã khóc. Không thể có sai lầm nào khi bước theo con đường Chúa Giê-su dẫn dắt.” (Spurgeon)
v.Barclay giải thích rằng đối với người Hy Lạp cổ đại, đặc điểm chính của Thần là apatheia : hoàn toàn không có khả năng cảm nhận bất kỳ cảm xúc nào. Người Hy Lạp tin vào một vị Thần cô lập, không đam mê và không thương xót. Đó không phải là Chúa của Kinh Thánh. Đó không phải là Chúa thực sự hiện hữu. vii.36 Người Giu-đa bèn nói rằng: Kìa, người yêu La-xa-rơ là dường nào! “Và khi chúng ta thấy Ngài đổ huyết và mạng sống mình trên thập tự giá vì nhân loại, chúng ta có thể hân hoan và vui mừng kêu lên: Hãy xem Ngài đã yêu thương chúng ta biết bao !” (Clarke)
e.37Có một vài người trong chúng nói: Người đã mở mắt kẻ mù được, há chẳng có thể cũng làm cho người nầy không chết sao? Những lời này dường như xuất phát từ nỗi buồn và sự đồng cảm chân thành. Họ cảm thấy thật đáng buồn khi ngay cả Chúa Giê-su, với tất cả sự vĩ đại của Ngài, cũng không thể làm gì cho La-xa-rơ vào lúc này.
i.“Không có lý do gì để nghĩ rằng những lời nói đó được nói ra một cách chế giễu.” (Morris)
ii.Tuy nhiên, những lời này chẳng giúp ích gì cho ai cả. Spurgeon nhận định rằng tất cả những lời nói “giá như” này đều vô ích, chẳng ích gì. “Có lẽ những nỗi đau buồn cay đắng nhất mà con người từng trải qua không đến từ sự thật, mà từ những điều “giá như” đã có thể xảy ra, như họ tưởng tượng; nghĩa là, họ đào những cái giếng giả định, và uống những dòng nước lợ của sự hối tiếc.” (Spurgeon)
iii.“Giả sử Chúa Giê-su sẵn lòng mở mắt người mù, và quả thật Ngài đã mở mắt họ; vậy thì Ngài có nhất định phải khiến người chết này sống lại không? Nếu Ngài không thấy cần thiết phải làm vậy, thì điều đó có chứng minh rằng Ngài không có quyền năng không? Nếu Ngài để La-xa-rơ chết, thì điều đó có chứng minh rằng Ngài không thể cứu mạng ông ấy không? Chẳng lẽ không có lý do nào khác sao? Đấng Toàn Năng luôn luôn phát huy quyền năng của mình sao? Liệu Ngài có bao giờ phát huy hết quyền năng của mình không?” (Spurgeon)
iv38Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus lại đau lòng nữa, bèn đến phần mộ: Mộ bằng một cái hang, trước cửa hang có một hòn đá chận lại.: “Việc lặp lại cụm từ đau lòng | ‘vô cùng xúc động’ (embrimomenos), phân từ hiện tại của động từ, cho thấy Chúa Giê-su vẫn còn chịu cùng một sự căng thẳng về mặt cảm xúc mà lần đầu tiên Ngài tiếp xúc với những người đưa tang đã khơi dậy.” (Tenney)
2.(39-40) Chúa Giêsu truyền lệnh lăn tảng đá ra.
a.39Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy lăn hòn đá đi: Mọi người đều nghĩ Chúa Giê-su yêu cầu một điều thật kỳ lạ. Suy cho cùng, Ma-thê đã biết Chúa, nhưng lúc này người đã bốc mùi (Bản King James). Có lẽ mọi người nghĩ rằng Chúa Giê-su quá đau buồn đến nỗi Ngài muốn nhìn người bạn thân yêu của mình là La-xa-rơ lần cuối.
b.39bMa-thê, là em gái kẻ chết, thưa rằng: Lạy Chúa, đã có mùi, vì người nằm đó bốn ngày rồi: Trong mọi trường hợp, tình trạng của thi thể là sự xác nhận không thể chối cãi về cái chết của La-xa-rơ.
i.“Từ tiếng Hy Lạp ozw chỉ đơn giản có nghĩa là ngửi, bất kể mùi hương đó là thơm hay hôi; nhưng hoàn cảnh của trường hợp này đủ để chứng minh rằng nghĩa của nó ở đây là mùi thối.” (Clarke)
c.40Đức Chúa Jêsus lại phán: Ta há chẳng từng nói với ngươi rằng nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sao?: Chúa Giê-su hoàn toàn có thể làm phép lạ này mà không cần đức tin của Ma-thê và Ma-ri. Nhưng nếu họ không tin, thì họ sẽ không bao giờ thấy vinh quang của Chúa. Họ có thể thấy kết quả cuối cùng và vui mừng về điều đó, nhưng họ sẽ bỏ lỡ vinh quang khi được cộng tác với Chúa để hoàn thành kế hoạch của Ngài.
3.(41-42) Chúa Giêsu cầu nguyện tại mộ của La-xa-rơ.
a.41Vậy, họ lăn hòn đá đi: Đây là một bước đi đức tin rõ ràng và đáng chú ý. Chúa Giê-su đã thúc đẩy Ma-thê và Ma-ri hành động theo đức tin của họ, và họ đã làm theo lời Chúa Giê-su và lời Ngài yêu cầu cách khác thường.
i.Chúng ta thấy Chúa Giê-su đã tương tác với Ma-thê theo những cách được cố ý thiết kế để củng cố và làm sâu sắc thêm đức tin của bà.
- Chúa Giê-su đã hứa với bà một điều.
- Chúa Giê-su hướng sự chú ý đến chính Ngài.
- Chúa Giêsu kêu gọi bà tuyên xưng đức tin của mình.
- Chúa Giêsu kêu gọi bà hành động theo đức tin của mình.
b.41bĐức Chúa Jêsus bèn nhướng mắt lên trời mà rằng: Có lẽ Chúa Giê-su đang ở tư thế cầu nguyện truyền thống – giơ tay lên, mắt mở to như thể đang nhìn về phía thiên đàng.
c.41c-42Thưa Cha, tôi tạ ơn Cha, vì đã nhậm lời tôi. 42 Tôi biết rõ rằng Cha nhậm lời tôi luôn, nhưng tôi nói vậy là vì cớ đoàn dân nầy đứng chung quanh tôi, hầu cho họ tin rằng ấy chính Cha là Đấng đã sai tôi đến: Chúa Giê-su tin tưởng vào mối quan hệ của Ngài với Đức Chúa Cha. Lời cầu nguyện công khai này là vì Ma-ri, Ma-thê và đoàn dân đang đứng xung quanh. Sức mạnh của lời cầu nguyện bắt nguồn từ những giờ phút cầu nguyện riêng tư của Chúa Giê-su.
i.“Không có sự khoa trương của thần chú, thậm chí không có sự vật lộn trong lời cầu nguyện; mà chỉ là những lời tạ ơn đơn giản, như thể La-xa-rơ đã trở về vậy” (Dods)
ii“Trong thời gian Ngài chịu sỉ nhục trên đất, những hành động quyền năng này được Ngài thực hiện, không phải bởi vinh quang riêng của Ngài mà Ngài đã gạt sang một bên, mà bởi sự hoạt động mạnh mẽ của Chúa Cha trong Ngài, và để đáp lại lời cầu nguyện của Ngài.” (Alford)
4.(43-44) Chúa Giêsu làm cho La-xa-rơ sống lại từ cõi chết.
a.43bHỡi La-xa-rơ, hãy ra! Chúa Giê-su chỉ gọi La-xa-rơ ra khỏi mồ. Những người khác mà Chúa dùng để làm cho người chết sống lại trong Kinh Thánh thường dùng những thủ thuật phức tạp hơn nhiều.
i.kêu lên một tiếng lớn: “Với Giăng, giọng điệu quyết đoán và uy quyền là như vậy.” (Trench)
ii.“Dĩ nhiên, giọng nói lớn không phải là vì cần phải có giọng nói lớn mới khiến người chết nghe được. Có lẽ ít nhất cũng là một phần, để đám đông biết rằng đây không phải là phép thuật, mà là quyền năng của Chúa. Các phù thủy lẩm bẩm những câu thần chú và lời nguyền (x. Ê-sai 8:19). Nhưng Con Đức Chúa Trời thì không như vậy.” (Morris)
iii.“Chúa Giê-su đã từng phán trước đây rằng sẽ đến lúc tất cả những ai ở trong mồ sẽ nghe thấy tiếng Ngài (Giăng 5:28). Dịp này là một minh chứng duy nhất cho thẩm quyền đó.” (Tenney)
b.43Khi Ngài nói xong, bèn kêu lên một tiếng lớn rằng: Chúa Giê-su nói với một xác chết như thể La-xa-rơ còn sống vì Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng ban sự sống cho kẻ chết và gọi những vật không có như thể chúng đã có (Rô-ma 4:17).
i.“Những lời nói ngắn gọn, trực tiếp và mang tính mệnh lệnh, có thể diễn đạt lại là ‘La-xa-rơ ơi! Hãy ra khỏi đây!’ như thể Chúa Jesus đang chỉ đường cho một người lạc lối trong ngục tối u ám.” (Tenney)
ii.“Nếu tiếng nói của Đấng Christ này được hướng đến tất cả những người đã chết, thì họ đã sống lại ngay lập tức.” (Trapp)
c.44 Người chết đi ra: Chúa Giê-su đã chiến đấu với tử thần tại mộ La-xa-rơ và cướp phá ngôi mộ. Chúa Giê-su nói với tử thần rằng Ngài sẽ sớm chiến thắng nó hoàn toàn.
d.44bchân tay buộc bằng vải liệm và mặt thì phủ khăn: La-xa-rơ không sống lại, nhưng được hồi sinh. Ông sống lại trong tình trạng bị trói chặt trong vải liệm, vì ông sẽ cần chúng lần nữa; Chúa Giê-su đã để lại vải liệm của Ngài trong mộ, không bao giờ cần đến chúng nữa.
i.“Tôi không biết ông ấy di chuyển bằng cách nào. Một số nhà văn thời xưa cho rằng ông ấy lướt đi như thể trong không trung, và đó là một phần của phép lạ. Tôi nghĩ có lẽ ông ấy đã bị trói chặt đến mức dù không thể tự do đi lại, nhưng ông ấy vẫn có thể lê bước như một người trong bao tải.” (Spurgeon)
e.44cĐức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Hãy mở cho người, và để người đi: Chúa Giê-su không dùng phép lạ để cởi bỏ vải liệm khỏi La-xa-rơ, nhưng Ngài bảo những người hầu cận làm việc đó. Chúa Giê-su đã làm điều mà chỉ Đức Chúa Trời mới có thể làm, và sau đó Ngài trông đợi sự hợp tác của con người để hoàn tất việc giải cứu La-xa-rơ.
- “Người ấy đã được sống lại hoàn toàn, nhưng chưa được giải thoát hoàn toàn. Hãy xem, đây là một người sống trong bộ đồ quấn của sự chết! ” (Spurgeon)
- “Những gì con người có thể tự làm cho mình, Chúa sẽ không làm cho họ, và những gì cơ đốc nhân có thể làm cho tội nhân, họ không được trông đợi Chúa làm, họ phải tự mình làm việc theo khả năng mà Chúa đã ban cho họ đến mức có thể, và sau đó họ có thể trông đợi sự can thiệp của Chúa.” (Spurgeon)
D.Hai phản ứng.
1.(45) Phản ứng của đức tin: nhiều người Giu-đa… đã tin vào Ngài.
a.45Có nhiều người Giu-đa đã đến cùng Ma-ri: Những người đến chia buồn cùng hai chị em đang đau khổ không ngờ rằng lý do để họ thương tiếc lại bị cất đi.
b.45bvà thấy sự Đức Chúa Jêsus làm, bèn tin Ngài: Đây chắc chắn là một công việc ấn tượng của Đức Chúa Trời, và đối với nhiều người, điều này đã giúp họ tin vào Đấng mà Chúa Giê-su phán Ngài là ai khi chứng kiến những việc Ngài đã làm.
- (46-48) Nỗi lo lắng của các nhà lãnh đạo tôn giáo.
a.46 Nhưng một vài người trong bọn đó đi tìm người Pha-ri-si, mách cho họ sự Đức Chúa Jêsus đã làm: Giăng tiếp tục chủ đề dai dẳng của mình – rằng lời nói và việc làm của Chúa Giê-su chia rẽ nhân loại thành những người tin và những người chối bỏ. Có một vài người đã thấy cả quyền năng và lòng thương xót của Chúa Giê-su nhưng lại phản ứng bằng cách chống lại Ngài.
i.“Thật kinh ngạc! Một số người đã chứng kiến phép lạ này nhưng vẫn quyết tâm chống lại; và không chỉ vậy, họ còn âm mưu hủy diệt Đấng Cứu Thế nhân từ, đáng kính mến và vinh quang nhất này!” (Clarke)
ii.Spurgeon gọi việc báo cáo điều này với người Pha-ri-si là “một trong những hành vi đê tiện nhất từng được ghi nhận trong lịch sử loài người”.
iii.nhóm tòa công luận | Triệu tập một hội đồng: Mặc dù không chính thức, “Đó là một cuộc họp của Tòa Công luận Giu-đa (Sanhedrin). Người được Giăng tin cậy để tường thuật những gì đã diễn ra ở đây là Giô-sép người A-ri-ma-thê hoặc Ni-cô-đem hoặc một thành viên khác của Tòa Công luận Giu-đa, người sau này trở thành Cơ Đốc nhân.” (Trench)
b.47Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nhóm tòa công luận, bàn rằng: Người nầy làm phép lạ nhiều lắm, chúng ta tính thế nào?: Các nhà lãnh đạo tôn giáo đã kín đáo thừa nhận rằng Chúa Giê-su đã làm những dấu lạ để chứng thực lời tuyên bố của Ngài là Đấng Mê-si và là Đức Chúa Trời. Như Chúa Giê-su đã tuyên bố, các việc làm của Ngài đã làm chứng về Ngài (Giăng 10:25).
i.Sự phản đối của họ đã thay đổi. Ban đầu, họ chống đối Chúa Giê-su vì họ không tin Ngài là Đấng Mê-si. Giờ đây, họ chống đối Chúa Giê-su vì họ tin Ngài là Đấng Mê-si. Họ thừa nhận các phép lạ, nhưng hãy xem cách họ đối xử với Đấng Làm Phép Lạ:
- Họ chối bỏ Ngài.
- Họ chống đối Ngài.
- Họ sợ ảnh hưởng của Ngài đối với dân chúng.
c.48 Nếu chúng ta để cho người làm, thì thiên hạ tin người: Các nhà lãnh đạo tôn giáo biết rằng phản ứng hợp lý trước lời chứng về công việc của Chúa Giê-su là tin Ngài. Họ sợ rằng ngày càng có nhiều người sẽ làm như vậy.
i.Câu nói này gợi lên một ý tưởng tuyệt vời, nếu chúng ta để cho người làm, thì thiên hạ tin người – đơn giản là khi được để yên, Chúa Giê-su sẽ bày tỏ vinh quang của Ngài.
ii.Tuy nhiên, theo nghĩa mà người Pha-ri-si hiểu, họ đã sai lầm. “Xét về mặt lịch sử, và theo ý muốn tối cao của Đức Chúa Trời, chúng ta tin và thờ phượng Đấng Christ chính vì người Pha-ri-si đã không để yên cho Chúa Giê-su, Đấng mà chúng ta tin và thờ phượng” (Morrison)
d.48brồi dân Rô-ma sẽ đến diệt nơi nầy và cả nước chúng ta nữa: Khi Chúa Giê-su thu hút ngày càng nhiều tín đồ, các nhà lãnh đạo tôn giáo lo sợ rằng người La Mã sẽ coi đó là một mối đe dọa đáng kể. Đặc biệt muốn duy trì quyền lực và uy tín của mình, họ tự hỏi làm thế nào để giải quyết vấn đề Chúa Giê-su.
i.Hầu hết các nhà bình luận đều tin rằng “nơi nầy” ám chỉ đền thờ. Các nhà lãnh đạo tôn giáo đã tạo ra một thần tượng trong đền thờ đến mức họ sẵn sàng giết Chúa Giê-su để bảo vệ nó.
ii.”nơi nầy” mà họ lo sợ sẽ bị lấy đi chính là đền thờ (‘nơi thánh này’ trong Công vụ 6:13f.; 21:28).” (Bruce)
iii. Điều đáng nói là các nhà lãnh đạo tôn giáo đã nghĩ đền thờ là nơi nầy của chúng ta, như thể nó thuộc về họ. Nhiều nhà lãnh đạo giáo hội ngày nay cũng làm như vậy, thực sự nghĩ về nhà thờ như là nhà thờ của chúng ta thay vì thực sự hiểu rằng nó thuộc về Chúa Giê-su.
iv.Thật bi thảm, sự chối bỏ Chúa Giêsu này đã dẫn đến sự sụp đổ chính trị và cuối cùng là sự hủy diệt của cả dân tộc. “Vào thời điểm Phúc Âm này được viết ra, thảm họa mà họ lo sợ đã xảy ra, nhưng không phải vì sự hiện diện và hoạt động của Chúa Giêsu.” (Bruce)
3.(49-52) Lời khuyên của Cai-phe.
a.49-50 49 Nhưng một người trong bọn họ, tên là Cai-phe, làm thầy cả thượng phẩm đương niên, nói rằng: Các ngươi chẳng biết gì hết! 50 Các ngươi chẳng xét rằng thà một người vì dân chịu chết, còn hơn cả nước bị hư mất: Cai-phe nghĩ theo logic nhưng không theo đạo đức. Việc một người chết thay cho dân là hợp lý, nhưng việc chối bỏ Đấng Messiah và tìm cách giết một Người vô tội là phi đạo đức.
i.Cai-phe Là thầy tế lễ thượng phẩm NĂM ĐÓ (BDM2011, BDM2002): “Ông là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm trong suốt thời kỳ Bôn-xơ Phi-lát làm Tổng đốc, mười một năm. Trong cụm từ “đương niên” | NĂM ĐÓ, không có dấu hiệu nào cho thấy chức vụ Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm được thay đổi hàng năm, mà thực tế không phải vậy, nhưng chúng ta phải hiểu cụm từ này như đang hướng sự chú ý đến “năm (đáng chú ý) đó ”. (Alford)
ii.49bCác ngươi chẳng biết gì hết!: “Theo Josephus, người Sa-đu-sê nổi tiếng là thô lỗ, ngay cả với nhau.” (Bruce)
iii.50aCác ngươi chẳng xét rằng: “Một từ được dùng để chỉ việc tính toán sổ sách và những việc tương tự. Ông ấy đang nói rằng họ thậm chí không thể tính toán, không thể xác định được rằng phương án hành động nào đó là phương án thích hợp nhất.” (Morris)
b.51aVả, người nói điều đó chẳng phải tự mình: Cai-phe đã đưa ra một lời tiên tri vô thức và ngoài ý muốn. Giăng đã cẩn thận chi công cho chức vụ, chứ không phải cho cá nhân ông (51bnhưng bởi làm thầy cả thượng phẩm đương niên, người nói tiên tri về Đức Chúa Jêsus sẽ vì dân mà chết).
i.“Ông ta thúc giục họ giết Chúa Jesus: nhưng cách dùng từ của ông ta lại vô tình mang tính tiên tri.” (Trench)
ii.“Đường tốt có thể được tìm thấy trong một cây mía tẩm thuốc độc, một viên đá quý trong đầu một con cóc, một ngọn đuốc đang cháy trong tay một người mù.” (Trapp)
c.52và không những vì dân thôi, mà cũng để nhóm con cái Đức Chúa Trời đã tản lạc lại làm một đoàn: Giăng giải thích rằng lời tiên tri vô thức của Cai-phe còn lớn lao hơn những gì ông có thể tưởng tượng. Cái chết của Chúa Giêsu cũng sẽ quy tụ chiên của một đàn khác về một đàn mà Chúa Giêsu đã nói trước đó (Giăng 10:16).
i.“Lời của Cai-phe chưa đủ lớn. Giăng có tầm nhìn bao quát toàn thế giới.” (Morris)
4.(53-54) Âm mưu giết Chúa Giêsu
a.53Từ ngày đó, chúng lập mưu giết Ngài: Trước đây, phần lớn các chức sắc tôn giáo cấp thấp muốn giết Chúa Giê-su. Đến lúc này, những người có quyền lực chính trị thực sự đã quyết định giết Chúa Giê-su. Thời gian chờ đợi Chúa Giê-su chết đã gần kề.
i.Maclaren bày tỏ suy nghĩ của hội đồng | Tòa công luận: “Đừng bận tâm đến những phép lạ, lời dạy hay vẻ đẹp trong tính cách của Ngài. Cuộc sống của Ngài là mối nguy hiểm thường trực đối với đặc quyền của chúng ta. Tôi bỏ phiếu cho cái chết!”
ii.“Dấu hiệu cuối cùng này đã khiến kẻ thù của Ngài phải phản đối bằng hành động cụ thể.” (Morgan)
b.54Cho nên, Đức Chúa Jêsus không tỏ mình rõ ràng trong vòng dân Giu-đa nữa, song Ngài đi trong miền gần đồng vắng, nơi một thành gọi là Ép-ra-im; và ở lại đó với môn đồ: Một lần nữa, Chúa Giê-su không làm điều này vì sợ hãi, nhưng vì giờ của Ngài chưa đến (như trong Giăng 7:30). Giờ đó chưa đến, nhưng nó sắp đến.
i.Một thành phố tên là Ép-ra-im : Thành phố này nằm ở phía bắc Giê-ru-sa-lem, gần Sa-ma-ri. “Thành Ép-ra-im này chính là Ép-rôn trong 2 Sử Ký 13:19 = Óp-ra trong Giô-suê 18:23: nó đã nhiều lần đổi chủ, giữa Bên-gia-min và Ép-ra-im, trong các cuộc chiến tranh xưa.” (Trench)
5.(55-57) Tìm kiếm Chúa Giêsu trong lễ Vượt Qua.
a.55-56 55 Lễ Vượt Qua của dân Giu-đa gần đến, có lắm người trong xứ lên thành Giê-ru-sa-lem trước ngày lễ để tẩy uế.: Điều này có nghĩa là đó là những ngày cuối cùng trước Lễ Vượt Qua sắp tới – ngày mà Chúa Giê-su sẽ bị phản bội, bị bắt, bị kết án và bị đóng đinh.
i.“Một số nghi lễ thanh tẩy mất một tuần, những nghi lễ khác chỉ bao gồm việc cạo đầu và giặt quần áo.” (Dods)
ii.56 Vậy, chúng kiếm Đức Chúa Jêsus, và đứng trong đền thờ, nói với nhau rằng: Các ngươi tưởng thế nào? Người không đến giữ lễ hay sao? “Câu hỏi thứ hai của họ dường như cho thấy họ mong đợi câu trả lời là ‘Không’… Họ cho rằng khó có khả năng Ngài lại liều lĩnh đến mức xuất hiện trong hoàn cảnh này.” (Morris)
b.57Vả, các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đã ra lịnh, nếu ai biết Đức Chúa Jêsus ở đâu, thì phải mách với họ, để họ bắt Ngài: Hầu hết các thầy tế lễ cả là người Sa-đu-sê (Sa-đốc) và thường không hợp tác với người Pha-ri-si. Họ tìm thấy điểm chung trong việc chống đối Chúa Giê-su.
https://enduringword.com/bible-commentary/john-11/