Lê-vi Ký 27 – Về Những Điều Đã Được Biệt Dâng Cho Đức Chúa Trời

Lê-vi Ký 27 – Về Những Điều Đã Được Biệt Dâng Cho Đức Chúa Trời

A.Biệt riêng con người ra cho Đức Chúa Trời.

1.(1-2) Khi người ta biệt riêng một số người cho Chúa bằng một lời khấn nguyện.

a.¹Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: ² Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào có ai dùng loài người mà khấn nguyện, thì ngươi hãy định giá cho; giá đó thuộc về Đức Giê-hô-va: Chương này đề cập đến những điều được dâng cho Chúa bằng lời khấn nguyện. Điều đó có nghĩa là chúng không được yêu cầu bởi một lệnh truyền của luật pháp, nhưng lời khấn nguyện là một món quà được hứa và ban tặng một cách tự do cho Chúa. Trong trường hợp này, nó đề cập đến những con người được hứa dâng lên CHÚA trong lời khấn nguyện.

i.“Lời khấn nguyện là lời hứa được thực hiện với Chúa một cách tự nguyện chứ không phải để tuân theo bất kỳ yêu cầu nào của Chúa.” (Morgan)

ii.Ví dụ, một người đàn ông từ chi phái Giu-đa, trong thời kỳ khốn cùng, vì lòng biết ơn, hoặc vì cảm giác được kêu gọi, có thể muốn hiến dâng con trai mình cho CHÚA. Ông không thể hiến dâng con trai mình cho công việc phục vụ đền tạm, vì ông không phải là một gia đình thầy tế lễ. Vì vậy, để hiến dâng con trai mình, ông sẽ làm theo các thủ tục trong những câu sau.

iii.“Theo Các Quan Xét 11:29–40 và 1 Sa-mu-ên 1:11, một người có thể dâng hiến một con người khác cho Đức Chúa Trời…. người ta mong đợi rằng người được hiến dâng như vậy sẽ phục vụ trong đền thánh. Nhưng đoạn văn này cho thấy rằng một người như vậy có thể được giải thoát bằng cách trả tiền.” (Peter-Contesse)

Các Quan Xét 11: 29-40 ²⁹ Bấy giờ, Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên Giép-thê, ông đi qua Ga-la-át và Ma-na-se, đến Mích-pa thuộc Ga-la-át, rồi từ Mích-pa thuộc Ga-la-át, ông vượt qua lãnh thổ dân Am-môn. ³⁰ Giép-thê khấn hứa với Đức Giê-hô-va rằng: “Nếu Ngài phó dân Am-môn vào tay con thì khi thắng trận trở về, ³¹ bất cứ người hay vật nào từ cửa nhà con ra đón rước con, thì người hay vật ấy sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va, và con sẽ dâng làm tế lễ thiêu.” ³² Giép-thê vượt sang lãnh thổ dân Am-môn và Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay ông. ³³ Ông đánh bại chúng từ A-rô-e đến vùng phụ cận của Mi-nít, cho đến tận A-bên Kê-ra-mim, và chiếm được hai mươi thành. Dân Am-môn bị đại bại và chịu khuất phục trước dân Y-sơ-ra-ên. ³⁴ Giép-thê trở về nhà mình tại Mích-pa, và kìa, con gái ông cầm trống nhỏ và nhảy múa đón rước ông. Nàng là con một của ông, ngoài nàng chẳng có con trai hoặc con gái nào khác. ³⁵ Giép-thê vừa thấy nàng, liền xé áo mình và nói: “Ôi! Con gái của cha, con làm cha khốn khổ vô cùng! Con thuộc vào số những kẻ làm cha rối trí! Vì cha có mở miệng khấn hứa với Đức Giê-hô-va và không thể nuốt lời.” ³⁶ Nàng thưa: “Cha ôi, nếu cha đã mở miệng khấn hứa với Đức Giê-hô-va, xin cứ làm cho con đúng như lời cha đã hứa, vì bây giờ Đức Giê-hô-va đã báo trả dân Am-môn, kẻ thù của cha rồi.” ³⁷ Nàng lại nói với cha mình rằng: “Con xin cha điều nầy: Cha hoãn cho con hai tháng, con sẽ đi vào miền đồi núi để cùng chị em bạn khóc về thân phận trinh nữ của con.” ³⁸ Giép-thê nói: “Con cứ đi!” Rồi ông để nàng đi trong hai tháng. Nàng đi với các bạn, và khóc cho thân phận trinh nữ của mình trên núi. ³⁹ Sau hai tháng, nàng trở về với cha mình, và ông thực hiện điều ông đã khấn hứa về nàng. Nàng chẳng biết người nam nào. Từ đó, dân Y-sơ-ra-ên có tục lệ nầy: ⁴⁰ Mỗi năm, các cô gái Y-sơ-ra-ên đi than khóc con gái của Giép-thê, người Ga-la-át, trong bốn ngày.

1Sa-mu-ên 1:11 Bà khấn nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va vạn quân, nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của tớ gái Ngài, nhớ lại con và không quên ban cho tớ gái Ngài một con trai, thì con sẽ hiến dâng nó cho Đức Giê-hô-va trọn đời, và dao cạo sẽ không chạm đến đầu nó.

b.BHĐ ‘Nếu người nào có lời khấn nguyện đặc biệt liên quan đến việc dâng con người lên Đức Giê-hô-va: Cái hay của những mệnh lệnh này là nó cho người khấn hứa một điều gì đó cụ thể để thực hiện. Do đó, lời khấn hứa không chỉ là lời nói suông, mà còn đi kèm với một hành động cụ thể – và ngăn cản người ta khấn hứa suông với Chúa.

i.Việc không khấn nguyện không phải là tội (Phục Truyền Luật Lệ Ký 23:22), nhưng một khi đã khấn nguyện, lời khấn nguyện đó phải được giữ (Phục Truyền Luật Lệ Ký 23:21–23; Dân Số Ký 30:2; Truyền Đạo 5:4–6). Tuy nhiên, có thể thay thế, và chính khả năng thay thế này đã phân biệt lời khấn nguyện với lễ vật dâng trên bàn thờ.” (Rooker)

Phục Truyền Luật Lệ Ký 23:21-23  ²¹ Khi ngươi hứa nguyện cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, thì chớ trì hoãn làm cho xong; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi hẳn sẽ đòi sự hoàn nguyện ấy; bằng chẳng làm cho xong, ngươi sẽ mang lấy tội. ²² Nhưng nếu ngươi không hứa nguyện, thì không phạm tội. ²³ Khi môi ngươi đã hứa cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi một sự hứa nguyện lạc ý, thì khá cẩn thận làm trọn lời ra khỏi miệng mình đó.

Dân Số Ký 30:2 Môi-se cũng nói cùng những quan trưởng của các chi phái Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy là điều mà Đức Giê-hô-va đã phán

Truyền Đạo 5:4–6 ⁴ Khi ngươi khấn hứa sự gì với Đức Chúa Trời, chớ chậm mà hoàn nguyện; vì Ngài chẳng vui thích kẻ dại: Vậy, khá trả điều gì ngươi hứa. ⁵ Thà đừng khấn hứa, hơn là khấn hứa mà lại không trả. ⁶ Đừng cho miệng ngươi làm cho xác thịt mình phạm tội, và chớ nói trước mặt sứ giả của Đức Chúa Trời rằng ấy là lầm lỗi. Sao làm cho Đức Chúa Trời nổi giận vì lời nói ngươi, và Ngài làm hư công việc của tay ngươi?

2.(3-7) Định giá cho người được thánh hiến bằng lời khấn.

³Nếu ngươi định giá về một người nam từ hai mươi đến sáu mươi tuổi, thì hãy định cho năm chục siếc-lơ bạc, tùy theo siếc-lơ nơi thánh.[a] ⁴ Nếu là một người nữ, hãy định giá ba chục siếc-lơ bạc. ⁵ Nếu là một đứa con trẻ từ năm đến hai mươi tuổi, thì hãy định giá hai chục siếc-lơ cho một đứa trai, và mười siếc-lơ cho một đứa gái. ⁶ Ví bằng một đứa trẻ từ một tháng đến năm tuổi, thì hãy định giá năm siếc-lơ bạc cho một đứa trai, và ba siếc-lơ bạc cho một đứa gái. ⁷ Nếu một người già cả từ sáu mươi tuổi trở lên, ngươi hãy định giá mười lăm siếc-lơ bạc cho một người nam, và mười siếc-lơ bạc cho một người nữ.

a.3ngươi định giá về một người nam từ hai mươi đến sáu mươi tuổi: Con người được định giá theo độ tuổi và mức độ hữu ích chung của họ đối với xã hội; đặc biệt là trong một xã hội nông nghiệp, có một ý nghĩa rõ ràng rằng một người đàn ông từ 20 đến 60 tuổi “có giá trị” hơn một đứa trẻ từ một tháng đến năm tuổi.

TUỔI NAM GIỚI NỮ GIỚI
0-4 5 Siếc-lơ 3 Siếc-lơ
5-19 20 Siếc-lơ 10 Siếc-lơ
20-59 50 Siếc-lơ 30 Siếc-lơ
60 tuổi trở lên 15 Siếc-lơ 10 Siếc-lơ

b.Năm mươi Siếc-lơ bạc…. ba mươi Siếc-lơ…hai mươi Siếc-lơ : Việc định giá chủ yếu được thực hiện theo ước tính giá trị lao động chân tay của một người. Một người đàn ông bình thường 25 tuổi có thể làm nhiều công việc hơn cho đền tạm so với một cậu bé năm tuổi.

i.“Giá cả (giá trị) của các cá nhân nên được hiểu là đại diện cho tiền công của một công nhân (là một Siếc-lơ một tháng trong thời kỳ Kinh thánh) hoặc giá trị tương đối của giá trị các dịch vụ của người đó trong đền tạm. Nếu các dịch vụ bao gồm lao động chân tay nặng nhọc khi làm việc với các con vật hiến tế hoặc vận chuyển đền tạm, thì dễ hiểu tại sao những người đàn ông trẻ tuổi lại được coi trọng hơn.” (Rooker)

3.(8) Cung cấp cho người nghèo trong sự thánh hiến bằng lời khấn nguyện.

⁸Bằng người khấn nguyện rất nghèo khổ, không nộp được giá tiền ngươi định, thì hãy đem đến trước mặt thầy tế lễ cho người định cho. Thầy tế lễ sẽ tùy theo phương thế người khấn nguyện mà định giá vậy.

a.Nếu họ rất nghèo khổ, không nộp được giá tiền ngươi định: Điều quan trọng là không ai bị cấm thực hiện lời khấn hứa dâng mình vì họ không có đủ tiền; nếu họ nghèo, các thầy tế lễ sẽ linh hoạt trong việc định giá.

i.Mọi người đều có thể dâng hiến cuộc đời mình cho Chúa; không ai quá nhỏ bé, quá tầm thường, hay quá vô dụng. Chúa muốn sử dụng mỗi người.

b.Thầy tế lễ sẽ tùy theo phương thế người khấn nguyện mà định giá vậy: Khi Chúa chấp nhận một vật thay thế bằng tiền cho vật thực tế đã khấn nguyện, thầy tế lễ phải tính đến khả năng tài chính của người đã khấn nguyện. Chúa không chỉ muốn người giàu khấn nguyện những điều với Ngài; Ngài muốn làm cho sự sùng kính và thánh hiến đặc biệt này nằm trong tầm với của mọi người.

i.“Hỡi độc giả, bạn đã bao giờ dâng hiến bản thân, hoặc bất kỳ phần tài sản nào của mình, để phụng sự Đấng Tạo Hóa chưa? Nếu có, bạn đã thực hiện lời khấn nguyện của mình chưa? Hay bạn đã thay đổi mục đích, hay thay đổi lễ vật của mình chưa? ” (Clarke)

B.Chuộc lại tài sản đã hiến dâng cho Chúa bằng lời khấn nguyện.

1.(9-13) Cứu chuộc động vật.

a.9-10 ⁹ Nếu khấn nguyện về thú vật dùng làm của lễ dâng cho Đức Giê-hô-va, thì hễ con thú nào dâng cho Đức Giê-hô-va sẽ là vật thánh. ¹⁰ Người ta không nên đổi hay là thế một con tốt cho một con xấu, hay là một con xấu cho một con tốt. Nếu thế một con nào cho một con khác, thì con nầy và con thế đều sẽ nên vật thánh: Nếu một con vật sạch (phù hợp để làm lễ vật hiến tế), và bạn muốn chuộc nó khỏi lời khấn hứa dâng cho CHÚA (có lẽ vì con vật đó đặc biệt hữu ích), bạn có thể đổi nó lấy một con vật khác – miễn là con vật đó cũng sạch và phù hợp để làm lễ vật hiến tế.

b.11-13 ¹¹ Nếu là THÚ VẬT Ô UẾ không phép dùng làm của lễ dâng cho Đức Giê-hô-va, thì phải đem con thú đó đến trước mặt thầy tế lễ, ¹² rồi thầy tế lễ sẽ tùy theo con thú xấu hay tốt mà định giá. Họ sẽ theo giá định của thầy tế lễ mà trả. ¹³ Còn nếu muốn chuộc lại, thì phải phụ thêm một phần năm giá của ngươi định: Nếu một con vật không ô uế (không thích hợp để làm của lễ), nó vẫn có thể được dâng cho Chúa và sau đó được chuộc lại; nhưng thầy tế lễ sẽ định giá cho con vật, và người ta sẽ thêm một phần năm vào giá trị đó (20%) và đưa tổng số tiền vào kho bạc của đền tạm.

i.Một lần nữa, nếu một người chỉ muốn dâng con vật ô uế của mình (ví dụ như một con lừa) cho Chúa, người đó có thể dâng nó cho một thầy tế lễ, người sẽ sử dụng hoặc bán nó, đưa số tiền đó vào kho bạc của đền tạm; nhưng nếu họ muốn giữ con vật, trong khi vẫn thánh hiến nó bằng lời thề với Chúa, họ phải trả giá của con vật cộng thêm 20%. Bạn có thể dâng con lừa của mình và cũng sử dụng nó, nhưng bạn sẽ phải trả giá trị của con lừa cộng thêm 20%.

2.(14-15) Cứu chuộc nhà cửa.

a.¹⁴Nếu ai biệt nhà mình ra thánh cho Đức Giê-hô-va, thì thầy tế lễ sẽ tùy theo nhà tốt hay xấu mà định giá; họ phải nhận lấy giá của thầy tế lễ đã định: Đối với một ngôi nhà, cũng như trường hợp một con vật ô uế, nếu một người muốn dâng hiến ngôi nhà cho CHÚA bằng một lời khấn nguyện, trong khi vẫn sử dụng ngôi nhà đó, thì thầy tế lễ sẽ định giá cho ngôi nhà.

b.¹⁵ Còn nếu kẻ đã biệt nhà mình ra thánh muốn chuộc nó lại, thì phải phụ thêm một phần năm giá ngươi đã định, rồi nhà sẽ thuộc về người: Sau khi ước tính giá trị ngôi nhà, thêm 20% nữa. Tổng số đó được đưa vào kho bạc của đền tạm và lời thề được coi là đã hoàn thành.

3.(16-21) Chuộc lại đất đai thuộc sở hữu của gia đình bằng cách phân chia.

¹⁶Nếu ai biệt một phần ruộng tổ nghiệp mình ra thánh cho Đức Giê-hô-va, thì ngươi hãy định giá tùy theo số họ gieo, nghĩa là cứ năm chục siếc-lơ bạc mỗi một ô-me mạch nha giống. ¹⁷ Nếu biệt ruộng mình ra thánh từ năm hân hỉ, họ sẽ nhận giá ngươi định; ¹⁸ còn nếu họ biệt ruộng mình ra thánh sau năm hân hỉ, thì thầy tế lễ cứ theo số năm còn lại đến năm hân hỉ mà định giá ruộng, và trừ lại giá ngươi định. ¹⁹ Nếu người đã biệt ruộng mình ra thánh muốn chuộc nó lại, thì phải phụ thêm một phần năm giá ngươi định, rồi ruộng sẽ thuộc về người. ²⁰ Còn ví người không chuộc lại, và người ta bán ruộng cho người khác, thì không được chuộc lại nữa. ²¹ Khi đến năm hân hỉ, ruộng ra khỏi tay chủ mua, thì sẽ trở nên thánh, biệt riêng ra cho Đức Giê-hô-va như một sở ruộng cấm: nó sẽ làm sản nghiệp cho thầy tế lễ.

a.Nếu ai biệt một phần ruộng tổ nghiệp mình ra thánh cho Đức Giê-hô-va: Điều này liên quan đến đất đai thuộc về gia đình hoặc dòng họ của người mua theo sự phân chia đất đai sau này được ghi trong Giô-suê chương 13 đến 21.

b.câu 19Nếu biệt ruộng mình ra thánh: Đối với đất đai, giá trị của nó dựa trên tiềm năng sản xuất của nó, cũng như số năm cho đến Năm Hân hỷ.

4.(22-25) Chuộc lại đất không phải của gia đình bằng cách phân chia.

a.²² Nếu ai biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va một sở ruộng mình mua, chớ chẳng phải của tổ nghiệp: Điều này liên quan đến đất đai không thuộc về gia đình hoặc dòng họ của người mua theo sự phân chia đất đai sau này sẽ xảy ra trong Giô-suê chương 13 đến 21. Theo một nghĩa nào đó, đất đai không thực sự được mua, mà chỉ được cho thuê cho đến Năm Đại Hỉ tiếp theo.

b.²³thì thầy tế lễ sẽ tùy theo giá ngươi định mà đánh giá đến năm hân hỉ, rồi chính trong ngày đó, người nầy phải nộp số tiền nhứt định, vì là một vật biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. ²⁴ Năm hân hỉ, ruộng đó sẽ trở về chủ bán, tức là trở về nguyên chủ. ²⁵ Vả, phàm các giá định đều cứ theo siếc-lơ nơi thánh: một siếc-lơ giá hai chục ghê ra.: Thầy tế lễ ước tính giá trị của đất, tính đến số năm cho đến Năm hân hỷ tiếp theo. Số tiền này sau đó được dâng như một vật biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và Đức Chúa Trời coi đất đó thực sự được dành riêng cho Ngài.

i.“ghê ra: một đơn vị đo trọng lượng, theo câu này, là một phần hai mươi của một Siếc-lơ. Cũng hãy so sánh Xuất Ê-díp-tô Ký 30:13 …. ‘gerah’ là đơn vị đo lường nhỏ nhất trong hệ thống được sử dụng vào thời điểm đó. Nó tương đương với khoảng nửa gram.” (Peter-Contesse)

Xuất Ê-díp-tô ký 10:13 Kẻ nào có tên trong sổ phải nộp nửa siếc-lơ, tùy siếc-lơ của nơi thánh, cân nặng hai mươi ghê ra; vậy, nửa siếc-lơ, tức là của dâng cho Đức Giê-hô-va

5.(26-27) Chuộc lại lời khấn thánh hiến cho con đầu lòng.

a.²⁶ Song không ai được biệt ra thánh con đầu lòng của súc vật mình, hoặc bò hoặc chiên, vì các con đầu lòng theo phép đã thuộc về Đức Giê-hô-va rồi: Vì con đầu lòng đã thuộc về Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô Ký 13:2), nên không được phép dâng nó cho CHÚA trong lời khấn nguyện. Nếu con đầu lòng là một loài vật thanh sạch, thì nó phải được dâng làm của lễ.

Xuất Ê-díp-tô Ký 13:2 Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên bất luận người hay vật, hãy vì ta biệt riêng ra thánh mọi con đầu lòng; bởi con đầu lòng thuộc về ta

b.²⁷Còn nếu là một con thú không sạch, họ phải tùy theo giá ngươi định, phụ thêm một phần năm mà chuộc nó lại; nếu con thú chẳng chuộc lại, thì phải đem bán tùy theo giá định của ngươi: Tuy nhiên, một con vật đầu lòng ô uế có thể được bán hoặc chuộc lại (mua lại) từ CHÚA.

6.(28-29) Người ta không thể chuộc lại những vật hoặc người đã dâng cho Chúa.

a.²⁸Phàm vật cấm, tức là hết thảy vật chi mà một người hằng dâng cho Đức Giê-hô-va do những của mình có, hoặc người, hoặc loài vật, hoặc ruộng tổ nghiệp, thì chẳng được phép bán, cũng không được phép chuộc lại; hễ vật gì cấm, thì biệt ra chí thánh cho Đức Giê-hô-va: Việc hằng dâng một vật gì đó cho CHÚA là một bước tiến xa hơn so với việc thánh hiến bằng lời khấn nguyện; nó thường có nghĩa là phá hủy vật đó (hoặc xử tử người đó) để không ai khác có thể sử dụng nó, và toàn bộ giá trị của nó được dâng cho Chúa. Do đó, nếu một vật gì đó đã được tuyên bố là lễ vật hằng dâng (biệt hiến), thì nó không thể được dâng trong lời khấn hứa. Nó đã thuộc về Chúa và là chí thánh cho Đức Giê-hô-va.

i.Trong số những đoạn khác, Giô-suê 6:17 dịch từ “dâng hiến” này thành từ “ nguyền rủa ” – bởi vì vật dâng hiến cho Đức Chúa Trời sẽ bị phá hủy, không được dùng cho mục đích nào khác.

Giô-suê 6:17 Cái thành và mọi vật ở trong sẽ bị phú dâng cho Đức Giê-hô-va như vật đáng diệt; chỉ một mình Ra-háp là kỵ nữ, với hết thảy người ở cùng nàng trong nhà sẽ được sống, vì nàng đã giấu sứ giả của chúng ta sai đến.

b.câu 28 BHĐ ²⁸ Ngoài ra, bất cứ lễ vật gì mà một người đã biệt hiến cho Đức Giê-hô-va như người, thú vật hay đất đai của gia đình, đều không được phép bán hay chuộc lại. Mọi vật đã được biệt hiến đều trở nên rất thánh cho Đức Giê-hô-va : Vì những lý do này, một đã được biệt hiến cho Chúa không thể được chuộc lại bằng một giá nào đó. Nó đã thuộc về CHÚA và phải được dâng cho Ngài.

i.“bất cứ lễ vật gì mà một người đã biệt hiến cho Đức Giê-hô-va, … đều không được phép tức là những vật được dâng hiến cho Chúa, là tuyệt đối không được phép, vì sẽ có lời nguyền rủa dành cho chính họ hoặc người khác nếu họ không xử lý nó theo lời họ hứa nguyện; như chữ tiếng Hê-bê-rơ ngụ ý.” (Poole)

c.²⁹Hễ ai đã bị phú cho Đức Giê-hô-va, thì không được phép chuộc lại, họ hẳn phải bị giết: Theo nghĩa này, người ta không thể thoát khỏi sự hành quyết bằng cách được “mua lại” từ CHÚA. Họ phải đối mặt với số phận hoặc hình phạt của mình.

i.Một ví dụ về điều này được tìm thấy trong 1 Samuel 15, nơi Vua Sau-lơ được lệnh phải mang sự phán xét của Chúa đến với dân Amalek. Họ đã được biệt hiến bị kết án hủy diệt. Sau-lơ đã không làm điều này và làm Chúa rất phật lòng.

ii.“Luật được đề cập trong hai câu này đã được những kẻ thù của sự mặc khải Thiêng liêng viện dẫn như một bằng chứng cho thấy dưới thời Môi-se, con người đã được dâng lên Đức Chúa Trời; nhưng điều này không bao giờ có thể được chấp nhận. Nếu có một luật như vậy, chắc chắn nó sẽ được mặc khải rõ ràng hơn, chứ không chỉ gói gọn trong vài từ ngữ, nơi mà ý nghĩa rất khó xác định; và bản thân các từ ngữ được hầu hết các nhà thông dịch đều dịch khác nhau.” (Clarke)

7.(30-33) Việc nộp thuế phần mười.

a.³⁰ Phàm thuế một phần mười thổ sản, bất kỳ vật gieo hay là hoa quả của cây, đều thuộc về Đức Giê-hô-va; ấy là một vật thánh, biệt riêng ra cho Đức Giê-hô-va: Trong bối cảnh này, phần mười chỉ đơn giản có nghĩa là “phần mười” hoặc “mười phần trăm”. Israel đã dâng mười phần trăm đàn gia súc, ngũ cốc và hoa quả của họ cho Chúa. Phần mười này, mười phần trăm, là thiêng liêng và được dành riêng cho Chúa (Nó là thánh đối với CHÚA).

i.“Từ ‘tithe’ (ma aser) có liên quan đến số ‘mười’ (eser) và do đó ám chỉ đến một phần mười. Khái niệm về một phần mười không phải là mới đối với người Israel, vì chúng ta đã quan sát việc thực hành này ngay cả trước khi luật pháp được ban hành. (Sáng thế ký 14:20 ; 28:20-22). Do đó, những gì chúng ta có trong Lê-vi ký 27 là một hệ thống hóa của một tập tục trước đó.” (Rooker)

Sáng thế ký 14:20 Đáng ngợi khen thay Đức Chúa Trời Chí Cao đã phó kẻ thù nghịch vào tay ngươi! Đoạn, Áp-ram lấy một phần mười về cả của giặc mà dâng cho vua đó.

Sáng thế ký 28:20-22 ²⁰ Gia-cốp bèn khấn vái rằng: Nếu Đức Chúa Trời ở cùng tôi, gìn giữ tôi trong lúc đi đường, cho bánh ăn, áo mặc, ²¹ và nếu tôi trở về bình an đến nhà cha tôi, thì Đức Giê-hô-va sẽ là Đức Chúa Trời tôi. ²² Hòn đá đã dựng làm trụ đây sẽ là đền Đức Chúa Trời, và tôi sẽ nộp lại cho Ngài một phần mười mọi của cải mà Ngài sẽ cho tôi.

ii.Dân Israel cổ đại đã tuân thủ ít nhất hai khoản phần mười. Ở đây trong Lê-vi Ký 27:30-33 là khoản phần mười chung, có vẻ như cũng được mô tả trong Phục truyền Luật lệ Ký 14:22-27. Phục truyền Luật lệ Ký 14:28-29 mô tả khoản phần mười thứ hai được trả sau mỗi ba năm và được trao cho người Lê-vi và người nghèo. Một số người tin rằng Lê-vi Ký 27:30-33 và Phục truyền Luật lệ Ký 14:22-27 mô tả hai khoản phần mười bắt buộc khác nhau, nhưng không có lý do chính đáng nào để nghĩ rằng chúng khác nhau.

Phục truyền Luật lệ Ký 14:22-27 ²² Mỗi năm ngươi chớ quên đóng thuế một phần mười về huê lợi của giống mình gieo, mà đồng ruộng mình sanh sản.[d] ²³ Tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, trong nơi Ngài sẽ chọn đặng để danh Ngài ở, ngươi phải ăn vật thuế một phần mười về ngũ cốc, rượu, dầu, và con đầu lòng của bầy bò hay chiên của ngươi, hầu cho ngươi tập hằng kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi. ²⁴ Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban phước cho, nếu đường đi lấy làm xa quá cho ngươi, đến đỗi không thế đem nộp của thuế một phần mười ấy được, — vì chỗ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi chọn để đặt danh Ngài, cách xa ngươi, — ²⁵ thì bấy giờ, ngươi hãy đổi thuế một phần mười đó ra bạc, cầm bạc nầy trong tay, đi đến nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã chọn, ²⁶ rồi đưa bạc ấy đổi lấy mọi thức chi mình ước ao, hoặc bò hay chiên, hoặc rượu hay là đồ uống say, tức là mọi món chi mình muốn. Ngươi phải ăn nó tại đó, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và vui vẻ với gia quyến mình. ²⁷ Chớ bỏ bê người Lê-vi ở trong thành ngươi, vì người không có phần, cũng không hưởng cơ nghiệp chi chung với ngươi.

Phục truyền Luật lệ Ký 14:28-29 ²⁸ Cuối hạn ba năm, ngươi phải lấy một phần mười của huê lợi năm ấy ra, chứa tại trong thành mình. ²⁹ Bấy giờ, người Lê-vi, vốn không có phần chi, cũng chẳng hưởng cơ nghiệp chi chung với ngươi, luôn với người khách, kẻ mồ côi, và người góa bụa ở trong thành ngươi, sẽ đều đến ăn cho no nê, hầu cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho mọi công việc tay ngươi đã làm.

iii.Trong khi Tân Ước không ra lệnh hay nhấn mạnh đến việc đóng phần mười, nó trình bày việc dâng hiến như một bổn phận đối với dân sự của Chúa và không nói tiêu cực về việc đóng phần mười. Chúa Giê-su chấp thuận việc đóng phần mười cẩn thận của các nhà lãnh đạo tôn giáo thời của Ngài (Lu-ca 11:42 Song khốn cho các ngươi, người Pha-ri-si, vì các ngươi, nộp một phần mười về bạc hà, hồi hương, cùng mọi thứ rau, còn sự công bình và sự kính mến Đức Chúa Trời, thì các ngươi bỏ qua! Ấy là các việc phải làm, mà cũng không nên bỏ qua các việc khác) trong khi khiển trách họ vì những gì họ đã bỏ sót. Áp-ra-ham được khen ngợi khi ông dâng cho Mên-chi-xê-đéc một phần mười của tất cả (Hê-bơ-rơ 7:4-10 ⁴ Hãy nghĩ xem, chính tiên tổ là Áp-ra-ham đã lấy một phần mười trong những vật rất tốt của mình chiếm được mà dâng cho vua, thì vua tôn trọng là dường nào. ⁵ Những con cháu họ Lê-vi chịu chức tế lễ, theo luật, có phép thâu lấy một phần mười của dân, nghĩa là của anh em mình, vì chính họ cũng từ Áp-ra-ham mà ra.[b] ⁶ Nhưng vua vốn không phải đồng họ, cũng lấy một phần mười của Áp-ra-ham và chúc phước cho kẻ được lời hứa. ⁷ Vả, người bực cao chúc phước cho kẻ bực thấp, ấy là điều không cãi được. ⁸ Lại, đằng nầy, những kẻ thâu lấy một phần mười đều là người hay chết: còn đằng kia, ấy là kẻ mà có lời làm chứng cho là người đang sống. ⁹ Lại có thể nói rằng Lê-vi là kẻ thâu lấy một phần mười đó, chính mình người cũng bởi Áp-ra-ham mà đóng một phần mười; ¹⁰ vì lúc Mên-chi-xê-đéc đi đón tiên tổ, thì Lê-vi còn ở trong lòng tổ phụ.).

Tân Ước đưa ra nhiều nguyên tắc về việc dâng hiến của các tín đồ theo Giao ước Mới.

  • Việc dâng hiến là điều bắt buộc chứ không phải là sự lựa chọn (1 Cô-rinh-tô 16:1-2 ¹ Về việc góp tiền cho thánh đồ, thì anh em cũng hãy theo như tôi đã định liệu cho các Hội thánh xứ Ga-la-ti. ² Cứ ngày đầu tuần lễ, mỗi một người trong anh em khá tùy sức mình chắt lót được bao nhiêu thì để dành tại nhà mình, hầu cho khỏi đợi khi tôi đến rồi mới góp.).
  • Việc cho đi phải đều đặn, có kế hoạch và cân xứng. Không bao giờ được thao túng (1 Cô-rinh-tô 16:2).
  • Sự dâng hiến thực sự đến khi chúng ta dâng hiến chính mình cho Chúa trước, rồi chúng ta sẽ dâng hiến nguồn tài chính của mình như chúng ta nên làm (2 Cô-rinh-tô 8:5 BHĐ Họ đã làm quá sự mong đợi của chúng tôi; vì trước hết họ đã dâng mình cho Chúa và rồi cho chúng tôi, theo ý muốn của Đức Chúa Trời).
  • Không một tín đồ nào có thể ra lệnh cho việc dâng hiến vào một thời điểm cụ thể, ngay cả bởi một sứ đồ (2 Cô-rinh-tô 8:8 BHĐ Tôi nói điều nầy không phải để ra lệnh cho anh em đâu, nhưng tôi chỉ nêu lên lòng nhiệt thành của những người khác để xem lòng yêu thương của anh em chân thành đến mức nào).
  • Việc ban cho là một phép thử hợp lệ về lòng chân thành của chúng ta đối với Chúa và người khác (2 Cô-rinh-tô 8:8).
  • Việc ban cho phải được xem là đầu tư tiền bạc, chứ không phải là chi tiêu tiền bạc (2 Cô-rinh-tô 9:6 BHĐ Hãy nhớ rằng: Ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều).
  • Việc ban cho không nên miễn cưỡng hoặc vì bắt buộc (2 Cô-rinh-tô 9:7 BHĐ Mỗi người nên quyên góp tùy theo lòng mình đã định, không miễn cưỡng hoặc do ép buộc, vì Đức Chúa Trời yêu mến người dâng hiến một cách vui lòng.).
  • Đức Chúa Trời yêu thương người dâng hiến cách vui lòng (2 Cô-rinh-tô 9:7).
  • Việc dâng hiến phải luôn bao gồm việc dâng hiến cho các chức vụ trực tiếp nuôi dưỡng chúng ta về mặt tâm linh (1 Cô-rinh-tô 9:7-13 BHĐ ⁷ Mỗi người nên quyên góp tùy theo lòng mình đã định, không miễn cưỡng hoặc do ép buộc, vì Đức Chúa Trời yêu mến người dâng hiến một cách vui lòng. ⁸ Đức Chúa Trời có quyền ban cho anh em ân điển sung mãn để đáp ứng mọi nhu cầu của anh em, lại còn có dư dật để làm mọi việc lành, ⁹ như có chép rằng: “Người ban phát rộng rãi, giúp đỡ kẻ nghèo khó; Sự công chính của người tồn tại mãi mãi.” ¹⁰ Đấng cung cấp hạt giống cho người gieo và bánh làm thức ăn sẽ cung cấp hạt giống cho anh em và làm cho sinh sôi nảy nở, cũng sẽ gia tăng bông trái công chính của anh em. ¹¹ Anh em sẽ được phong phú trong mọi sự để làm mọi việc từ thiện; để qua chúng ta, người ta sẽ cảm tạ Đức Chúa Trời. ¹² Vì sự trợ giúp nầy không những đáp ứng nhu cầu của các thánh đồ mà còn khiến nhiều người cảm tạ Đức Chúa Trời nữa. ¹³ Việc trợ giúp nầy là bằng chứng để họ tôn vinh Đức Chúa Trời, vì sự vâng phục Tin Lành của Đấng Christ mà anh em đã bày tỏ, và vì sự trợ giúp rộng rãi của anh em đối với họ và với mọi người.).

iv.Vì sự nhấn mạnh của Tân Ước là ban cho nhiều hơn là đóng phần mười, nên không có câu trả lời duy nhất cho câu hỏi, “Tôi phải ban cho bao nhiêu?” Nhiều người quay trở lại với luật phần mười của Cựu Ước. Vì việc cho đi phải tương xứng (1 Cô-rinh-tô 16:2), chúng ta nên cho một số phần trăm – và mười phần trăm là một chuẩn mực tốt – một điểm khởi đầu! Chúng ta nên có thái độ của một số Cơ Đốc nhân đầu tiên, những người về cơ bản đã nói: “Chúng ta không nằm dưới phần mười – chúng ta có thể ban cho nhiều hơn !” Việc ban cho và quản lý tài chính là những vấn đề tâm linh, không chỉ là vấn đề tài chính (Lu-ca 16:11 Vậy nếu các con không trung tín về của cải bất nghĩa, ai sẽ đem của cải thật giao cho các con?).

b.câu 31-33 ³¹ Nếu ai muốn chuộc lại vật chi về một phần mười của mình, thì phải phụ thêm một phần năm. ³² Còn về một phần mười của bầy bò hay là chiên, tức là mọi vật chi đi ngang dưới gậy, con thứ mười sẽ là thánh, biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. ³³ Họ không nên phân biệt con tốt hay là con xấu, và cũng không nên đổi. Nếu đổi, thì con thú bị đổi, và con đổi, cả hai đều biệt riêng ra thánh: không phép chuộc nó lại: Phần mười cũng có thể được chuộc lại hoặc “mua lại” từ CHÚA. Ví dụ, thay vì đóng góp một phần mười hạt giống tốt từ cánh đồng của mình, một người nông dân có thể trả giá trị của hạt giống cộng thêm 20%.

i.Bất cứ thứ gì đi qua dưới cây gậy : “Theo các nhà bình luận Giu-đa, cách diễn đạt này ám chỉ cách thức mà các loài động vật được chọn để đóng phần mười. Các loài động vật được đếm khi chúng đi thành một hàng dưới cây gậy của người chăn gia súc. Mỗi con vật thứ mười được đánh dấu bằng một cây gậy màu đỏ, để cho thấy rằng nó đã được chọn để đóng phần mười.” (Peter-Contesse)

8.(34) Kết luận: Đây là các điều răn.

a.³⁴ Đó là các mạng lịnh mà Đức Giê-hô-va truyền cho Môi-se về dân Y-sơ-ra-ên tại trên núi Si-na-i: Đây không chỉ là những truyền thống và phong tục, mặc dù con người bắt đầu gắn truyền thống và phong tục vào những điều răn này; đây là – và vẫn là – những điều răn (không phải là gợi ý) của CHÚA.

b.mà Đức Giê-hô-va truyền cho Môi-se về dân Y-sơ-ra-ên tại trên núi Si-na-i: Như chúng ta đã thấy trước đây trong Lê-vi Ký, cụm từ trước Chúa xuất hiện hơn 60 lần – nhiều hơn bất kỳ sách nào khác trong Kinh thánh. Những gì xảy ra trong Lê-vi Ký xảy ra trước mặt Đức Giê-hô-va, và mọi điểm vâng lời mà sách kêu gọi chúng ta minh họa – bằng một lệnh truyền cụ thể hoặc trong một bức tranh quý giá – cách bước đi trước mặt Đức Giê-hô-va.

i.“Hỡi ĐỘC GIẢ, giờ bạn đã đọc hết toàn bộ quyển sách thú vị nhất này; một quyển sách mà chủ đề của nó ít được các Cơ đốc nhân nói chung quan tâm. Ở đây bạn có thể khám phá ra những yêu cầu khắt khe của công lý Đức Chúa Trời, bản chất tội lỗi của tội lỗi, phạm vi vô cùng rộng lớn của điều răn, và mục đích của mọi sự hoàn hảo của con người… Vậy thì, nhờ luật pháp này mà có sự hiểu biết, nhưng không phải là sự chữa lành tội lỗi… Vậy chúng ta thấy rằng Đấng Christ là KẾT THÚC của luật pháp mang lại sự công bình (sự xưng bình) cho mọi người tin” (Clarke)

nguồn