Giăng 5 – Sự Chữa Lành Và Một Bài Giảng
A.Chúa Giê-su chữa lành một người đàn ông tại hồ Bết-tết-đa.
1.(1-4) Hồ Bết-tết-đa.
a.¹Kế đó, có một ngày lễ của dân Giu-đa, Đức Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem: Chúng ta không biết đây là lễ hội gì, nhưng có lẽ đây là một trong ba lễ hội lớn mà người Giu-đa phải tham dự.
i.Cuộc tranh luận tập trung vào việc liệu đây là Lễ Vượt Qua, Lễ Ngũ Tuần hay Lễ Purim. Nếu đó là Lễ Vượt Qua, thì chúng ta có thể xác định được bốn Lễ Vượt Qua trong suốt thời gian Chúa Giê-su thi hành chức vụ, và chúng ta biết rằng nó kéo dài khoảng 3 năm rưỡi.
b.²Số là, tại thành Giê-ru-sa-lem, gần cửa Chiên, có một cái ao, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Bê-tết-đa, xung quanh ao có năm cái vòm cửa: Hồ nước này đã được khai quật ở khu vực ngay phía bắc khu vực đền thờ và được phát hiện có năm trụ vòm mái che (BD2020), đúng như Giăng đã nói.
i.câu2BD2020 Bấy giờ, tại Giê-ru-sa-lem, bên Cửa Chiên, có một cái hồ, được gọi là Bê-tết-đa trong tiếng Hy-bá, gồm năm trụ vòm mái che “Câu nói “bấy giờ” được cho là ngụ ý rằng Giăng đã viết Phúc Âm của mình trước khi thành Jerusalem bị phá hủy. Nhưng điều này không nên bị nhấn mạnh. Có thể ông ấy đã nói ở hiện tại mà không có ý định nói chính xác theo nghĩa đen về thời điểm ông viết.” (Alford)
ii.Có một nhà thờ thời Thập tự chinh gần tàn tích của hồ nước này. “Việc họ [những người Thập tự chinh] coi hồ nước này như được đề cập ở đây được thể hiện qua việc họ đã khắc họa trên tường hầm mộ hình ảnh thiên thần đang khuấy động dòng nước.” (Dods)
c.³Những kẻ đau ốm, mù quáng, tàn tật, bại xuội nằm tại đó rất đông, (chờ khi nước động; ⁴ vì một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao, làm cho nước động; lúc nước đã động rồi, ai xuống ao trước hết, bất kỳ mắc bịnh gì, cũng được lành): Nhiều người đau ốm và người bị bệnh tật tụ tập bên hồ nước này với hy vọng được chữa lành. Có lẽ hy vọng được chữa lành này là có thật, và Chúa đã tôn trọng sự giải phóng của đức tin.. Hoặc, có thể đây chỉ là một truyền thuyết đầy hy vọng; tuy nhiên, rất đông kẻ đau ốm đã tin vào điều đó.
i.Những lời từ việc chờ khi nước động chảy qua đã chữa lành bất kỳ ai mắc bịnh gì không có trong một số bản thảo cổ. Tuy nhiên, sự thật về nhận thức được sự chữa lành khi là người đầu tiên xuống nước cũng được chứng minh trong lời Giăng 5:7.
ii.“Theo bằng chứng của bản thảo, câu này và mệnh đề cuối cùng của câu 3 có vẻ không phải do Giăng viết, mà là một phần được thêm vào rất sớm (ít nhất là từ thời Tertullian, thế kỷ thứ 2).” (Trench)
iii.câu 4BD2020 [một số bản có câu này, nhưng một số bản cổ đáng tin cậy nhất không có câu này] (Vì một thiên sứ của Chúa, VÀO MỘT THỜI ĐIỂM NHẤT ĐỊNH, giáng xuống hồ và khuấy động nước, thế nên người nào bước xuống đầu tiên khi nước xao động thì được lành, dù mắc bệnh như thế nào lúc ấy): Clarke và những người khác tin rằng VÀO MỘT THỜI ĐIỂM NHẤT ĐỊNH này là thời điểm lễ hội, có lẽ cụ thể là Lễ Vượt Qua. Ý tưởng là dân chúng tụ tập quanh hồ nước với mong đợi được chữa lành vào mùa Lễ Vượt Qua hoặc các mùa lễ hội khác. “Chỉ một lần mỗi năm thôi, Tertullian nói. Những người khác (có lẽ nhiều khả năng hơn) vào tất cả các dịp lễ lớn của họ, khi dân chúng từ khắp nơi tụ họp tại Jerusalem.” (Trapp)
vi.Nếu có những người thực sự được chữa lành bởi nước ở Hồ Bê-tết-đa, thì đó là một trong nhiều trường hợp chữa lành khác thường trong Kinh thánh.
- Một số người được chữa lành nhờ một nồi xúp đã được thanh lọc (2 Các Vua 4:38-41).
- Naaman được chữa lành bằng cách tắm ở sông Giô-đanh (2 Các Vua 5:10-14).
- Một người được chữa lành nhờ chạm vào bộ xương của Ê-li-sê (2 Các Vua 13:20-21).
- Một số người được chữa lành khi bóng của Phi-e-rơ phủ lên họ (Công vụ 5:14-16).
- Một số người được chữa lành khi khăn tay của Phao-lô được đặt trên họ (Công vụ 19:11-12).
v.Chúa có thể và thực sự làm mọi việc theo những cách không ngờ tới. Nhưng điều gì đó không nhất thiết đến từ Chúa chỉ vì nó bất ngờ hay khác thường.
2.(5-6) Chúa Giêsu hỏi một người què.
a.⁵Nơi đó, có một người bị bịnh đã được ba mươi tám năm: Người này bị bại liệt đã lâu, và dường như thường xuyên đến Hồ Bết-tết-đa với hy vọng được chữa lành. Niềm hy vọng đó đã tan vỡ từ lâu (ba mươi tám năm).
b.⁶Đức Chúa Jêsus thấy người nằm, biết rằng đau đã lâu ngày, thì phán: Ngươi có muốn lành chăng?: Vì lý do nào đó, Chúa Giê-su đã chọn người này trong số đông người bệnh (Giăng 5:3). Chúa Giê-su không có ý định thực hiện một chiến dịch chữa bệnh tại Hồ Bết-tết-đa, nhưng Ngài sắp sửa đáp ứng nhu cầu của người đàn ông này một cách kỳ diệu.
i.Rất nhiều người nghèo khó ở đó, nhưng không ai trong số họ hướng về Chúa Giê-su. “Một sự mù quáng đã bao trùm những người bên hồ nước; họ ở đó, và có Chúa Giê-su, Đấng có thể chữa lành họ, nhưng không một ai trong số họ tìm kiếm Ngài. Mắt họ dán chặt vào mặt nước, mong đợi nước sẽ động; họ quá bận tâm với con đường riêng mình đã chọn đến nỗi con đường chân chính bị lãng quên.” (Spurgeon)
ii.Spurgeon hình dung cảnh đám đông đang chờ đợi quanh hồ Bê-tết-đa, tất cả đều chờ đợi – thay vì hướng về Chúa Giê-su. Ông nghĩ rằng sự chờ đợi này thật ngu ngốc đối với nhiều người.
- Một số người chờ đến mùa thuận tiện hơn.
- Một số người chờ đợi những giấc mơ và viễn cảnh.
- Một số người chờ đợi những dấu hiệu và điều kỳ diệu.
- Một số người chờ đợi để bị thúc ép.
- Một số người chờ đợi sự phục hưng
- Một số người chờ đợi những cảm xúc đặc biệt.
- Một số người chờ đợi một người nổi tiếng.
c.Ngươi có muốn lành chăng? Đây là một câu hỏi chân thành. Chúa Giê-su biết rằng không phải người bệnh nào cũng muốn được chữa lành, và có một số người nản lòng đến mức từ bỏ mọi hy vọng được chữa lành. Chúa Giê-su đã gặp một người đàn ông có thể trái tim thì tàn héo, còn chân thì tong teo. Vì vậy, Chúa Giê-su đã cố gắng xây dựng đức tin cho người đàn ông này.
i.“Chắc chắn là tình trạng bệnh tật kéo dài và dường như vô vọng của người đàn ông này có thể khiến ông trông uể oải và chán nản, và câu hỏi có thể nảy sinh từ điều này.” (Alford)
ii.Có thể Chúa Giê-su đã hỏi điều này ngay cả khi nước động và mọi người bắt đầu nhảy xuống, lặn xuống và lăn mình xuống nước, ai cũng hy vọng có bằng chứng cho thấy mình được ưu ái. Người đàn ông mà Chúa Giê-su trò chuyện biết rằng mình không phải là một trong những người được ưu ái, và không có hy vọng thực sự nào được chữa lành.
iii. Trong trường hợp cụ thể của người đàn ông này, việc tự hỏi liệu anh ta có thực sự muốn được chữa lành hay không là điều hợp lý. “Một người ăn xin phương Đông thường mất đi một cuộc sống tốt đẹp chỉ vì được chữa khỏi bệnh.” (Barclay) Dù tình hình hiện tại của anh ta tệ đến đâu, ít nhất anh ta cũng đã quen với nó.
3.(7-9) Người ấy đáp lại và Chúa Giêsu chữa lành cho anh ta.
a.⁷Người bịnh thưa rằng: Lạy Chúa, tôi chẳng có ai để quăng tôi xuống ao trong khi nước động; lúc tôi đi đến, thì kẻ khác đã xuống ao trước tôi rồi: Người què cho rằng Chúa Giê-su biết rõ mọi việc diễn ra ở hồ Bết-tết-đa, và ông giải thích với Chúa Giê-su tại sao ông không thể được chữa lành. Dĩ nhiên, người què không thể nghĩ ra cách nào khác để đáp ứng nhu cầu của mình.
i.Người đàn ông này là một trường hợp thú vị của sự kết hợp giữa hy vọng và tuyệt vọng. Ông đã có hy vọng, nếu không thì đã không bao giờ đến Hồ Bê-tết-đa. Vậy mà một khi đã đến đó, ông lại chẳng có mấy hy vọng để trở thành người được ưu ái nhận được sự chữa lành ngày hôm đó.
ii.Một người khác bước xuống trước mặt tôi: “Câu trả lời của người đàn ông ngụ ý niềm tin phổ biến rằng bất kỳ ai bước vào ngay sau khi nước sủi bọt đều được chữa lành.” (Alford)
iii.“Người bệnh làm điều mà hầu hết chúng ta đều làm. Họ giới hạn sự giúp đỡ của Chúa vào những ý tưởng riêng của mình và không dám hứa hẹn nhiều hơn những gì họ hình dung trong đầu.” (Calvin)
b.⁸Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đứng dậy, vác giường ngươi và đi: Chúa Giê-su bảo người bại liệt làm điều anh ta không thể làm. Bị liệt, anh ta không thể đứng dậy, vác giường hay đi lại. Lúc này, Chúa Giê-su thách thức người bại liệt tin vào Ngài vì điều không thể.
i.Giường không phải là giường khung liền, mà là một tấm nan. Morris giải thích từ tiếng Hy Lạp cổ được dịch là giường : “Hình như nó có nguồn gốc từ tiếng Macedonia và có nghĩa là giường trại, một tấm pallet.”
ii.Thật dễ dàng để hình dung phản ứng đầu tiên của người đàn ông là: ” Tôi không thể làm điều đó – tại sao phải thử?”. Tuy nhiên, một điều kỳ diệu đã thúc đẩy người đàn ông nói: ” Nếu người này bảo tôi làm, tôi sẽ thử”. Chúa Giê-su đã hướng dẫn người đàn ông đến một phản ứng đức tin.
iii.“Người đàn ông có thể đã nói với một sự phẫn uất bị tổn thương rằng chiếc giường đã mang ông trong suốt ba mươi tám năm và không có nhiều ý nghĩa khi bảo ông mang nó.” (Barclay)
iv.“Ông được lệnh phải vác giường mà đi, để chứng minh rằng sự chữa lành là vĩnh viễn. Chắc chắn nhiều trường hợp chữa lành ở hồ bơi chỉ là tạm thời.” (Dods)
c.⁹Tức thì người ấy được lành, vác giường mình và đi: Điều này xảy ra khi người ấy đáp lại bằng đức tin và làm chính xác những gì Chúa Giê-su bảo, mặc dù trước đó anh ta không thể làm được. Sự kiện anh ta được chữa lành được xác nhận bởi việc anh ta có đủ sức để mang tấm nan giường của mình và bước đi.
i.“Vì Chúa Giê-su đã phán bảo, nên ông không hỏi gì thêm, chỉ gập giường lại và bước đi. Ông làm theo lời Chúa bảo, vì ông tin vào Đấng đã phán. Hỡi tội nhân tội nghiệp, bạn có đức tin như vậy nơi Chúa Giê-su không?” (Spurgeon)
ii.“Ngài chữa lành người đàn ông bên hồ nước, nhưng không cần chạm vào hồ nước, để chứng tỏ rằng Ngài có thể chữa lành mà không cần nước.” (Trench)
iii.Điều này cho thấy Tân Ước mô tả nhiều cách khác nhau để con người có thể được chữa lành.
- Các trưởng lão của hội thánh có thể xức dầu cho ai đó và cầu nguyện cho họ, và họ có thể được chữa lành (Gia-cơ 5:14-16).
- Dân sự của Chúa có thể đặt tay lên nhau khi cầu nguyện, xin Chúa chữa lành, và mọi người có thể được chữa lành (Mác 16:17-18).
- Chúa có thể ban cho ai đó món quà chữa lành – hoặc là họ được chữa lành trực tiếp, hoặc có quyền năng mang lại sự chữa lành cho người khác (1 Cô-rinh-tô 12:9).
- Đức Chúa Trời có thể ban ơn chữa lành khi người đó có đức tin và mong muốn được chữa lành (Ma-thi-ơ 9:22).
- Đức Chúa Trời có thể ban ơn chữa lành để đáp lại đức tin của người khác thay mặt cho người được chữa lành (Mác 2:4-5, Ma-thi-ơ 8:13).
- Đức Chúa Trời có thể chữa lành qua phương pháp điều trị y khoa (1 Ti-mô-thê 5:23, Gia-cơ 5:14 với Lu-ca 10:34).
d.9bVả, bấy giờ là ngày Sa-bát: Việc mọi việc này được thực hiện vào ngày Sa-bát sẽ là nguồn gốc của cuộc tranh cãi sau này.
B.Cuộc tranh luận về ngày Sa-bát.
1.(10-13) Người Giu-đa không để ý đến phép lạ và cảm thấy bị xúc phạm.
a.¹⁰aCác người Giu-đa bèn nói với kẻ được chữa lành rằng: Trong suốt Phúc âm của mình, Giăng sử dụng thuật ngữ người Giu-đa theo nghĩa chỉ các nhà lãnh đạo Giu-đa, chứ không phải chỉ tất cả người Giu-đa ở Jerusalem.
i.“Ở đây, như thường lệ trong Phúc âm Giăng, điều quan trọng là phải ghi rõ ‘người Giu-đa’ được đề cập chính xác là ai: trong bối cảnh này, họ là thành viên của tổ chức tôn giáo ở Jerusalem.” (Bruce)
b.10bNay là ngày Sa-bát, ngươi không phép mang giường mình đi. ¹¹Người trả lời rằng: Chính người đã chữa tôi được lành biểu tôi rằng: Hãy vác giường ngươi và đi: Việc mang giường (thực ra là cái giường xếp cuốn hoặc túi ngủ) thực chất là vi phạm lời giải thích của các ra-bi về điều răn cấm làm việc hoặc kinh doanh vào ngày Sa-bát. Đó không phải là vi phạm luật ngày Sa-bát của Chúa, mà là cách con người diễn giải luật Chúa.
i.“Các Rabi Giu-đa thời Chúa Jesus đã long trọng lập luận rằng một người sẽ phạm tội nếu mang kim trong áo vào ngày Sa-bát. Họ thậm chí còn tranh luận về việc liệu người đó có thể đeo răng giả hay đi chân gỗ hay không.” (Barclay)
ii.“Chúa Giê-su kiên trì khẳng định rằng làm việc lành là hợp pháp vào ngày Sa-bát. Ngài phớt lờ hàng loạt quy định của thầy thông giáo, và do đó không tránh khỏi xung đột với chính quyền.” (Morris)
iii.Lòng sùng kính đối với cách giải thích luật ngày Sa-bát của các Rabi Giu-đa vẫn tiếp diễn trong thời hiện đại. Một ví dụ được tìm thấy trong một bản tin tháng 4 năm 1992: Những người thuê nhà để ba căn hộ trong một khu phố Chính thống giáo ở Israel bị cháy rụi, trong khi họ hỏi một Rabi Giu-đa rằng liệu việc gọi điện thoại cho sở cứu hỏa vào ngày Sa-bát có vi phạm luật Giu-đa hay không. Những người Giu-đa sùng đạo bị cấm sử dụng điện thoại vào ngày Sa-bát, vì làm như vậy sẽ làm gián đoạn mạch điện, vốn được coi là một hình thức lao động. Trong vòng nửa giờ mà Rabi Giu-đa quyết định “đồng ý”, ngọn lửa đã lan sang hai căn hộ bên cạnh.
c.¹²Họ hỏi rằng: Người đã biểu ngươi: Hãy vác giường và đi, là ai? Các nhà lãnh đạo Giu-đa không muốn biết ai đã chữa lành người què. Họ muốn biết ai đã bảo anh ta vác giường mà đi vào ngày Sa-bát.
i.Điều này có vẻ lạ lùng, và có lẽ gây khó hiểu cho người được chữa lành. “Hôm nay tôi được đưa đến hồ nước, và nếu không được chữa lành, tôi sẽ phải được khiêng về nhà. Việc đó vất vả hơn nhiều so với việc tôi được chữa lành và tự vác giường đi về. Chúa Giê-su đang giảm thiểu công việc ngày Sa-bát, chứ không phải tạo thêm việc làm.”
ii.Đối với các nhà lãnh đạo tôn giáo, Chúa Giê-su là người đã vi phạm ngày Sa-bát. Đối với người được chữa lành, Chúa Giê-su là Đấng đã chữa lành cho tôi.
d.¹³Nhưng người đã được chữa lành không biết là ai: Vì Đức Chúa Jêsus đã lẩn trong đám đông tại chỗ đó: Chúa Giê-su không muốn ở lại giữa sự ồn ào xung quanh việc chữa lành người đàn ông. Vì Ngài không có ý định chữa lành cho cả đám đông, nên tốt hơn là Ngài nên lánh đi.
i.“Chúa Giê-su phán những lời chữa lành, rồi đi vào giữa đám đông, để không ai chú ý đến Ngài, dù là người bệnh hay những người khác.” (Alford)
2.(14-15) Chúa Giêsu cảnh báo người được chữa lành về một mối nguy hiểm lớn hơn.
a.¹⁴ Sau lại, Đức Chúa Jêsus gặp người đó trong đền thờ, bèn phán rằng: Kìa, ngươi đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, e có sự gì càng xấu xa xảy đến cho ngươi chăng: Chúa Giê-su gặp người đó vì Ngài quan tâm đến sức khỏe tâm linh của ông (đừng phạm tội nữa, e có sự gì càng xấu xa xảy đến cho ngươi chăng), chứ không chỉ sức khỏe thể chất. Sống trong tội lỗi còn tệ hơn, và sẽ mang lại hậu quả tệ hơn, so với việc bị tàn tật suốt ba mươi tám năm.
i.Kìa, ngươi đã lành rồi: “Sử dụng động từ hoàn thành, cho thấy việc chữa trị là vĩnh viễn. Chắc chắn một số ‘ca chữa trị’ được báo cáo từ hồ bơi không kéo dài được lâu.” (Morris)
ii.“Ba mươi tám năm bệnh tật của người đàn ông này rõ ràng là do sự phóng đãng. Chính tội lỗi xác thịt, quả báo trong xác thịt, đã mang lại cho ông ta cuộc sống khốn khổ đó.” (Maclaren)
b.¹⁵ Người đó đi nói với các người Giu-đa rằng ấy là Đức Chúa Jêsus đã chữa lành cho mình: Việc ông báo cáo Chúa Jesus với chính quyền cho thấy người đàn ông này sợ hãi những nhà lãnh đạo tôn giáo đó như thế nào.
i.“Người đàn ông được chữa lành dường như là một sinh vật khó chịu… ngay khi phát hiện ra danh tính của Vị Ân Nhân của mình, anh ta đã phản bội Ngài với chính quyền thù địch.” (Morris)
ii.Về lý thuyết, hình phạt cho hành vi bất tuân vào ngày Sa-bát rất nghiêm khắc. Dods trích dẫn Lightfoot: “Bất kỳ ai mang bất cứ thứ gì vào hoặc mang bất cứ thứ gì ra khỏi nơi công cộng vào nơi riêng tư trong ngày Sa-bát, nếu vô tình, người đó sẽ phải dâng lễ vật chuộc tội; nhưng nếu cố ý, người đó sẽ bị tuyệt giao và bị ném đá.”
3.(16-18) Chúa Giêsu bảo vệ việc làm ngày Sa-bát của Ngài.
a.¹⁶ Nhân đó dân Giu-đa bắt bớ Đức Chúa Jêsus, vì cớ Ngài làm những sự ấy trong ngày Sa-bát: Điều đáng chú ý là việc chữa lành dường như không tạo ra sự khác biệt đối với những kẻ bắt bớ Chúa Giê-su. Họ chỉ thấy rằng luật lệ tôn giáo của họ đã bị phá vỡ, một luật lệ vượt ra ngoài phạm vi của chính Kinh Thánh.
i.“Việc xúi giục người khác vi phạm luật pháp (theo cách họ hiểu) còn tệ hơn cả việc tự mình vi phạm. Vì vậy, họ đã phát động một chiến dịch chống lại Chúa Jesus, và chiến dịch này không hề giảm bớt cho đến khi Ngài qua đời khoảng mười tám tháng sau đó.” (Bruce)
ii.Lòng sùng kính tuyệt đối, với các truyền thống của con người xung quanh ngày Sa-bát là điều không thể xem nhẹ. Ví dụ, Phục Truyền Luật Lệ Ký 23:12-14 dạy dân Y-sơ-ra-ên phải giữ gìn vệ sinh sạch sẽ khi quân đội đóng trại. Các Rabi Giu-đa thời xưa cũng áp dụng nguyên tắc tương tự cho thành Giê-ru-sa-lem, nơi họ coi là “trại của Chúa”. Khi điều này kết hợp với các hạn chế đi lại trong ngày Sa-bát, nó dẫn đến lệnh cấm đi vệ sinh vào ngày Sa-bát.
b.¹⁷Nhưng Ngài phán cùng họ rằng: CHA TA làm việc cho đến bây giờ, ta đây cũng làm việc như vậy: Chúa Giê-su không cố gắng giải thích rằng Ngài không thực sự làm việc vào ngày Sa-bát. Thay vào đó, Ngài mạnh dạn giải thích với các nhà lãnh đạo tôn giáo rằng CHA TA đã làm việc vào ngày Sa-bát, và do đó Chúa Giê-su, Đức Chúa Con, cũng làm việc vào ngày Sa-bát.
i.“Chúa không bao giờ ngừng làm việc, vì bản chất của lửa là cháy và của tuyết là lạnh, nên Chúa cũng làm việc như vậy.” (Philo, trích dẫn trong Dods)
ii.Theo một số cách, thật kỳ lạ khi Đức Chúa Trời của Kinh Thánh lại là một Đức Chúa Trời vận hành. “Trong thế giới cũ, lao động khó có thể được coi là một điều vinh dự. Nó là việc của nô lệ, nông nô và người lạ, chứ không phải của những người tự do. Do đó, lao động và sự vĩ đại hiếm khi đi đôi với nhau; và không gì có thể xa lạ hơn với thiên tài của chủ nghĩa ngoại giáo hơn một Đức Chúa Trời lao động. Thật là một cuộc cách mạng khi Chúa Giê-su dạy rằng ‘Đức Chúa Trời yêu thương’. Nhưng cũng chẳng kém phần cách mạng khi Ngài dạy rằng ‘Đức Chúa Trời hành động’.” (Morrison)
iii.“Mặc dù Ngài nghỉ ngơi sau khi sáng tạo, Ngài không bao giờ ngừng bảo tồn và cai quản những gì Ngài đã tạo nên: về mặt này, Ngài không thể giữ ngày Sa-bát; vì không có gì có thể tiếp tục tồn tại, hoặc đáp ứng mục đích được đề xuất bởi sự khôn ngoan và lòng tốt của Chúa, nếu không có năng lượng liên tục của Chúa.” (Clarke)
iv.Điều này trả lời cho lời phản đối của một nhà phê bình thù địch (và thiếu hiểu biết) đối với Cơ Đốc giáo. Tôi thấy câu này được viết trong một bài luận chống Cơ Đốc giáo: Hãy nói “không!” với một vị thần tự xưng là toàn năng, nhưng rồi lại đòi nghỉ ngơi chỉ sau sáu ngày sáng tạo (Sáng thế ký 2:2). Lời phản đối này cho thấy sự thiếu hiểu biết của người viết. Kinh Thánh nói rõ ràng rằng Đức Chúa Trời không cần ngủ hay nghỉ ngơi (Thi thiên 121:3-4, Đấng gìn giữ Y-sơ-ra-ên sẽ không hề chớp mắt hay ngủ gật). Sự nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời vào ngày thứ bảy được ban cho vì lợi ích của con người, chứ không phải của Đức Chúa Trời, thể hiện một khuôn mẫu nghỉ ngơi cần thiết cho sự an lạc của con người.
v.CHA TA … ta đây cũng: “Lời giải thích của Chúa Giê-xu cho thấy Ngài không tuyên bố mình đồng nhất với Chúa Cha như một ngôi vị, nhưng Ngài khẳng định sự hiệp nhất của mình với Chúa Cha trong một mối quan hệ có thể được mô tả là quan hệ con cái.” (Tenney)
c.¹⁸aBởi cớ đó, dân Giu-đa càng kiếm cách nữa để giết Ngài, chẳng những vì Ngài phạm ngày Sa-bát thôI, nhưng cũng nói rằng Đức Chúa Trời là Cha của Ngài: Sự giận dữ và thù hận của các nhà lãnh đạo tôn giáo rất khó giải thích, ngoài việc thấy rằng nó có nguồn gốc tâm linh. Họ không thích Chúa Giê-su, và do đó họ không thích Đức Chúa Cha (nhưng cũng nói rằng Đức Chúa Trời là Cha của Ngài).
d.18bmà lại vì Ngài gọi Đức Chúa Trời là Thân Phụ mình, làm ra mình bằng Đức Chúa Trời: Các nhà lãnh đạo tôn giáo không bỏ qua việc Chúa Giê-su tự xưng mình ngang hàng với Đức Chúa Trời. Họ biết rõ rằng khi Chúa Giê-su nói rằng Đức Chúa Trời là Cha Ngài theo cách độc đáo này, Ngài tự tuyên bố mình ngang hàng với Đức Chúa Trời.
i.“Ngài tuyên bố rằng Đức Chúa Trời là Cha Ngài theo một nghĩa đặc biệt. Ngài tuyên bố rằng Ngài dự phần vào cùng một bản chất với Cha Ngài. Điều này bao hàm sự bình đẳng.” (Morris) Morris cũng lưu ý rằng các động từ ‘phạm‘ và ‘nói‘ đều ở thì tiếp diễn; Chúa Giê-su thường xuyên phá vỡ các quy tắc ngày Sa-bát do con người đặt ra và thường xuyên nói rằng Ngài ngang hàng với Đức Chúa Trời.
ii.“Việc Chúa Jesus sử dụng riêng biệt từ ‘CHA TA‘ có một ý nghĩa hoàn toàn khác biệt, và theo quan điểm của họ là phạm thượng; đặc biệt là ý nghĩa sau này, vì Ngài đã biến Chúa thành người tham gia vào tội phá vỡ ngày sa-bát của Ngài.” (Alford)
iii.“Cần phải lưu ý cẩn thận rằng Ngài không phủ nhận tính chính xác trong suy luận của họ, nhưng vẫn tiếp tục nói như Đấng tuyên bố có thẩm quyền ngang bằng như vậy.” (Morgan)
iv.Augustine đã khôn ngoan nói về đoạn văn này: “Này, người Giu-đa hiểu những gì mà người Arius không hiểu.” Ngày nay, Nhân chứng Giê-hô-va nằm trong số những người giữ giáo lý của người Arius, phủ nhận thần tính của Chúa Jesus.
C.Chúa Giê-su giải thích mối quan hệ của Ngài với Chúa Cha.
1.(19-20) Chúa Con làm như Chúa Cha làm.
a.¹⁹aVậy, Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán cùng họ rằng: Trong cuộc thảo luận kéo dài này, Chúa Giê-su đã giải thích cho các nhà lãnh đạo tôn giáo đôi nét về bản chất mối quan hệ và công việc của Ngài với Đức Chúa Cha. Nhờ đó, chúng ta có rất nhiều thông tin về mối quan hệ giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.
i.Leon Morris đã nói về phần này, “Ngôn ngữ mà Chúa Jesus sử dụng trong suốt phần này hoàn toàn mang tính chất của đạo Giu-đa.”
b.19bQuả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, Con chẳng tự mình làm việc gì được; chỉ làm điều chi mà Con thấy Cha làm: Chúa Giê-su giải thích rằng Ngài, với tư cách là Đức Chúa Con, không làm bất cứ điều gì một cách độc lập. Ngài đã và đang hoàn toàn vâng phục ý muốn của Cha. Sự vâng phục này đến từ sự lựa chọn, chứ không phải do bị ép buộc hay bởi bản chất thấp kém.
i.Liên quan đến cuộc tranh luận về ngày Sa-bát được thảo luận trong các câu trước, đây là cách Chúa Giê-su nói với các nhà lãnh đạo tôn giáo rằng Ngài không bảo người được chữa lành tự mình mang giường; Ngài làm điều đó trong sự phục tùng hoàn toàn đối với Đức Chúa Cha trên trời.
ii.“Không phải chỉ là Ngài không hành động độc lập với Chúa Cha, mà Ngài không thể hành động độc lập với Chúa Cha.” (Morris)
c.19cvì mọi điều Cha làm, Con cũng làm y như vậy: Chúa Giê-su giải thích rằng công việc của Ngài là sự phản ánh hoàn hảo công việc và ý muốn của Đức Chúa Cha. Chúa Giê-su cho chúng ta thấy chính xác công việc và ý muốn của Đức Chúa Trời là gì.
i.“Chúa Cha không thụ động trong vấn đề này, là chỉ để cho Chúa Giê-su khám phá những gì Ngài có thể khám phá theo ý muốn của Chúa Cha; nhưng Chúa Cha chỉ cho Ngài thấy.” (Dods)
ii.“C.H. Dodd đã nhận ra một ‘dụ ngôn ẩn dụ’ trong các câu 19 và 20: Chúa Giê-su rút ra một phép so sánh từ kinh nghiệm thời thơ ấu của chính mình trong xưởng mộc, khi Ngài học cách bắt chước những điều Ngài thấy Joseph làm, do đó Ngài đã thực hiện việc học nghề của mình.” (Bruce)
iii.Một số người nghĩ rằng có một sự khác biệt lớn – hoặc thậm chí nhỏ – giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, như thể Đức Chúa Cha nhấn mạnh sự phán xét và Đức Chúa Con nhấn mạnh tình yêu. Đôi khi họ cũng nghĩ như vậy về cái mà họ gọi là Đức Chúa Trời của Cựu Ước và Đức Chúa Trời của Tân Ước. Suy nghĩ này là sai lầm; nó thường xuất phát từ việc từ chối nhìn thấy sự thể hiện tình yêu thương nơi Đức Chúa Cha, hoặc sự thể hiện sự công chính nơi Đức Chúa Con.
iv.“Ông cũng đang giải thích, bằng suy luận, về sự mầu nhiệm Nhập thể – rằng Đức Chúa Con khi trở thành Người không ngừng là Đức Chúa Trời, và rằng Nhân cách của Chúa Giêsu là Nhân cách của Đức Chúa Con.” (Trench)
d.²⁰aCha yêu Con và tỏ cho mọi điều Cha làm: Mối quan hệ giữa Ngôi thứ nhất và Ngôi thứ hai của Chúa Ba Ngôi không phải là mối quan hệ giữa chủ và tớ, không phải giữa chủ và nhân viên, mà là giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, được kết hợp bởi tình yêu thương.
i.“Đức Chúa Cha yêu Đức Chúa Con (thì biểu thị tình yêu thường xuyên liên tục; Đức Chúa Cha không bao giờ ngừng yêu Đức Chúa Con).” (Morris)
ii.“Việc ‘Đức Chúa Cha yêu Đức Chúa Con’ đã được khẳng định trong Phúc Âm này (Giăng 3:35); không quan trọng là động từ ở đây là phileo trong khi ở lần xuất hiện trước đó là agapao.” (Bruce)
e.20bCha sẽ tỏ cho Con công việc lớn lao hơn những việc nầy nữa, để các ngươi lấy làm lạ lùng: Các nhà lãnh đạo tôn giáo sửng sốt trước những gì Chúa Giê-su bảo người bại liệt làm. Chúa Giê-su nói với họ rằng họ sẽ thấy những việc lớn lao hơn nữa, những việc khiến họ phải lấy làm lạ lùng.
2.(21-23) Công Việc Của Chúa Cha, Công Việc Của Chúa Con.
a.²¹ Vả, Cha khiến những kẻ chết sống lại và ban sự sống cho họ thể nào, thì Con cũng ban sự sống cho kẻ Con muốn thể ấy: Chúa Giê-su đã dùng công trình phục sinh làm ví dụ về công trình chung của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Ở đây, Đức Chúa Con có quyền năng và thẩm quyền để khiến kẻ chết sống lại và ban sự sống cho họ, giống như Đức Chúa Cha đã làm.
i.Trong câu này, Chúa Giê-su đã viện đến quyền năng tối thượng. Thật khó để nghĩ đến quyền năng và thẩm quyền nào lớn hơn quyền năng khiến người chết sống lại. Các nhà lãnh đạo tôn giáo không muốn nghĩ nhiều về khả năng chữa lành người bại liệt của Chúa Giê-su; họ tập trung vào Ngài như một kẻ vi phạm ngày Sa-bát. Tuy nhiên, quyền năng của Chúa Giê-su còn vượt xa quyền năng chữa lành.
ii.21bthì Con cũng ban sự sống cho kẻ Con muốn thể ấy: “Ở đây, Chúa chúng ta chỉ ra quyền năng tối cao và sự độc lập của Ngài; Ngài ban sự sống theo ý muốn của riêng Ngài – không bắt buộc phải cầu xin quyền năng mà nhờ đó sự sống được thực hiện, như các tiên tri đã làm; ý muốn của Ngài là tuyệt đối và đủ trong mọi trường hợp.” (Clarke)
b.²²Cha cũng chẳng xét đoán ai hết, nhưng đã giao trọn quyền phán xét cho Con: Chúa Giê-su đã dùng công việc phán xét như một ví dụ về sự phân chia công việc giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Chính trước mặt Đức Chúa Con mà con người sẽ đứng trước mặt Ngài vào Ngày Phán Xét. Ngay cả trong thời gian thi hành chức vụ trên đất, Chúa Giê-su cũng là một vị thẩm phán giữa nhân loại.
i.Chỉ cần ở trong sự hiện diện của Chúa Giê-su đã khiến người ta nhận ra: “Tôi không giống Ngài.” Chúa Giê-su nhìn viên quan trẻ giàu có, và anh ta bị phán xét. Ngài nhìn Si-môn Phi-e-rơ, và anh ta cũng bị phán xét. Đó không phải là ánh mắt giận dữ; mà là ánh mắt yêu thương. Tuy nhiên, khi nhìn thấy khuôn mặt Chúa Giê-su, họ biết rằng một tình yêu thương được dành cho họ, mà họ không xứng đáng.
ii.“Bất cứ nơi nào Chúa Giê-su hiện diện, nơi đó đều có yếu tố phán xét… luôn có sự tự trách móc ở nơi Chúa Giê-su hiện diện. Con người xấu hổ về bản thân, họ không hiểu tại sao. Cuộc đời Ngài là một hành động yêu thương không ngừng nghỉ, nhưng đồng thời cũng là một hành động phán xét không ngừng.” (Morrison)
c.²³đặng ai nấy đều tôn kính Con, cũng như tôn kính Cha vậy. Ai không tôn kính Con, ấy là không tôn kính Cha, là Đấng đã sai Con đến: Đức Chúa Cha đã giao công việc phán xét này cho Đức Chúa Con để mọi người tôn kính Chúa Giê-su như họ phải tôn kính, và để họ tôn kính Con như họ tôn kính Cha. Không tôn kính Đức Chúa Con có nghĩa là không thể tôn kính Đức Chúa Cha, Đấng đã sai Con đến.
i.Đây là một lời tuyên bố rõ ràng về thần tính. Nếu Chúa Giê-su – tự xưng là Con – không phải là Đức Chúa Trời, thì việc tôn vinh Con cũng như tôn vinh Cha sẽ là sự thờ ngẫu tượng.
ii.“Tất cả phải tôn vinh Ngài bằng sự tôn vinh mà họ dành cho Chúa Cha – và bất kỳ ai không làm như vậy, dù họ có tưởng tượng rằng họ tôn vinh hay tiếp cận Chúa như thế nào, thì cũng không tôn vinh Ngài chút nào; bởi vì Ngài chỉ có thể được chúng ta biết đến hoặc tôn vinh là ‘NGƯỜI CHA ĐÃ GỬI CON NGÀI ĐẾN.’” (Alford)
iii.Chúa Cha 23bđã sai Con đến: “Sự Nhập Thể hoàn toàn là hành động của Chúa Cha cũng như của Chúa Con: Chúa Cha đã ‘sai’, Chúa Con đã ‘đến’.” (Trench)
3.(24-27) Từ sự chết đến sự sống trong Con Đức Chúa Trời.
a.²⁴aQuả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời: Chúa Giê-su giải thích với các nhà lãnh đạo tôn giáo đang kinh ngạc rằng những ai nghe lời Ngài sẽ có sự sống đời đời. Họ sẽ có sự sống gắn liền với cõi vĩnh hằng, và đang có sự sống ấy ngay bây giờ.
i.Giăng 3:16 nói rằng đức tin nơi Chúa Giê-su – theo nghĩa tin cậy, nương tựa và bám víu – là con đường dẫn đến sự sống đời đời. Ở đây, Chúa Giê-su nói rằng việc lắng nghe lời Ngài và tin nơi Cha (Đấng đã sai Ta) là con đường dẫn đến sự sống đời đời. Bởi vì Cha và Con hiệp nhất trong công việc, nên mỗi bên đều chân thành với nhau. Đức tin chân thật nơi Cha là đức tin nơi Con, và đức tin chân thật nơi Con là đức tin nơi Cha.
ii.Với những lời này, Chúa Giê-su đã nâng mình lên cao hơn hẳn bất kỳ người phàm nào. Hãy nghĩ xem: “Hãy nghe lời Ta và được sự sống đời đời.” Đây hoặc là lời lảm nhảm của một người điên, hoặc là lời của chính Đức Chúa Trời. Không có lập trường trung lập nào ở đây cả.
iii.“Bản văn của chúng ta không cho thấy sự sống vĩnh cửu được truyền đạt bằng những giọt nước, hay bằng bất kỳ nghi lễ nào khác; nhưng mệnh lệnh là, ‘Hãy lắng nghe, thì linh hồn ngươi sẽ sống.’” (Spurgeon)
b.24bvà không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống: Đây là một khía cạnh thiết yếu cho sự sống đời đời; thoát khỏi sự phán xét vì tội lỗi và vượt qua từ vị trí của sự chết đến vị trí của sự sống.
i.Đã vượt qua sự chết vào sự sống : “Đã thay đổi quê hương, hay nơi cư ngụ. Sự chết là quê hương mà mọi linh hồn không có Đấng Christ đang sống. Người không biết Chúa sống một cuộc đời đang chết, hay một cái chết đang sống; nhưng ai tin vào Con Đức Chúa Trời thì vượt qua khỏi vương quốc của sự chết, đến vương quốc của sự sống.” (Clarke)
c.²⁵Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, giờ đến, và đã đến rồi, khi những kẻ chết sẽ nghe tiếng của Con Đức Chúa Trời, và những kẻ nghe sẽ được sống: Chúa Giê-su đã giải thích rằng người sống có thể nghe lời Ngài, tin và được sự sống đời đời. Giờ đây, Ngài nói thêm rằng một ngày nào đó, ngay cả người chết cũng sẽ nghe tiếng Con Đức Chúa Trời và được sống lại. Đây là những tuyên bố đáng chú ý cho thấy Ngài cao cả hơn một con người rất nhiều.
d.²⁶Vì như Cha có sự sống trong mình, thì Cha cũng đã BAN CHO CON có sự sống trong mình vậy. ²⁷Cha đã ban quyền thi hành sự phán xét cho Con, vì là Con người: Chúa Giê-su mô tả thêm về sự độc nhất của Ngài với các nhà lãnh đạo tôn giáo bằng cách tuyên bố rằng Ngài có sự sống trong chính Ngài, một món quà do Đức Chúa Cha ban tặng. Chúa Giê-su có sự sống trong chính Ngài, không phụ thuộc vào người khác hay vật khác.
i.Không ai trong chúng ta có sự sống vốn có trong chính mình. Sự sống của chúng ta bắt nguồn từ cha mẹ và môi trường mong manh xung quanh. Chúa Giê-su khẳng định rằng sự sống của Ngài không bắt nguồn từ ai cả; nó vốn có và không được tạo ra. Các nhà thần học gọi phẩm chất tự tồn này là tự hữu và thừa nhận rằng chỉ có Chúa mới sở hữu nó.
ii.“Thật là nghịch lý khi nói rằng Ngài được ‘ban ’ cho ‘sự sống trong chính Ngài’! Và món quà đó được ban cho khi nào? Trong cõi vĩnh hằng sâu thẳm.” (Maclaren)
iii.Như Chúa Giê-su đã giải thích bản chất và thần tính của Ngài với các nhà lãnh đạo tôn giáo trong chương này, rõ ràng Chúa Giê-xu không tự nhận mình là một ngôi vị duy nhất với Đức Chúa Cha, nhưng khẳng định sự bình đẳng của Ngài với Đức Chúa Cha và mối quan hệ yêu thương của Ngài với Đức Chúa Cha. Chúa Giê-su và Đức Chúa Cha không phải là một ngôi vị, nhưng họ bình đẳng, như Giăng 1:1 đã nói.
iv.Những lời này của Chúa Giê-su mâu thuẫn với hai sai lầm sau này về bản chất thần tính của Đức Chúa Con. Một là, đôi khi được gọi là giáo lý “Chỉ có Chúa Giê-su”, nhầm lẫn giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con (trước đây được gọi là Sabellianism, và ngày nay được các nhóm như Ngũ Tuần Nhất Thể ủng hộ, (ND:cái gì cũng qui về Chúa Giê-xu)). Sai lầm còn lại là cho rằng Chúa Giê-su không phải là Đức Chúa Trời (trước đây được gọi là Ariusism, và ngày nay được các nhóm như Nhân Chứng Giê-hô-va ủng hộ).
4.(28-30) Sự thật về sự phán xét sắp đến của Chúa Con.
a.²⁸Chớ lấy điều đó làm lạ; vì giờ đến, khi mọi người ở trong mồ mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi: Trước đây, Chúa Giê-su đã phán rằng tất cả những ai có sự sống đời đời sẽ nghe tiếng Ngài và được sống (Giăng 5:25). Bây giờ, Ngài mở rộng khái niệm về sự phục sinh cho toàn thể nhân loại, cả những người đã làm điều thiện và những người đã làm điều ác.
i.“Điều này không có nghĩa là sự cứu rỗi dựa trên việc làm lành, vì chính Phúc Âm này đã nhiều lần khẳng định rằng con người sẽ được sự sống đời đời khi tin vào Chúa Giê-su Christ. Nhưng chính cuộc sống họ sống mới là sự thử thách cho đức tin mà họ tuyên xưng.” (Morris)
b.²⁹ai đã làm lành thì sống lại để được sống, ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét đoán.[Đa-ni-ên 12:² Nhiều người trong những người ngủ trong bụi đất sẽ trỗi dậy, một số để được sự sống đời đời và một số để cho sự sỉ nhục và khinh miệt đời đời]: Chúa Giê-su đã giải thích điều này với các nhà lãnh đạo tôn giáo đang kinh ngạc để giải thích Ngài là ai, bản chất thẩm quyền và thần tính của Ngài. Đồng thời, điều này cho chúng ta biết một điều đáng chú ý về nhân loại; rằng tất cả mọi người, cả những người đã làm điều thiện lẫn những người đã làm điều ác, SẼ SỐNG MÃI MÃI, vượt xa cuộc sống vật chất và thể xác mà họ đang trải qua trên trái đất này trong thời đại này. Chúa Giê-su sẽ truyền lệnh cho họ sống lại vào ngày đó, với thân thể xứng đáng cho sự sống đời đời.
i.“Sự phục sinh kép cho rằng cả người công chính và kẻ ác đều sẽ nhận được thân xác trong kiếp sống tương lai và có lẽ mỗi thân xác sẽ thể hiện tính cách của người được phục sinh.” (Tenney)
c.³⁰Ta không thể tự mình làm nổi việc gì; ta xét đoán theo điều ta nghe, và sự xét đoán ta là công bình, vì ta chẳng tìm ý muốn của ta, nhưng tìm ý muốn của Đấng đã sai ta: Chúa Giê-su giải thích rằng Ngài đủ tư cách là một thẩm phán hoàn toàn công chính, bởi vì quyền năng của Ngài nằm ở sự phục tùng Đức Chúa Cha. Ngài lặp lại chủ đề: Ta không thể tự mình làm được việc gì… Ta không tìm kiếm ý riêng của Ta nhưng tìm kiếm ý của Cha, Đấng đã sai Ta.
D.Lời chứng năm phần về Chúa Jesus là ai.
1.(31-32) Chúa Giêsu kể về lời chứng vượt ra ngoài lời chứng của chính Ngài về chính Ngài.
a.³¹Nếu ta tự mình làm chứng lấy, thì sự làm chứng ấy không đáng tin: Giống như bất kỳ ai khác, việc Chúa Giê-su chỉ tuyên bố những điều về chính Ngài là chưa đủ. Cần phải có một lời chứng từ bên ngoài và độc lập về danh tính và bản chất thật của Ngài.
i.Nguyên tắc này được xác lập bởi Phục Truyền Luật Lệ Ký 19:15, câu này nói rằng sự việc sẽ được xác minh dựa trên lời của hai hoặc ba nhân chứng. Chúa Giê-su giải thích với các nhà lãnh đạo tôn giáo rằng Ngài là Đức Chúa Trời, nhưng lời chứng của Ngài thôi thì chưa đủ.
b.³²Có người khác làm chứng cho ta, và ta biết rằng chứng người đó làm cho ta là đáng tin: Trong đoạn văn sau, Chúa Giê-su đưa ra ba nhân chứng đáng tin cậy, những người sẽ làm chứng rằng Ngài ngang hàng với Đức Chúa Cha. Chúa Giê-su thấy điều quan trọng là cho họ lý do để tin ngoài những gì Ngài đã nói về chính mình.
2.(33-35) Lời chứng của Giăng Báp-tít.
a.³³Các ngươi có sai sứ đến cùng Giăng, thì người đã làm chứng cho lẽ thật. ³⁴ Còn ta, lời chứng mà ta nhận lấy chẳng phải bởi người ta; nhưng ta nói vậy, đặng các ngươi được cứu: Chúa Giê-su lưu ý rằng các nhà lãnh đạo tôn giáo đã biết và nghe Giăng Báp-tít nói. Họ cần suy ngẫm và tin vào những gì Giăng nói về Chúa Giê-su.
b.³⁵Giăng là đuốc đã thắp và sáng, các ngươi bằng lòng vui tạm nơi ánh sáng của người | BD2020 ³⁵ Giăng vốn là ngọn đèn đang cháy và chiếu sáng, còn các ông đã muốn vui sướng nơi ánh sáng của ông ấy trong một thời gian: Các nhà lãnh đạo tôn giáo đã chấp nhận công trình của Giăng Báp-tít trong một thời gian. Họ cần tiếp tục tin Giăng về Chúa Giê-su, Đấng Mê-si.
i.“Thành ngữ “ngọn đèn” của Chúa chúng ta bắt nguồn từ phong tục thông thường của người Giu-đa, những người gọi các giáo sư lỗi lạc của họ là “ngọn đèn của Israel ”. (Clarke)
ii.“Ngài nói rằng Giăng là ngọn đèn cháy sáng. Đó là lời tri ân hoàn hảo dành cho ngài. (a) Ngọn đèn mang theo ánh sáng mượn. Nó không tự sáng; nó được thắp sáng. (b) Giăng có sự ấm áp, vì sứ điệp của ông không phải là sứ điệp lạnh lùng của trí tuệ mà là sứ điệp cháy bỏng của trái tim được thắp sáng. (c) Giăng có ánh sáng. Chức năng của ánh sáng là dẫn đường, và Giăng chỉ cho con người con đường đến sự ăn năn và đến với Chúa. (d) Về bản chất, ngọn đèn tự cháy; khi tỏa sáng, nó tự tiêu hao. Giăng phải giảm đi trong khi Chúa Giê-su được tăng lên. Chứng nhân chân chính tự thiêu đốt mình vì Chúa.” (Barclay)
iii.vui sướng: “ Nhảy lên vì vui mừng, như chúng ta thường nói. Họ vô cùng vui mừng khi nghe tin Đấng Mê-si đã đến, bởi vì họ mong đợi Ngài giải cứu họ khỏi tay người La Mã; nhưng khi một sự giải cứu thuộc linh, vô cùng quan trọng được rao giảng cho họ, họ đã từ chối cả sự giải cứu ấy lẫn ánh sáng đã làm cho sự giải cứu ấy được tỏ hiện.” (Clarke)
3.(36) Lời chứng về công việc của Chúa Giêsu.
a.³⁶Nhưng ta có một chứng lớn hơn chứng của Giăng; vì các việc Cha đã giao cho ta làm trọn, tức là các việc ta làm đó, làm chứng cho ta rằng Cha đã sai ta: Chúa Giê-su đã tuyên bố một chứng nhân khác về danh tính và thần tính của Ngài – chính những việc Ngài đã làm. Cuộc tranh luận hiện tại này bắt đầu với việc chữa lành đáng kinh ngạc cho một người đàn ông bị liệt 38 năm. Đây là một trong nhiều việc làm chứng về thần tính của Chúa Giê-su.
b.các việc ta làm đó, làm chứng cho ta: Phần lớn các phép lạ của Chúa Giê-su là những hành động đơn giản của lòng trắc ẩn và thương xót, được thực hiện cho những người đơn sơ và nghèo thiếu. Về điểm này, những việc làm này… làm chứng cho tấm lòng của Đức Chúa Trời. Người Giu-đa đã tìm kiếm một Đấng Mê-si-a kỳ diệu, nhưng họ không tìm kiếm Đấng sẽ thể hiện quyền năng kỳ diệu của Ngài bằng những hành động đơn giản của lòng trắc ẩn và thương xót. Họ mong đợi Đấng Mê-si-a sử dụng quyền năng kỳ diệu để mang lại sự giải phóng quân sự và chính trị cho Israel.
i.Vì những việc làm kỳ diệu của Chúa Giê-su không phù hợp với những gì họ nghĩ Đấng Mê-si sẽ làm, nên họ không nhận được lời chứng về những việc làm của Chúa Giê-su.
4.(37-38) Chứng từ của Chúa Cha.
a.³⁷Chính Cha, là Đấng đã sai ta, cũng làm chứng về ta. Các ngươi chưa hề nghe tiếng Ngài, chưa hề thấy mặt Ngài,[e]: Trong hầu hết mọi việc làm và lời nói của Chúa Giê-su, Đức Chúa Cha đều chứng thực địa vị Con Đức Chúa Trời của Chúa Giê-su. Nhưng cụ thể hơn, Đức Chúa Cha đã chứng thực về Chúa Con trong lời tiên tri Cựu Ước và khi Chúa Giê-su chịu phép báp-têm (Lu-ca 3:22).
b.³⁸và đạo (Logos) Ngài không ở trong các ngươi, vì các ngươi không tin Đấng mà Ngài đã sai đến: Họ sẽ không nhận được chứng ngôn của Đức Đức Chúa Cha, vì lời Ngài không ở trong họ. Họ không thể nghe Đức Chúa Cha bằng tai, hay nhìn thấy Ngài, nhưng họ có lời Ngài. Họ có tội vì họ không Ở TRONG LỜI Đức Chúa Trời đã ban cho họ.
5.(39) Lời chứng của Kinh Thánh.
a.³⁹Các ngươi dò xem Kinh thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: Về lý thuyết, các nhà lãnh đạo tôn giáo thời Chúa Jesus rất yêu mến và trân trọng Kinh Thánh (ở đây được hiểu theo nghĩa Cựu Ước). Họ nghiên cứu, ghi nhớ và suy ngẫm liên tục, với suy nghĩ đúng đắn rằng sự sống vĩnh cửu nằm trong sự mặc khải của Chúa.
i.“Họ đọc chúng với sự tôn kính cứng nhắc và mê tín đối với từng chữ cái, và không bao giờ thấu hiểu được những chân lý lớn lao mà chúng chỉ ra.” (Morris)
ii.“Họ đọc Kinh Thánh không phải để tìm kiếm Chúa mà để tìm kiếm những luận cứ ủng hộ lập trường của riêng họ. Họ không thực sự yêu Chúa; họ chỉ yêu những ý tưởng của riêng họ về Ngài.” (Barclay)
iii.Tra cứu Kinh Thánh: “Bản thân động từ (eraunao) hàm ý sự xem xét kỹ lưỡng, lần theo thông điệp của Kinh Thánh. Điều đáng buồn là những người này, dù đã dày công nghiên cứu các thánh thư, vẫn chưa bao giờ tìm ra manh mối dẫn họ đến mục tiêu.” (Bruce)
b.Ấy là Kinh thánh làm chứng về ta vậy: Nếu việc nghiên cứu Kinh Thánh của họ chính xác và chân thành, họ sẽ thấy rằng Kinh Thánh nói về Đấng Mê-si, tức là Đức Chúa Con. Sự nhận biết và đức tin của họ nơi Chúa Giê-su là thước đo sự hiểu biết thực sự của họ về Kinh Thánh.
6.(40-44) Lý do khiến họ không tin.
a.⁴⁰ Các ngươi không muốn đến cùng ta để được sự sống!: Các nhà lãnh đạo tôn giáo không muốn, mặc dù họ có tất cả những lời chứng mà người ta có thể mong muốn. Họ chỉ quan tâm đến vinh hiển của con người, chứ không phải vinh hiển đến từ Đức Chúa Trời (không tìm kiếm vinh hiển bởi một mình Đức Chúa Trời đến).
i.Chúa Giê-su đã nói rõ rằng sự sống được tìm thấy khi thực hiện mệnh lệnh hãy “đến cùng Ta”. “Đấng Christ là một thân vị, một con người sống động, đầy quyền năng cứu rỗi. Ngài không đặt sự cứu rỗi của Ngài vào các bí tích, sách vở, hay các linh mục, nhưng Ngài giữ nó trong chính Ngài; và nếu bạn muốn có nó, bạn phải đến với Ngài.” (Spurgeon)
ii.Việc họ từ chối đến với Chúa Giê-su là bất chấp việc họ đã tra cứu Kinh Thánh (Giăng 5:39). “Họ tra cứu Kinh Thánh, nhưng không chịu đến cùng Chúa Giê-su. Vậy, tra cứu Kinh Thánh chẳng phải là điều tốt sao? Phải, đúng vậy, và càng tra cứu thì càng tốt; nhưng đó vẫn không phải là điều quan trọng: đó không phải là công việc cứu rỗi. Bạn có thể là người đọc Kinh Thánh mà vẫn hư mất, nhưng điều này sẽ không bao giờ xảy ra nếu bạn đến với Chúa Giê-su bằng đức tin.” (Spurgeon)
iii.“Những từ ngữ Các ngươi không muốn đến đây nêu bật sự tự do ý chí, mà trên đó sự lên án của kẻ không tin dựa vào.” (Alford)
iv.“Tôi nói cho anh biết, sẽ có ngày anh phải đau đớn vò tay khi nghĩ rằng mình đã khinh miệt cuộc sống đó. Có thể điều đó sẽ xảy ra trong cơn hấp hối, nhưng chắc chắn điều đó sẽ xảy ra giữa nỗi kinh hoàng của sự phán xét, khi cánh cổng địa ngục mở rộng trước mắt anh, và trước mắt anh, hồ lửa và diêm sinh bùng cháy, tức là sự chết thứ hai.” (Spurgeon)
v.41bTa không cầu vinh hiển đến từ loài người (BD2011): “Tôi không cần đến anh em hay lời chứng của anh em. Tôi không hành động vì lợi ích cá nhân hay sự phù phiếm. Sự cứu rỗi của anh em không thể thêm gì cho tôi, và sự hủy diệt của anh em cũng không thể làm hại tôi: Tôi chỉ nói vì tình yêu thương của tôi dành cho linh hồn anh em, để anh em được cứu rỗi.” (Clarke)
b.⁴¹bTa chẳng cầu vinh hiển bởi người ta mà đến đâu; ⁴² nhưng ta biết rằng các ngươi chẳng có sự yêu mến Đức Chúa Trời ở trong các ngươi. ⁴³ Ta đã nhân danh Cha ta mà đến, các ngươi không nhận lấy ta: Lý do họ từ chối về cơ bản là do tấm lòng, chứ không phải lý trí. Những nhà lãnh đạo tôn giáo này có thể ngụy biện bằng những lý do được cho là lý trí, nhưng sự thiếu hụt thực sự của họ là tình yêu thương và lòng khao khát vinh dự đến từ Đức Chúa Trời.
c.43bNếu có kẻ khác lấy danh riêng mình mà đến, thì các ngươi sẽ nhận lấy.: Chúa Giê-su đã tiên tri về ngày sắp đến khi con cháu của những nhà lãnh đạo tôn giáo này sẽ chấp nhận một Đấng Christ giả, một Kẻ Phản Chúa, kẻ nhân danh chính mình mà đến. Việc Chúa Giê-su từ chối đã khiến họ dễ bị lừa dối khủng khiếp.
i.“Những lời này có lẽ chủ yếu được nói đến Đấng Mê-si giả hoặc Đấng Mê-si thần tượng, Kẻ địch Chúa, kẻ sẽ xuất hiện vào những ngày sau rốt (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:8-12); sự xuất hiện của kẻ này sẽ theo sự vận hành của Sa-tan (cha của chúng, Giăng 8:44), tự cho mình là Đức Chúa Trời, 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:4.” (Alford)
ii.Mặc dù điều này cuối cùng sẽ được ứng nghiệm vào thời kỳ cuối cùng, nhưng đã có những ứng nghiệm nhỏ hơn trong lịch sử. “Một ứng nghiệm nổi bật của lời tiên tri này đã xảy ra vào năm 132 CN, khi Simeon ban Kosebah tự xưng là Đấng Messiah của dòng dõi David, và lãnh đạo một cuộc nổi loạn chống lại La Mã… Những tuyên bố về Đấng Messiah của Simeon đã kéo chính ông, những người ủng hộ ông và người dân Judea vào cảnh diệt vong kinh hoàng nhất.” (Bruce)
e.⁴⁴Các ngươi vẫn chịu vinh hiển lẫn của nhau, không tìm kiếm vinh hiển bởi một mình Đức Chúa Trời đến, thì thể nào các ngươi tin được? Sai lầm chết người của các nhà lãnh đạo tôn giáo thời Chúa Giê-su – và kể từ đó – chính là lòng kiêu ngạo. Họ khao khát uy tín và danh dự từ nhau, sẵn sàng hy sinh vinh quang chỉ đến từ Đức Chúa Trời vì danh dự của con người.
i.Charles Spurgeon đã giảng một thông điệp về Giăng 5:44 (Tại sao con người không thể tin vào Đấng Christ) và trong một phần đáng chú ý của bài giảng đó, ông đã phân tích về cách danh tiếng, danh dự và sự nổi tiếng cản trở đức tin chân chính (làm sao bạn có thể tin khi nhận được sự tôn trọng từ nhau). Sau đây là một số dòng trong bài giảng đó:
- “Chỉ riêng việc nhận được vinh dự, ngay cả khi vinh dự đó được trao tặng một cách đúng đắn, cũng có thể khiến đức tin nơi Đấng Christ trở nên khó khăn.”
- “Khi một người đàn ông cảm thấy mình cần được tôn trọng, anh ta đang ở trong tình trạng cực kỳ nguy hiểm.”
- “Luôn nhận được vinh dự không đáng có này, họ tự lừa dối mình rằng họ xứng đáng với nó.”
- “Các bạn thân mến, thật khó để nhận được sự tôn vinh và mong đợi điều đó, nhưng vẫn giữ được thị lực; vì mắt người ta dần dần trở nên mờ đục vì khói hương được đốt trước mặt họ.”
- “Một lần nữa, lời khen ngợi của con người thường biến những người nhận được nó thành những kẻ hèn nhát.”
- “Nhưng, ôi, biết bao nhiêu người sống nhờ hơi thở của đồng loại; được chấp thuận — được hoan nghênh — đó là thiên đường của họ; nhưng bị khinh thường, bị chế giễu, bị gọi là kẻ ngốc, bị gán cho một biệt danh nào đó; ôi không, họ thà xuống địa ngục còn hơn phải chịu đựng điều đó.”
ii.“Chướng ngại lớn nhất đối với sự cứu rỗi của các kinh sư và người Pharisi là lòng kiêu ngạo, sự phù phiếm và lòng tự ái của họ. Họ sống dựa vào lời khen ngợi lẫn nhau. Nếu họ thừa nhận Đấng Christ là vị thầy duy nhất, họ hẳn đã từ bỏ thiện cảm của đám đông; và họ thà mất linh hồn còn hơn là đánh mất danh tiếng của mình giữa loài người !” (Clarke)
iii.“Để tìm kiếm uy tín của nhau như những người sùng đạo, họ buộc phải làm quen với những ý tưởng hiện tại và xóa bỏ vinh quang của Chúa khỏi tâm trí họ.” (Dods)
iv.“Họ đã cáo buộc Chúa Giê-su hành động độc lập với Đức Chúa Trời; giờ đây Ngài lại cáo buộc họ thể hiện sự độc lập đó. Động cơ hành động của họ không phải là tình yêu Đức Chúa Trời mà là sự chấp thuận của đồng loại.” (Tasker)
7.(45-47) Lời chứng của Môi-se.
a.⁴⁵Chớ ngờ rằng ấy là ta sẽ tố cáo các ngươi trước mặt Cha, người sẽ tố cáo các ngươi, là Môi-se, là người mà các ngươi đã trông cậy: Những nhà lãnh đạo tôn giáo này đã chối bỏ Chúa Giê-su vì họ đã chối bỏ lời Đức Chúa Trời qua Môi-se. Môi-se cáo buộc họ, vì Môi-se đã viết về Chúa Giê-su và họ không chịu tiếp nhận lời chứng của Môi-se.
b.⁴⁶Vì nếu các ngươi tin Môi-se, cũng sẽ tin ta; bởi ấy là về ta mà người đã chép: Chúa Giê-su nói về Kinh Thánh rằng chúng làm chứng về Ta (Giăng 5:39). Những lời và bài viết của Môi-se đã ứng nghiệm điều này, khi nói tiên tri về Đấng Mê-si ở nhiều nơi.
i.Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ dấy lên cho ngươi một Đấng Tiên Tri giống như ta từ giữa anh em ngươi; ngươi phải nghe lời Ngài. (Phục Truyền Luật Lệ Ký 18:15)
ii.Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy làm một con rắn lửa, treo nó trên một cây sào; hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên nó thì sẽ được sống. Vậy, Môi-se làm một con rắn bằng đồng, treo nó trên một cây sào; nếu ai đã bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn bằng đồng thì được sống. (Dân số ký 21:8-9)
iii.Chúa Giê-su được tượng trưng trong tảng đá đã cung cấp nước cho dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng (Dân số ký 20:8-12 và 1 Cô-rinh-tô 10:4).
iv.Chức vụ của Chúa Giê-su được thể hiện trong hầu hết mọi khía cạnh của bảy loại lễ vật khác nhau mà Đức Chúa Trời truyền cho dân Y-sơ-ra-ên phải dâng (Lê-vi Ký 1-7).
v.Chúa Giê-su và chức vụ của Ngài được thể hiện trong Đền Tạm và việc phục vụ tại đó. Một chỗ trong Tân Ước liên hệ điều này với từ “chuộc tội” trong Rô-ma 3:25, nói về nắp thi ân trên Hòm Giao Ước.
vi.Luật lệ của người tôi tớ nói về Chúa Giê-su (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:5-6 và Thi Thiên 40:6-8).
vii.Không có gì ngạc nhiên khi Chúa Giê-su có thể nói “Nầy, Ta đến; trong sách có chép về Ta” (Thi Thiên 40:7). Ngài có thể dạy một buổi học Kinh Thánh, bắt đầu từ Môi-se và tất cả các Tiên Tri, Ngài giải thích cho họ trong tất cả Kinh Thánh những điều liên quan đến Ngài (Lu-ca 24:27).
viii.“Như vậy, các sách của Môi-se mang tính tiên tri. Trong đó không có gì được hoàn tất. Chúng chỉ ra những điều khác, đã xảy ra khi Ngài đến. Vì vậy, trong lời này, chúng ta thấy ngay thẩm quyền và giới hạn của Môi-se.” (Morgan)
ix“Đây là một lời chứng quan trọng của Chúa về chủ đề của toàn bộ Ngũ Kinh; nó liên quan đến Ngài. Nó cũng là một lời chứng về việc Môi -se đã viết những sách đó, mà lúc bấy giờ, và cho đến nay, vẫn được biết đến dưới tên ông.” (Alford)
c.⁴⁷Nhưng nếu các ngươi chẳng tin những lời người chép, các ngươi há lại tin lời ta sao? Chúa Giê-su không kêu gọi những nhà lãnh đạo tôn giáo này đến với một đức tin mới hay khác biệt. Ngài kêu gọi họ tin vào những gì Môi-se, Kinh Thánh, công việc của Ngài, và những gì Giăng Báp-tít đã làm chứng về Chúa Giê-su: rằng Ngài là Đấng Mê-si, Con Đức Chúa Trời và Đức Chúa Con. Nếu họ từ chối tin vào lời chứng hùng hồn này, thì khó có thể họ sẽ tin vào chính lời Chúa Giê-su.
xem thêm: