Dân số ký 27 – Luật thừa kế và người lãnh đạo kế tiếp

Dân số ký 27 – Luật thừa kế và người lãnh đạo kế tiếp

A.Trường hợp của các con gái của Xê-lô-phát.

1.(1-5) Lời yêu cầu của các con gái Xê-lô-phát.

a.¹Các con gái của Xê-lô-phát, là con trai Hê-phe, cháu của Ga-la-át, chắt của Ma-ki, chít của Ma-na-se, thuộc về họ hàng Ma-na-se, là con trai của Giô-sép, đến gần; đây là tên của các con gái người: Mách-la, Nô-a, Hốt-la Minh-ca, và Thiệt-sa. ² Các con gái đó đến ra mắt Môi-se, Ê-lê-a-sa thầy tế lễ, các quan trưởng, và cả hội chúng tại cửa hội mạc, mà nói rằng: ³ Cha chúng tôi đã chết trong đồng vắng; người chẳng phải về phe đảng của kẻ hiệp lại nghịch cùng Đức Giê-hô-va, tức là phe đảng Cô-rê; nhưng người chết vì tội lỗi mình, và không có con trai: Ở Y-sơ-ra-ên (cũng như ở khắp vùng Cận Đông cổ đại), đất đai thường được truyền từ cha sang con trai, chứ không phải con gái. Vì nguyên tắc này, đã có một câu hỏi liên quan đến các con gái của Xê-lô-phát, người cha không có con trai.

i.Vấn đề được trình bày ở đây vì ở cuối chương trước, việc phân chia đất Ca-na-an đã được đề cập đến (Dân số ký 26:52-56 ⁵² Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: ⁵³ Phải tùy theo số các danh mà chia xứ ra cho những người nầy làm sản nghiệp; ⁵⁴ chi phái nào số dân đông thì ngươi phải cho một sản nghiệp lớn hơn, chi phái nào số dân ít, thì phải cho một sản nghiệp nhỏ hơn, tức là phải cho mỗi chi phái sản nghiệp mình cân phân cùng số tu bộ. ⁵⁵ Nhưng phải bắt thăm mà chia xứ ra; dân Y-sơ-ra-ên sẽ lãnh phần sản nghiệp mình theo tên của các chi phái tổ tông. ⁵⁶ Phải tùy sự bắt thăm mà chia sản nghiệp ra cho mỗi chi phái, hoặc số dân đông hay ít.). Thật tự nhiên khi các con gái của Xê-lô-phát tự hỏi vị trí của họ sẽ như thế nào trong phần đất được phân chia sắp tới.

ii.“Theo một nghĩa nào đó, chương này là phần mở rộng của gia phả trong Dân số ký 26, cho thấy những biến chứng có thể xảy ra khi dân chúng đến thừa kế phần đất Ca-na-an của họ.” (Allen)

iii.Mặc dù phụ nữ thường không tìm thấy sự đảm bảo kinh tế ngoài tài sản của chồng thông qua thừa kế đất đai, nhưng họ thường nhận được của hồi môn từ cha mình như một món quà cưới. Thông thường, người cha yêu cầu con rể tương lai phải cung cấp phần lớn, nếu không muốn nói là toàn bộ, của hồi môn. Của hồi môn có thể bao gồm quần áo, trang sức, tiền bạc, đồ nội thất, v.v. Người ta tin rằng của hồi môn có thể giúp người phụ nữ trang trải cuộc sống nếu chồng bỏ đi hoặc đột ngột qua đời.

iv.Spurgeon đã lấy các con gái của Xê-lô-phát làm ví dụ cho những người đã can đảm đến gần để nhận lãnh cơ nghiệp bởi đức tin: “Hỡi tội nhân, ngươi có muốn một phần trên thiên đàng không? Hãy đến ngay với Chúa Giê-su, và Chúa Giê-su sẽ lo liệu cho ngươi và trình dâng lên Chúa”

b.⁴Cớ sao danh cha chúng tôi bị trừ ra khỏi giữa họ người, bởi không có con trai? Hãy cho chúng tôi một phần sản nghiệp giữa anh em của cha chúng tôi: Đây là cách các con gái của Xê-lô-phát trình bày vấn đề. Không có con trai để thừa kế đất đai và duy trì danh tiếng của người, nên việc từ chối quyền thừa kế cho những hậu duệ duy nhất của Xê-lô-phát được hiểu là xóa bỏ tên tuổi của ông.

i.Khi có con trai sinh ra trong một gia đình, “Tài sản của người cha được chia cho các con trai của ông sau khi ông qua đời, người con cả nhận được gấp đôi những người anh em của mình (Phục truyền luật lệ ký 21:15-17 ¹⁵ Khi một người nam nào có hai vợ, vợ nầy được thương, vợ kia bị ghét, song cả hai đều có sanh con cho ngươi, và con trưởng nam thuộc về vợ bị ghét, ¹⁶ khi ngươi chia sản nghiệp cho các con mình, thì chẳng được phép trao quyền trưởng nam cho con trai của vợ được thương thế cho con trai của vợ bị ghét, bởi nó vốn là trưởng nam. ¹⁷ Nhưng ngươi phải nhận con trai của vợ bị ghét làm con đầu lòng, chia một phần bằng hai về mọi vật thuộc về mình; vì nó vốn là sự đầu tiên của sức mạnh ngươi; quyền trưởng nam thuộc về nó vậy.).” (Wenham)

c.⁵Môi-se bèn đem cớ sự của các con gái ấy đến trước mặt Đức Giê-hô-va: Môi-se đã làm điều mình phải làm khi đối mặt với một tình huống mới. Môi-se đã tìm kiếm Đức Chúa Trời.

i.“Vì đó là một trường hợp khó khăn; và mặc dù lời cầu xin của họ có vẻ hợp lý, nhưng Moses đã thể hiện sự khiêm nhường và khiêm tốn của mình, rằng ông sẽ không tự mình quyết định nếu không có sự chỉ dẫn cụ thể của Chúa.” (Poole)

ii.“Những câu này cũng cho thấy cách thức luật lệ có thể được áp dụng ở Israel. Luật chung sẽ được ban hành. Sau đó, những trường hợp ngoại lệ hợp pháp hoặc những cân nhắc đặc biệt sẽ được trình lên các trưởng lão và có lẽ được trình lên chính Môi-se. Sau đó, ông sẽ chờ đợi quyết định từ Chúa.” (Allen)

2.(6-11) Việc phân chia gia tài cho các con gái của Xê-lô-phát.

a.⁶Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: ⁷ Các con gái Xê-lô-phát nói có lý; ngươi phải cho chúng nó một phần sản nghiệp giữa anh em của cha chúng nó, tức là phải giao cho chúng nó sản nghiệp của cha chúng nó: Đức Chúa Trời hài lòng khi các con gái của Xê-lô-phát trình vấn đề này lên Môi-se. Đức Chúa Trời phán rằng nếu một người cha không có con trai, thì gia tài của người cha đó sẽ thuộc về các con gái.

i.“Tuy nhiên, việc cho phép con gái thừa kế, khi gia đình không có con trai, lại nảy sinh một vấn đề khác. Khi kết hôn, họ sẽ mang theo đất đai của gia đình, do đó phá hủy tài sản của người cha. Để giải quyết vấn đề này, Dân Số Ký 36 đưa ra thêm các quy tắc chi phối việc kết hôn của những người thừa kế.” (Wenham)

b.⁸ Ngươi cũng phải nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi một người nào chết không có con trai, thì các ngươi phải giao sản nghiệp của người lại cho con gái người. ⁹ Nhược bằng không có con gái, thì phải giao sản nghiệp cho anh em người. ¹⁰ Ví bằng người không có anh em, thì phải giao sản nghiệp cho chú bác người. ¹¹ Nếu không có chú bác, thì phải giao sản nghiệp người cho bà con gần hơn hết; và người ấy sẽ được lấy làm của: Tuy nhiên, nếu không có con gái, thì phần thừa kế sẽ thuộc về anh em của người cha. Nếu không có anh em trai, thì phần thừa kế sẽ thuộc về người họ hàng gần nhất trong gia đình.

i.8b thì các ngươi phải giao sản nghiệp của người lại cho con gái người: “ PHẢI GIAO sản nghiệp của người lại cho con gái người: trong tiếng Hê-bê-rơ, từ này thuộc giống đực, để chỉ rằng trong trường hợp này, phụ nữ nên được hưởng đặc quyền của đàn ông, và rằng xứ Canaan trên trời, mà đây là một ví dụ, thuộc về phụ nữ không kém gì nam giới.” (Poole)

c.11bẤy sẽ là một luật lệ để định cho dân Y-sơ-ra-ên, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se: Những luật lệ này được lập ra với sự chuẩn bị – bởi đức tin – cho việc được hưởng đất Ca-na-an làm sản nghiệp. Đây chỉ là vấn đề đối với các con gái của Xê-lô-phát, bởi vì họ là những người phụ nữ có đức tin, những người thực sự tin rằng Y-sơ-ra-ên sẽ chiếm hữu đất Ca-na-an.

i.Điều này cũng có liên quan vì dân Y-sơ-ra-ên đã bắt đầu chiếm đóng vùng đất phía đông sông Giô-đanh, và chi phái Ma-na-se sẽ chiếm một phần đất đó. Các con gái của Xê-lô-phát xuất thân từ Ma-na-se, nên việc phân chia đất đai của họ có thể diễn ra sớm hơn việc phân chia đất đai cho các chi phái định cư phía tây sông Giô-đanh.

ii.Trường hợp của các con gái Xê-lô-phát đã làm sáng tỏ thêm luật thừa kế của Israel.

  • Nếu một người đàn ông có con trai, họ sẽ là người đầu tiên được thừa kế tài sản của cha mình.
  • Nếu một người đàn ông không có con trai, con gái của ông sẽ thay thế con trai của ông.
  • Nếu không có con trai hoặc con gái, quyền thừa kế sẽ được chuyển cho thành viên gia đình gần nhất – anh, chị, em họ hoặc người khác.

B.Sự qua đời của Moses và việc bổ nhiệm một nhà lãnh đạo mới.

1.(12-14) Đức Chúa Trời báo cho Môi-se biết về cái chết sắp đến của Người.

a.câu 12-13 ¹² Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy lên trên núi A-ba-rim nầy và nhìn xem xứ mà ta đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên. ¹³ Ngươi sẽ nhìn xem xứ đó, rồi ngươi cũng sẽ được về cùng tổ phụ, như A-rôn, anh ngươi, đã được về vậy: Lần đầu tiên Môi-se được báo rằng ông sẽ chết trước khi đến Đất Hứa trong Dân số ký 20. Vẫn còn nhiều tháng nữa Môi-se mới leo lên đỉnh núi; có thể nhìn thấy Ca-na-an nhưng không thể vào đó (Phục truyền luật lệ ký 34). Sau khi nhìn thấy vùng đất đó, Môi-se sẽ chết (nguyên văn là được quy tụ về cùng dân của ngươi).

i.Trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 3:23-25, Môi-se giải thích rằng ông đã – trong một dịp nào đó – cầu xin Chúa giảm nhẹ án phạt của Ngài khiến Môi-se không bao giờ được đặt chân lên đất Ca-na-an. Đức Chúa Trời đã không giảm nhẹ, và Môi-se bằng lòng với việc biết rằng ông sẽ được nhìn thấy vùng đất ấy và sẽ được quy tụ về với Đức Chúa Trời của mình.

Phục truyền luật lệ ký 3: 23-25 ²³ Trong lúc nầy, ta cầu khẩn cùng Đức Giê-hô-va mà rằng:[c] ²⁴ Lạy Chúa Giê-hô-va, Chúa đã khởi tỏ cho kẻ tôi tớ Chúa sự oai nghiêm lớn, và cánh tay quyền năng của Chúa; vì trên trời dưới đất há có thần nào làm được việc và công sự quyền năng giống như của Chúa chăng? ²⁵ Tôi xin Chúa cho phép tôi đi qua xem xứ tốt tươi, núi đẹp đẽ nầy, và Li-ban ở bên kia sông Giô-đanh.

ii.“Cụm từ ‘quy tụ về cùng dân của ngươi‘ mô tả khái niệm của người Israel về sự hiệp nhất và bản sắc với các tổ phụ trung thành (Sáng thế ký 15:15, 25:8, 35:29, 47:30), những người mà họ sẽ nghỉ ngơi và tìm thấy sự bình an.” (Cole)

b.¹⁴ bởi vì, tại đồng vắng Xin, các ngươi có bội nghịch mạng lịnh ta, trong lúc hội chúng cãi cọ, và vì trước mặt chúng nó, các ngươi không tôn ta nên thánh về việc nước. Ấy là nước về sự cãi cọ tại Ca-đe, trong đồng vắng Xin: Đức Chúa Trời đã nhắc nhở Môi-se về lý do tại sao ông không được phép vào Ca-na-an, vì tội ông đã bóp méo Đức Chúa Trời tại Mê-ri-ba (Dân số ký 20:12-13 ¹² Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: Bởi vì hai ngươi không có tin đến ta, đặng tôn ta nên thánh trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, vì cớ đó, hai ngươi sẽ không đem hội chúng nầy vào xứ mà ta đã cho nó đâu.).

i.“Câu chuyện về sự ra đi của ông được kể lại ở cuối sách Phục truyền luật lệ ký, nhưng những lời này nêu ra sự thật trước mắt chúng ta trong sách này, là sách tiết lộ sự kỷ luật của Chúa đối với những người thất bại; và nó giúp chúng ta thấy rõ sự thật rằng những tôi tớ trung thành nhất của Chúa không thể thoát khỏi hậu quả của sự thất bại của họ trong cuộc sống này.” (Morgan)

2.(15-17) Lời đáp của Môi-se trước lời loan báo của Đức Chúa Trời.

a.câu 15-16 ¹⁵Môi-se thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: ¹⁶ Lạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của thần linh mọi xác thịt, xin Ngài lập trên hội chúng một người: Sau khi nghe về số phận sắp đến của mình, Môi-se không cố gắng thay đổi ý định của Chúa, và ông cũng không than phiền. Mối quan tâm duy nhất của ông là hội chúng Y-sơ-ra-ên, là dân sự, chứ không phải là bản thân ông.

i.16aLạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của thần linh mọi xác thịt: “Đây là một danh xưng biểu tượng của Đức Giê-hô-va, nói lên quyền tối thượng của Ngài trên muôn dân. Nếu Đức Chúa Trời là Đấng tối thượng trên muôn loài, thì chắc chắn Ngài muốn thể hiện quyền tối thượng của Ngài trên dân Ngài qua nhu cầu hiển nhiên của họ về một người chăn dắt kế vị Môi-se.” (Allen)

b.¹⁷để vào ra trước mặt chúng nó, khiến chúng nó ra vào, hầu cho hội chúng của Đức Giê-hô-va chớ như con chiên không người chăn: Đây là hình ảnh được dùng để mô tả một dân tộc không có người lãnh đạo. Chiên không có người chăn luôn gặp nguy hiểm. Chúng khó tìm được thức ăn và nước uống, và lang thang vào những nơi nguy hiểm. Đức Chúa Trời muốn chiên của Ngài có người chăn.

i.Theo nghĩa cuối cùng, điều này được ứng nghiệm bởi Chúa Giê-su Christ, Đấng Chăn Chiên Nhân Lành, như đã được tiên tri trong Cựu Ước (Mi-chê 5:2-4) và được mặc khải trong Tân Ước: Ta là người chăn chiên nhân lành. Người chăn chiên nhân lành hy sinh mạng sống mình vì chiên (Giăng 10:11).

Mi-chê 5:2-4 ²Vậy nên Ngài sẽ phó chúng nó cho đến lúc người đàn bà phải sanh đẻ đã sanh đẻ, và kẻ sót lại của anh em Ngài sẽ trở về với con cái Y-sơ-ra-ên. ³ Ngài sẽ đứng vững, và sẽ cậy sức mạnh của Đức Giê-hô-va với oai vọng của danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình mà chăn bầy của mình; và chúng nó sẽ ở yên, vì nay Ngài sẽ làm lớn cho đến các đầu cùng đất. ⁴ Ấy chính Ngài sẽ làm sự bình an của chúng ta. Khi người A-si-ri sẽ đến trong đất chúng ta và giày đạp trong cung đền chúng ta, thì chúng ta sẽ dấy lên bảy kẻ chăn và tám quan trưởng của dân mà nghịch lại nó.

Giăng 10:11 Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình

ii.Theo một nghĩa khác, điều này cũng được ứng nghiệm qua chức vụ mục sư-giáo sư trong Tân Ước. Từ Hy Lạp cổ “mục sư” có nghĩa là người chăn chiên (Công vụ 20:28, 1 Phi-e-rơ 5:2). Như 1 Phi-e-rơ 5:4 trình bày, Chúa Giê-su là Đấng Chăn Chiên Trưởng, và các mục sư là những người chăn chiên phụ.

Công vụ 20:28 ²⁸ Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình

1Phi-e-rơ 5:2 (BD2011) 2Hãy chăn bầy của Ðức Chúa Trời đã giao cho mình, hãy thi hành chức vụ chăn bầy không vì bị ép buộc nhưng bởi vui lòng, theo như Ðức Chúa Trời đã kêu gọi anh chị em, không vì lợi lộc thấp hèn nhưng bởi lòng nhiệt thành,

iii.Nhiệm vụ của người chăn chiên đã được hiểu rõ. Họ phải chăn chiên (Giăng 21:15-17), dẫn dắt (dắt chiên ra và đưa chiên vào), và bảo vệ chiên.

Giăng 21:15-17 ¹⁵ Khi ăn xong, Đức Chúa Jêsus nói với Si-môn Phi-e-rơ rằng: “Si-môn, con của Giăng, con yêu Ta hơn những người nầy chăng?” Phi-e-rơ thưa: “Vâng, thưa Chúa, Chúa biết rằng con yêu Chúa.” Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy chăm sóc những chiên con của Ta.” ¹⁶ Ngài lại hỏi ông lần thứ hai: “Si-môn, con của Giăng ơi, con yêu Ta chăng?” Phi-e-rơ thưa: “Vâng, thưa Chúa, Chúa biết rằng con yêu Chúa.” Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy chăn chiên Ta.” ¹⁷ Ngài lại hỏi ông lần thứ ba: “Si-môn, con của Giăng ơi, con yêu Ta chăng?” Phi-e-rơ buồn vì Ngài hỏi mình đến ba lần: “Con yêu Ta chăng?” Ông thưa rằng: “Thưa Chúa, Chúa biết tất cả mọi sự; Chúa biết rằng con yêu Chúa.” Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy chăm sóc chiên Ta.

iv.Chúa Giêsu cũng động lòng thương xót khi Ngài thấy dân chúng như chiên không có người chăn (Mác 6:34 Vừa ra khỏi thuyền, Đức Chúa Jêsus thấy đoàn dân đông thì cảm thương họ, vì họ như chiên không có người chăn. Ngài bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều); Môi-se đã báo trước bản chất của Chúa Giêsu qua mối quan tâm của Ngài rằng dân Israel sẽ không bị bỏ rơi như chiên không có người chăn.

3.(18-23) Giô-suê được chọn và trao quyền.

a.câu 18-19 ¹⁸ Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy chọn lấy Giô-suê con trai của Nun, người có Thần cảm động; phải đặt tay trên mình người; ¹⁹ rồi đem người ra mắt Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và cả hội chúng truyền lịnh cho người trước mặt họ: Mặc dù Giô-suê không xuất thân từ dòng dõi quý tộc hay là con trai của Môi-se theo nghĩa đen, nhưng có nhiều điều đủ điều kiện để ông trở thành người kế vị Môi-se.

  • Giô-suê đã lãnh đạo quân đội Y-sơ-ra-ên chống lại dân A-ma-léc (Xuất Ê-díp-tô Ký 17:8-16 ⁸ Bấy giờ quân A-ma-léc đến khiêu chiến với Y-sơ-ra-ên tại Rê-phi-đim. ⁹ Môi-se nói với Giô-suê: “Hãy chọn cho chúng ta những tráng sĩ đi chiến đấu với quân A-ma-léc. Ngày mai tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi với cây gậy của Đức Chúa Trời trong tay.” ¹⁰ Giô-suê đã chiến đấu với quân A-ma-léc theo lệnh Môi-se truyền; còn Môi-se, A-rôn và Hu-rơ đi lên đỉnh đồi. ¹¹ Mỗi khi Môi-se giơ tay lên thì quân Y-sơ-ra-ên thắng thế; nhưng khi ông hạ tay xuống thì quân A-ma-léc lại thắng thế. ¹² Khi đôi tay Môi-se đã mỏi, họ lấy một hòn đá kê cho ông ngồi lên; rồi A-rôn và Hu-rơ đứng hai bên, mỗi người một phía, đỡ tay ông lên; nhờ vậy tay ông chẳng lay động cho đến khi mặt trời lặn. ¹³ Giô-suê dùng gươm đánh bại vua và dân A-ma-léc. ¹⁴ Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy chép điều nầy vào một cuốn sách để lưu niệm và nói cho Giô-suê biết rằng Ta sẽ xóa sạch kỷ niệm về A-ma-léc trong thiên hạ.” ¹⁵ Môi-se lập một bàn thờ và đặt tên là “Giê-hô-va là ngọn cờ của tôi”. ¹⁶ Ông nói: “Vì một bàn tay của A-ma-léc đã giơ lên chống lại ngôi Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va sẽ chinh chiến với chúng từ thế hệ nầy qua thế hệ khác.”).
  • Giô-suê là phụ tá của Môi-se (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:13 Môi-se bèn chờ dậy cùng Giô-suê, kẻ hầu mình, rồi Môi-se đi lên núi Đức Chúa Trời.).
  • Giô-suê đã giúp Môi-se tại đền tạm sau thảm họa con bê vàng (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:7-11 ⁷ Môi-se lấy Trại đem dựng xa ra ngoài trại quân, gọi là hội mạc, phàm ai muốn cầu khẩn Đức Giê-hô-va, thì ra đến hội mạc ở ngoài trại quân. ⁸ Vừa khi Môi-se ra đến Trại, thì cả dân sự chỗi dậy, mỗi người đứng nơi cửa trại mình, ngó theo Môi-se cho đến khi nào người vào trong Trại rồi. ⁹ Vừa khi người vào đó, thì trụ mây giáng xuống dừng tại cửa Trại, và Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se. ¹⁰ Cả dân sự thấy trụ mây dừng tại cửa Trại, bèn đứng dậy, rồi mỗi người đều sấp mình xuống nơi cửa trại mình. ¹¹ Đức Giê-hô-va đối diện phán cùng Môi-se, như một người nói chuyện cùng bạn hữu mình. Đoạn, Môi-se trở về trại quân, còn kẻ hầu trẻ của người, tên là Giô-suê, con trai của Nun, không ra khỏi Trại.).
  • Giô-suê rất sốt sắng bảo vệ quyền hành và sự lãnh đạo của Môi-se (Dân số ký 11:28 Giô-suê, con trai của Nun, là người hầu việc Môi-se, đáp lại mà rằng: Hỡi Môi-se, chúa tôi, hãy cấm chúng nó!).
  • Giô-suê là một trong hai người do thám đầy đức tin trong số mười hai người do thám xứ Ca-na-an (Dân số ký 13:30 đến chương 14:38 _ đọc Dân số ký 14: 36-38 ³⁶ Những người mà Môi-se đã sai đi do thám xứ, khi trở về có xui cho cả hội chúng lằm bằm cùng Môi-se, ³⁷ và có phao phản xứ, những người nầy đều bị một tai vạ hành chết trước mặt Đức Giê-hô-va. ³⁸ Nhưng trong bọn người đi do thám xứ, chỉ có Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, còn sống được).
  • Giô-suê là người có Đức Thánh Linh, phẩm chất quan trọng nhất trong tất cả. Đức Thánh Linh sẽ ban sức mạnh và giúp ông hoàn thành vai trò đầy thách thức là dẫn dắt dân tộc vào xứ Ca-na-an.

i.“Điều này chắc chắn ám chỉ đến Thánh Linh của Đức Chúa Trời; và vì được ban cho Thánh Linh này, nên ông có khả năng lãnh đạo dân sự. Thật là kém cỏi biết bao cho công việc của Đức Chúa Trời nếu người ấy không được Đức Thánh Linh hướng dẫn và tác động! Đức Chúa Trời để hoàn thành ý định của Ngài không bao giờ chọn một người đơn thuần, mà chỉ chọn đích danh người mà chính Ngài đã chọn để làm công việc đó.” (Clarke)

ii.“Lời cầu nguyện đã được đáp lại ngay lập tức và ông không chỉ có được sự hài lòng như đã nói về việc chỉ định người kế nhiệm mình, mà còn, điều quan trọng hơn nhiều đối với ông, là biết rằng người được chỉ định như vậy chính là người được Chúa lựa chọn.” (Morgan)

b.²⁰và trao phần vinh hiển ngươi lại cho người, hầu cho hội chúng Y-sơ-ra-ên nghe người: Điều này dường như đã diễn ra ngay lập tức. Từ thời điểm này, Giô-suê đã chia sẻ một phần quyền hành (vinh hiển) của Môi-se trong việc lãnh đạo Y-sơ-ra-ên. Trước khi Môi-se qua đời, có một vài tháng chia sẻ quyền lãnh đạo và trách nhiệm, một giai đoạn chuyển tiếp ngắn ngủi.

c.²¹ Người phải RA MẮT Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, rồi người sẽ vì Giô-suê cầu hỏi sự xét đoán của u-rim trước mặt Đức Giê-hô-va; theo lịnh Ê-lê-a-sa, người và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra và đi vào: Việc bổ nhiệm Giô-suê không chỉ được Môi-se chứng minh rõ ràng mà còn được thầy tế lễ Ê-lê-a-sa chứng minh. Các thầy tế lễ sẽ ủng hộ sự lãnh đạo của Giô-suê, mặc dù ông (không giống Môi-se) không xuất thân từ chi phái Lê-vi.

i.Lời giải thích về vai trò của thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, người sẽ cầu vấn Chúa cho ông, cho thấy sự khác biệt giữa vị trí của Moses và vị trí của Giô-suê. “Trong khi Đức Chúa Trời đã phán với Moses mặt đối mặt (Dân số ký 12:6-8 ⁶ Ngài phán cùng hai người rằng: Hãy nghe rõ lời ta. Nếu trong các ngươi có một tiên tri nào, ta là Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra cùng người trong sự hiện thấy, và nói với người trong cơn chiêm bao. ⁷ Tôi tớ Môi-se ta không có như vậy, người thật trung tín trong cả nhà ta. ⁸ Ta nói chuyện cùng người miệng đối miệng, một cách rõ ràng, không lời đố, và người thấy hình Đức Giê-hô-va. Vậy các ngươi không sợ mà nói hành kẻ tôi tớ ta, là Môi-se sao?), Giô-suê sẽ được thầy tế lễ Ê-lê-a-sa hướng dẫn, người sẽ sử dụng Urim và Thummim, tức là thẻ bài thánh, để khám phá ý muốn của Chúa.” (Wenham)

d.²² Vậy, Môi-se làm y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình, chọn lấy Giô-suê để trước mặt Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và trước mặt cả hội chúng, ²³ ĐẶT TAY TRÊN MÌNH NGƯỜI, và truyền lịnh cho, y như Đức Giê-hô-va đã cậy Môi-se phán dặn vậy: Việc trình diện công khai và đặt tay trên Giô-suê này rất quan trọng. Nó giới thiệu Giô-suê trước toàn thể Y-sơ-ra-ên như một vị lãnh đạo kế nhiệm, người sẽ kế nhiệm Môi-se với tư cách là vị lãnh đạo được Đức Chúa Trời chỉ định.

i.“Gia-cốp đặt tay lên đầu các cháu trai mình để chúc phước cho chúng (Sáng thế ký 48:14 Y-sơ-ra-ên đưa tay mặt ra, để trên đầu Ép-ra-im, là đứa nhỏ, còn tay trái lại để trên đầu Ma-na-se. Người có ý riêng để tay như vậy, vì Ma-na-se là đứa lớn.); dân sự đặt tay lên đầu kẻ phạm thượng để chuyển tội lỗi mà họ mắc phải khi nghe lời phạm thượng sang cho kẻ phạm thượng (Lê-vi ký 24:14 Hãy đem kẻ đã rủa sả ra ngoài trại quân, hết thảy ai đã có nghe nó phải đặt tay mình trên đầu nó, và cả hội chúng phải ném đá nó); và tất cả những người thờ phượng đặt tay lên đầu con vật hiến tế để chỉ ra rằng nó đang thay họ chết vì tội lỗi của họ (Lê-vi ký 1:4 Người sẽ nhận tay mình trên đầu con sinh, nó sẽ được nhậm thế cho, hầu chuộc tội cho người., v.v.).” (Wenham)

nguồn