THI THIÊN 116 TRẢ SỰ HỨA NGUYỆN BẰNG SỰ TẠ ƠN
Thi thiên 116-Tạ ơn Chúa nhiều hơn(DE)
1)CÁC THI THIÊN HALLEL 113-118
2.(1-11) YÊU MẾN CHÚA LÀ ĐẤNG ĐÁP LỜI CẦU NGUYỆN
3.(12-19) MỘT ĐỜI SỐNG CAM KẾT BẰNG SỰ TẠ ƠN
Một cậu bé bị mẹ đánh chỉ vì điểm 6/10 môn học thuộc lòng, vì mẹ cậu đã giao hẹn trước là môn học thuộc lòng là môn dễ nhất, vì chỉ cần cù là học được, không quá sức, nên cậu phải phấn đấu 8 điểm trở lên.
Để không rơi vào sự khoe mình kiêu ngạo, tôi mượn câu chuyện trên. Thi thiên 116 tôi đã thuộc lòng khoảng 25 năm trước đây, nhưng thành thật mà nói, ít khi tôi ôn lại, trong thời gian vừa rồi, nhờ Chúa cho tôi ôn lại được và rất được phước. Nguyện xin Chúa cho những điều học được nhắc nhở chính tôi và anh chị em, cùng nhau thi đua đọc Kinh Thánh, và nhất là học thuộc lời Chúa. Những đoạn Kinh Thánh mà chúng ta yêu thích.
Bài Thi thiên này giúp chúng ta hiểu quân bình về mối quan hệ giữa tôi và Chúa. Đôi khi lời cầu nguyện chúng ta chỉ tập trung vào chính mình, đôi khi chúng ta dành 95% cầu nguyện lên với Chúa, và 5% cho mình, nhưng thật với lòng mình, chúng ta không giấu được Chúa sự ích kỷ còn ẩn khuất trong chúng ta, mong Ngài quan tâm đến chúng ta nhiều hơn.
Sợi Chỉ Đỏ Xuyên Suốt Kinh Thánh: Sự thương xót và nhân từ Đức Chúa Trời là điều khiến Đức Chúa Trời hành động vì chúng ta. Chúng ta là đối tượng của lòng thương xót của Ngài. Đáp lại điều đó, nghĩa vụ chúng ta là thờ phượng Ngài, vâng lời, và bước đi trong công việc Ngài (Ê-phê-sô 2:10)
Kinh Thánh làm chứng về Chúa Giê-xu (Giăng 5:39), Ngài đến để tìm và cứu kẻ bị mất (Lu-ca 19:10). Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, là Đấng Cứu Chuộc, con người là phạm tội và hư mất đời đời.
Đức Chúa Trời tạo dựng chúng ta vì sự vinh hiển Ngài (Ê-sai 43:7; Rô-ma 11:36). A-đam và Ê-va có bổn phận là vâng lời, và công việc Ngài giao trồng và giữ vườn. Dân Israel sau khi được cứu khỏi Ê-díp-tô, Ngài ban cho họ 10 điều răn. Họ phải đáp lại lòng thương xót bằng sự vâng lời, giữ giao ước Ngài.
Truyền đạo 12: 13 Chúng ta hãy nghe lời kết của lý thuyết nầy: Khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi. 14 Vì Đức Chúa Trời sẽ đem đoán xét các công việc, đến nỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện hoặc ác cũng vậy.
Nên nhớ điều làm Chúa đẹp lòng không phải chúng ta làm bởi nghĩa vụ thôi, mà cả bởi lòng mong muốn, khát khao, xuất phát từ sự sẵn lòng, vừa muốn vừa làm, đáp lại tình yêu thương Đức Chúa Trời.
Tác giả bày tỏ cảm xúc của mình: yêu mến Chúa, tuôn đổ lòng mình với Chúa. Ông nói với Chúa ở ngôi hai (tức là nói chuyện trực tiếp với Chúa) và ngôi ba (tức là tác giả tự sự, về Chúa trong ngôi ba)
Những câu Kinh Thánh lặp lại trong Thi thiên 116:
3x kêu cầu danh Đức Giê-hô-va (câu 4, 13, 17)
2x Trả sự hứa nguyện (câu 14,18)
7x thưa lên với Chúa (câu 2,4,13,16,17,19)
Đối tượng nói chuyện của tác giả:
(1) tác giả tự sự, và (2) nói chuyện với Chúa
Tác giả đặt câu hỏi (câu 12) và tự đưa câu trả lời (từ câu 13)
1)CÁC THI THIÊN HALLEL 113-118: Chúng ta tìm thấy SỰ TẠ ƠN xuyên suốt trong Kinh Thánh. Con người bắt đầu dâng tế lễ để tỏ lòng biết ơn Chúa. Dân Y-sơ-ra-ên đã hát một bài ca tạ ơn khi họ được giải cứu khỏi quân đội của Pha-ra-ôn sau khi vượt qua Biển Đỏ (Xuất Ê-díp-tô Ký 15). Sau này, Luật pháp Môi-se dành riêng ba lần mỗi năm để dân Y-sơ-ra-ên nhóm họp. Cả ba dịp lễ này [Lễ Bánh Không Men (còn gọi là Lễ Vượt Qua) (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:15-20), Lễ Mùa Gặt hay Lễ Ngũ Tuần (Lê-vi Ký 23:15-21), và Lễ Thu Hoạch hay Lễ Lều Tạm (Lê-vi Ký 23:33-36)] đều liên quan đến việc TƯỞNG NHỚ sự chu cấp và ân điển của Đức Chúa Trời. Lễ Mùa Gặt và Lễ Lều Tạm diễn ra cụ thể liên quan đến sự chu cấp của Đức Chúa Trời trong mùa thu hoạch các loại cây ăn quả và mùa màng khác nhau. Sách Thi Thiên chứa đầy những bài ca tạ ơn, cả về ân điển của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên nói chung qua những công việc vĩ đại của Ngài, cũng như về ân điển riêng của Ngài dành cho mỗi người chúng ta.
Thi Thiên 113—118 được gọi là Thi Thiên Hallel, hay đơn giản là Hallel (Hallel có nghĩa là “ngợi khen”). Mặc dù nhiều Thi Thiên ca ngợi Đức Chúa Trời, nhưng bộ Thi Thiên này lại gắn liền với Lễ Vượt Qua do Thi Thiên 114 đề cập đến sự giải cứu khỏi Ai Cập. Việc tập trung vào cuộc Xuất Hành là lý do tại sao những Thi Thiên này đôi khi cũng được gọi là Hallel Ai Cập. Những Thi Thiên này được đọc trong các lễ hội của người Hê-bê-rơ, đặc biệt là Lễ Vượt Qua. Tùy thuộc vào truyền thống được tuân theo, một hoặc hai Thi Thiên được đọc trước bữa ăn, và phần còn lại được đọc sau bữa ăn.
Thi Thiên 116 được viết từ góc nhìn của một người đã được giải cứu khỏi một tình huống khốn cùng. Chúa Giê-su đã hát cùng các môn đồ vào đêm Ngài bị phản bội và bắt giữ (Ma-thi-ơ 26:30 và Mác 14:26), … “ý nghĩa trọn vẹn của nó đã được ứng nghiệm khi Chúa Giêsu, giữa nhóm nhỏ những tâm hồn hoang mang, bóng tối của sự chết đã bao trùm, cất lên bài ca chiến thắng đầy tiên tri này trước giờ phút đau khổ khốc liệt mà Người sắp phải chịu. Người đã để lại bài ca này cho tất cả những ai thuộc về Ngài như một bài ca chiến thắng sự chết” (G. Campbell Morgan)
2.(1-11) YÊU MẾN CHÚA LÀ ĐẤNG ĐÁP LỜI CẦU NGUYỆN
Bài Thi Thiên này mở đầu theo một cách khá độc đáo, với lời tuyên bố tình yêu dành cho Chúa (câu 1). Thông thường, tác giả Thi Thiên thường nói về việc tin cậy Chúa, tìm kiếm sự nương náu nơi Chúa, hoặc chờ đợi Chúa. Từ “yêu” (ʼāhab) không mang ý nghĩa cảm xúc mà là một lời cam kết trung thành. Tình yêu là một lời giao ước.
Bài Thi thiên bắt đầu bằng lời bày tỏ tình yêu biết ơn chân thành nhất, một tình yêu lớn lao dành cho Đức Giê-hô-va vì Ngài đã đáp lời cầu nguyện trong lúc tuyệt vọng. Đây là tình yêu từ đáy lòng, không phải ích kỷ, vì Chúa làm gì cho tôi. Tình yêu này không phải mù quáng, nhưng khi chúng ta yêu Chúa, tình cảm chúng ta sẽ thức dậy, cùng với những xác quyết vững chắc nhất.
Câu 3: Dây sự chết đã quấn lấy tôi (BD2011)…nỗi đau của Âm Phủ: “Trong thơ ca Cựu Ước, cái chết và Âm Phủ rất hung hãn, bám chặt lấy người sống để tàn phá họ bằng bệnh tật hoặc đè bẹp họ bằng sự tuyệt vọng; vì vậy, hoàn cảnh của người thi sĩ có thể cũng là một căn bệnh tuyệt vọng, hoặc (như Thi Thiên 116:11 gợi ý) một trải nghiệm đau thương và vỡ mộng. Giống như Gióp, nó cũng có thể là cả hai.” (Kidner)
Có lẽ khi hát câu này, Chúa Giê-su đã nghĩ đến những tấm vải lanh sẽ sớm được quấn quanh thi thể Ngài.
Câu 4: Nhưng tôi kêu cầu danh Đức Giê-hô-va, rằng: Đức Giê-hô-va ôi! cầu xin Ngài giải cứu linh hồn tôi. Tác giả Thi thiên
- Đến trực tiếp với Chúa: Lạy Chúa.
- Cảm động sâu sắc: Con cầu xin Ngài.
- Nói thẳng nhu cầu: cầu xin Ngài giải cứu linh hồn tôi.
5 Đức Giê-hô-va hay làm ơn, và là công bình; Đức Chúa Trời chúng ta có lòng thương xót. 6 Đức Giê-hô-va bảo hộ người thật thà;Tôi bị khốn khổ, Ngài bèn cứu tôi. 7 Hỡi linh hồn ta, hãy trở về nơi an nghỉ ngươi; Vì Đức Giê-hô-va đã hậu đãi ngươi.
Trước khi vâng phục chịu thử thách đau khổ và bị đóng đinh, Chúa Giê-su đã hát những lời này cùng với các môn đồ của Ngài. Ngài làm chứng cho sự thật rằng Đức Chúa Trời là Đấng nhân từ, công chính và thương xót trước, trong và sau thử thách của Ngài.
Chân lý tác giả biết: 6 Đức Giê-hô-va bảo hộ người THẬT THÀ. ( פֶּ֫תִי (pe.ti) đơn giản (H6612A)Từ này: xuất hiện khoảng 18 lần. Trong châm ngôn 14 lần, dịch là kẻ khờ, ngây ngô. Nghĩa tính từ: đơn giản, ngớ ngẩn, cởi mở)
⁷Hỡi linh hồn ta, hãy trở về nơi an nghỉ ngươi; vì Đức Giê-hô-va đã hậu đãi ngươi: Trong một thời gian, cơn khủng hoảng như cái chết đã làm phiền lòng tác giả Thi Thiên. Giờ đây, ông có thể suy ngẫm về cách Chúa đã hậu đãi ông, và ông đã trở về với trạng thái an nghỉ trước đây. Có sự an nghỉ đích thực cho linh hồn chúng ta trong sự ban phước của Chúa.
“Từ ‘nghỉ ngơi ‘ được đặt ở dạng số nhiều, để chỉ sự nghỉ ngơi hoàn toàn và trọn vẹn, mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh.” (Edersheim, được trích dẫn trong Spurgeon)
⁹Tôi sẽ đi trước mặt Đức Giê-hô-va trong đất kẻ sống: Đây là những lời tạ ơn của tác giả Thi Thiên SAU KHI được giải cứu. Chúa Giê-su hát lên trong đức tin trước mỗi cơn thống khổ trên thập tự giá. Ngài có thể bước đến thập tự giá với lòng tin chắc rằng sau khi chịu khổ, Ngài sẽ lại bước đi trong đất kẻ sống.
.“Bước đi trước mặt Đức Giê-hô-va, giống như cách diễn đạt trong Tân Ước là ‘bước đi trong sự sáng’,
10Tôi tin, nên tôi nói. Tôi đã bị buồn thảm lắm: Nói lời đức tin giữa hoạn nạn. Phao-lô cũng có kinh nghiệm trong 2 Cô-rinh-tô 4:13-14
Câu ¹¹Trong cơn bối rối (vội vã) tôi nói rằng: Mọi người đều nói dối: tất cả mọi người đều nói dối, đều phạm tội, nhưng Chúa Giê-xu thì không.
“Nói năng hấp tấp thường dẫn đến sự ăn năn cay đắng. Thà im lặng khi tâm hồn ta bị tứ bề xáo trộn còn hơn, vì nói ra dễ hơn là rút lại lời nói; ta có thể ăn năn về lời nói của mình, nhưng ta không thể nhớ lại chúng để sửa chữa những sai lầm mà chúng đã gây ra.” (Spurgeon)
¹²Tôi sẽ lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va về các ơn lành mà Ngài đã làm cho tôi? Người viết Thi Thiên đã khôn ngoan suy ngẫm tôi như vậy mà tại sao Chúa lại tốt với mình như vậy thay vì tại sao ông lại gặp phải vấn đề.
Ông biết rằng vấn đề luôn có. Kêu cầu Chúa khi gặp hoạn nạn, khiến ông hướng lòng về Chúa hơn là tìm cách thoát nan đề.
Câu 13-14: 13 Tôi sẽ cầm cái chén cứu rỗi (BD2017,BDM2002: Tôi sẽ nâng chén cứu rỗi lên), mà cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va
14 Tôi sẽ trả xong cho Đức Giê-hô-va các sự tôi hứa nguyện, tại trước mặt cả dân sự Ngài.
Câu trả lời nằm trong các câu 13-14 với ba lời tuyên bố. Thứ nhất, tác giả Thi Thiên hứa sẽ “nâng chén cứu rỗi” (câu 13a). Ban đầu, “chén cứu rỗi” có lẽ ám chỉ đến lễ vật dâng lên (xem Xuất Ê-díp-tô Ký 29:40 BDM2002 Cùng với con cừu thứ nhất, con dâng hai lít bột mịn trộn với một lít dầu ép từ trái ô-liu, và một lít rượu nho để làm lễ quán). Nhưng sau này, truyền thống liên kết chén với phần dâng rượu trong Lễ Vượt Qua. Thi Thiên 116 (cùng với Thi Thiên 115 và 117-118) được đọc liên quan đến chén thứ tư (lễ vượt qua của người Giu-đa có 4 chén, Xuất Ê-díp-tô ký 6:6-7: Chén Thánh Hóa, Chén Phán Xét, hay giải cứu, Chén cứu chuộc, Chén Ca Ngợi, hay phục hồi). Đối với Cơ Đốc nhân, chén này ám chỉ sự cứu rỗi được tìm thấy trong Chúa Giê-su Christ, Đấng đã diễn giải lại yếu tố này bằng cách đồng nhất chén với sự chết hy sinh của Ngài và giao ước mới phát sinh từ đó (Ma-thi-ơ 26:27-28 27 Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi; 28 vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội.; Mác 14:23-24; Lu-ca 22:20 Khi ăn xong, Ngài cũng làm như vậy, lấy chén đưa cho môn đồ, mà phán rằng: Chén nầy là giao ước mới trong huyết ta vì các ngươi mà đổ ra).
.“Chỉ một lát sau bài hát này, trong vườn Ghết-sê-ma-nê, Ngài đã nói về một chén, và hoàn toàn vâng phục ý muốn của Cha Ngài, Ngài đã bằng lòng uống chén ấy. Đó là chén đau buồn, cay đắng, nguyền rủa. Sau khi cạn chén, Ngài đã đổ đầy nó bằng niềm vui, sự ngọt ngào, và phước lành. Khi chúng ta cầm chén ấy, xin đừng bao giờ quên cái giá mà Ngài đã phải trả để đổ đầy chén ấy cho chúng ta.” (Morgan)
Câu trả lời thứ hai cho điều người viết Thi Thiên có thể đáp lại Chúa chỉ đơn giản là “cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va” (câu 13b). Câu này gợi nhớ đến lời tuyên bố trong câu 2. Một lần nữa, người viết Thi Thiên cam kết thể hiện lòng trung tín với Chúa bằng cách nương cậy nơi Ngài. Câu trả lời thứ ba cho cách người viết Thi Thiên đáp lại lòng nhân từ của Chúa nằm ở những lời hứa nguyện trước hội chúng (câu 14, 18). Lời hứa nguyện này có lẽ được thực hiện ban đầu khi người viết Thi Thiên cầu xin sự giúp đỡ (xem Thi Thiên 65:1, 66:14). Giờ đây, lời hứa nguyện được nhắc lại và người viết Thi Thiên “trả” hoặc hoàn thành lời hứa nguyện, có lẽ bằng cách dâng lễ vật trước sự chứng kiến của hội chúng.
3.(12-19) MỘT ĐỜI SỐNG CAM KẾT BẰNG SỰ TẠ ƠN
15 Sự chết của các người thánh. Là quí báu trước mặt Đức Giê-hô-va. 16 Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi thật là tôi tớ Ngài; Tôi là tôi tớ Ngài, con trai con đòi của Ngài; Ngài đã mở lòi tói tôi. (11x trong KT, xiềng xích, dây trói) 17 Tôi sẽ dâng của lễ thù ân cho Chúa, và cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va. (của tế lễ của sự cảm tạ)
(câu 15) CÁCH CHÚA ĐỐI VỚI SỰ CHẾT
Dường như câu 15 chuyển sang một hướng hoàn toàn khác. Đó là về sự chết của các người Thánh.
Chúng ta nợ Chúa không chỉ lời cảm tạ mà còn cả đời sống và sự vâng phục của chúng ta. Chúa Giê-su là Chúa, dù chúng ta có hiểu và tin điều đó hay không. Từ “quý báu” ở đây cũng có thể được dịch là “đắt giá”. Nó thậm chí có thể mang nghĩa là đau buồn tột độ đối với Chúa.
Nói cách khác, Chúa biết khi nào dân Ngài qua đời. Đó không phải là một sự kiện ngẫu nhiên hay tầm thường, ngay cả đối với Chúa. Chính tác giả Thi Thiên đã nhận ra điều đó khi ông đứng trước ngưỡng cửa sự chết và kêu cầu Chúa—Chúa quan tâm đến những gì đang xảy ra với ông.
Đức Chúa Trời coi cái chết của các vị tử đạo của Ngài là đặc biệt quý giá. “Dù họ đã bị ném cho thú dữ trong đấu trường, hay bị ngựa hoang kéo lê đến chết, hay bị giết trong ngục tối, hay bị tàn sát giữa tuyết trắng trên dãy Alps, hay bị bắt làm thức ăn cho Smithfield bằng máu của họ, thì máu của họ vẫn quý giá, và vẫn luôn quý giá trong mắt Ngài.” (Spurgeon)
Mặc dù sự chết là một lời nguyền rủa và một kẻ thù, nhưng nó vẫn quý giá vì nó xóa bỏ những rào cản còn lại giữa Đức Chúa Trời và các thánh đồ của Ngài, và là cánh cửa dẫn đến sự thông công trọn vẹn vĩnh cửu. “Sự chết đối với các thánh đồ không phải là một hình phạt, không phải là sự hủy diệt, thậm chí không phải là một mất mát.” (Spurgeon)
Khi Baxter hấp hối, và bạn bè đến thăm, gần như lời cuối cùng ông nói là để trả lời câu hỏi: ‘Thưa ông Baxter, ông khỏe không?’ ‘Gần khỏe rồi,’ ông đáp, và đúng là vậy. Cái chết chữa lành; đó là liều thuốc tốt nhất, bởi vì người chết không chỉ gần khỏe mà còn được chữa lành mãi mãi.” (Spurgeon)
Khi Chúa Giê-su hát những lời này với các môn đồ vào đêm trước khi Ngài chịu chết (Ma-thi-ơ 26:30, Mác 14:26), những lời này thật mạnh mẽ và mang tính tiên tri. Chúa Giê-su là Đấng thánh khiết tối cao và sự chết của Ngài vô cùng quý báu, vượt trên mọi sự tính toán.
18 Tôi sẽ trả xong cho Đức Giê-hô-va các sự tôi hứa nguyện, tại trước mặt cả dân sự Ngài, 19 Trong hành lang của nhà Đức Giê-hô-va, ở giữa Giê-ru-sa-lem. Ha-lê-lu-gia!
Lễ vật tạ ơn trong Lê-vi Ký 7:12 (BHĐ Nếu người ấy dâng tế lễ để cảm tạ thì cùng với lễ vật cảm tạ, phải dâng bánh nhỏ không men pha dầu, bánh tráng không men phết dầu, và bánh làm bằng bột lúa mì trộn kỹ với dầu) như một sự đáp lại xứng đáng cho những hành động nhân từ của Đức Chúa Trời. Điểm chính của Thi Thiên 116:17-19 là tính chất công khai của lễ vật. Tác giả Thi Thiên sẽ dâng lễ vật “trước mặt toàn dân mình” (câu 18b) và “trong hành lang nhà Đức Giê-hô-va” (câu 19a). “Hành lang” ở đây ám chỉ khuôn viên đền thờ Giê-ru-sa-lem, nơi thờ phượng chính của dân Giu-đa.
Miến điện có 10 sắc dân cùng có niềm tin rằng sẽ có một quyển sách quí đến từ phía tây, đem ánh sáng cho họ. Nhà truyền giáo Báp tít Judson người mỹ năm 1817 đến Rangoon Miến điện. Vì không có người cải đạo, ông đã dành thời gian đó để dịch Kinh Thánh sang tiếng Miến điện. Một người thuộc tộc karen, đến nhà Judson làm thuê. Từng giết khoảng 30 người. Khi được nghe về tin lành, Ko Thah-byu đã mở lòng tin và đó là người Karen đầu tiên cải đạo. Ông biết rằng Kinh Thánh là quyển sách mà người tộc ông có nói đến, và nó đến từ phương tây. Người Karen gọi Thần của họ là Y’wa.
Dân tộc Karen lúc bấy giờ với 800.000 người, sẵn sàng chào đón nhà truyền giáo đầu tiên đến với một cuốn Kinh Thánh và sứ điệp giải cứu từ Chúa.
Là cơ đốc nhân khi đọc Thi thiên 116, không chỉ hiểu hư những công việc Chúa giải cứu trong quá khứ, mà trọng tâm hơn là một nguồn hy vọng cho sự giải cứu trong tương lai. Chúa Giê-xu đã chịu khổ nạn vì chúng ta, Ngài đã vượt qua. Chúng ta được phép dự phần với Đấng Christ trong sự chết Ngài, chia sẻ sự đau khổ của Ngài, sự hy sinh của Ngài, chúng ta cũng sẽ được cùng sống lại với Ngài.
Một của lễ tạ ơn không thực sự là một của lễ nếu nó đến mà không cần bất kỳ nỗ lực hay phí tổn nào. Một của lễ xứng đáng luôn phải trả giá
Trên thập tự giá trên đồi Gô-gô-tha, Chúa Giê-su ĐÃ TRẢ GIÁ cho tội lỗi của chúng ta, để một Đấng Phán Xét thánh khiết và công chính CÓ THỂ THA THỨ tội lỗi chúng ta và ban cho chúng ta sự sống đời đời như một món quà miễn phí.
Trong cuộc sống, sẽ luôn có những điều chúng ta có thể phàn nàn nhưng cũng sẽ có nhiều điều để biết ơn Chúa. Chúng ta hãy bớt hỏi tại sao nan đề xảy ra với mình, và cùng tin cậy tìm kiếm Chúa, tạ ơn Chúa mọi hoàn cảnh nhiều hơn. Amen!