Đấng Christ là Đấng Cứu Chuộc, Người cùng Huyết Thống và Đấng Báo Thù

(theo ý tưởng của JGB) Một từ mà chứa ba thuật ngữ)

Youtube:

Một số chi tiết tinh tế của bản gốc Kinh Thánh không thể được dịch chính xác như mong muốn vì vốn từ vựng của một ngôn ngữ thường không giống với ngôn ngữ khác. Điều này có nghĩa là một từ trong ngôn ngữ này không phải lúc nào cũng có một từ trong ngôn ngữ kia. Đôi khi, người dịch phải lựa chọn giữa các từ khác nhau, và đôi khi hoàn toàn không có từ tương đương trực tiếp nào cả.

Ngay cả 150 năm trước, các nhà bình luận đã chỉ ra một ví dụ về sự tinh tế như vậy, được phản ánh trong nhiều bản dịch khác nhau của từ ngữ tiếng Hê-bê-rơ “ga’al”. Từ này được dịch theo ba cách khác nhau trong Bản dịch Elberfelde (tiếng đức), tùy thuộc vào ngữ cảnh mà nó xuất hiện:

a)“NGƯỜI CHUỘC” HAY “ĐẤNG CỨU CHUỘC”: Đây là ý nghĩa của phần lớn các lần xuất hiện của từ này, trong đó chỉ có Lê-vi Ký 25:25, 26; Gióp 19:25; Thi Thiên 19:14; và Ê-sai 44:6, 24 được đề cập ở đây như là ví dụ cho nhiều lần khác.

Lê-vi Ký 25:25-26: BHĐ Nếu anh em con rơi vào cảnh túng thiếu và phải bán một phần sản nghiệp, thì người bà con gần nhất có quyền chuộc lại phải đến chuộc lại phần đất mà anh em mình đã bán. ²⁶ Nếu người nào không có bà con chuộc cho mình nhưng tự mình có thể xoay xở để chuộc lại được.

Gióp 19:25 BHĐ Còn tôi, tôi biết rằng Đấng Cứu Chuộc tôi vẫn sống, Đến cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất.

Thi thiên 19: 14 BHĐ Lạy Đức Giê-hô-va là Vầng Đá và là Đấng Cứu Chuộc của con, Nguyện lời nói của miệng con, Và sự suy ngẫm của lòng con được đẹp ý Ngài!

Ê-sai 44:6 BHĐ Đức Giê-hô-va là Vua và Đấng Cứu Chuộc của Y-sơ-ra-ên, Là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán: “Ta là đầu tiên và cuối cùng; Ngoài Ta không có Đức Chúa Trời nào khác; câu 24 BHĐ Đức Giê-hô-va là Đấng Cứu Chuộc con, Đấng đã tạo nên con từ trong lòng mẹ, phán thế nầy: “Ta là Đức Giê-hô-va đã làm nên mọi vật, Một mình Ta đã giương các tầng trời và trải đất ra — Nào có ai ở với Ta?

b)“NGƯỜI THÂN CÙNG HUYẾT THỐNG”: Từ này được dịch như thế này trong Dân số ký 5:8 BHĐ Nếu người bị thiệt hại qua đời và không có bà con ruột thịt nào để lãnh số bồi thường thì số bồi thường đó sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va và phải trao cho thầy tế lễ, cộng thêm một con chiên đực làm tế lễ chuộc tội cho người mắc tội đó

Ru-tơ 2:20 BHĐ Na-ô-mi nói với con dâu mình rằng: “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho Bô-ô vì Ngài không ngớt làm ơn cho người sống và kẻ chết!” Bà nói tiếp: “Người đó là bà con của chúng ta, là một trong những người có quyền chuộc lại sản nghiệp của chúng ta

và Ru-tơ 3:9 BHĐ Bô-ô hỏi: “Cô là ai?” Nàng đáp: “Con là Ru-tơ, tớ gái ông. Xin ông đắp mền trên tớ gái ông vì ông có quyền chuộc sản nghiệp con, Ru-tơ 3:12 BHĐ Thật ta có quyền chuộc sản nghiệp con lại, nhưng có một người bà con khác gần hơn ta.

c)“NGƯỜI BÁO THÙ (HUYẾT)”: Theo nghĩa này, từ này xuất hiện, ví dụ, trong Dân số ký 35:12 BHĐ Những thành đó sẽ là nơi ẩn náu của kẻ ngộ sát trốn khỏi kẻ đòi nợ máu và không phải chết, cho đến khi đứng trước mặt hội chúng để chịu xét xử, 24 BHĐ thì hội chúng phải phân xử giữa kẻ ngộ sát đó với người đòi nợ máu theo luật nầy.

Khó khăn rõ ràng là chỉ có một từ để chỉ ba khái niệm này trong tiếng Hê-bê-rơ. Dù sao đi nữa, nó ám chỉ một người trong một gia đình mở rộng ở Israel, người được cho là sẽ đảm nhận các quyền lợi và nghĩa vụ của người thân gần nhất khi người này không còn khả năng tự mình thực hiện chúng. Dù những nhiệm vụ này đa dạng đến đâu, NẾU CHÚNG TA SUY NGẪM VỀ Ý NGHĨA TÂM LINH CỦA CHÚNG, CHÚNG TA SẼ THẤY RẰNG CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI DUY NHẤT KẾT HỢP CẢ BA ĐẶC ĐIỂM TRONG CHÍNH MÌNH: CON NGƯỜI CHÚA GIÊ-SU CHRIST, CHÚA CHÚNG TA, VÀ CŨNG LÀ CON ĐỨC CHÚA TRỜI.

NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI CÙNG HUYẾT THỐNG

Theo luật, một người thân có sự ràng buộc cùng huyết thống có nghĩa vụ thực hiện hai nhiệm vụ: thứ nhất, chuộc lại tài sản thừa kế của anh em mình nếu anh ta mắc nợ, hoặc chuộc lại anh ta nếu anh ta trở thành nô lệ; thứ hai, trả thù (chuộc lại) tội ác mà anh em mình gây ra—ví dụ, có thể là bị bắt hoặc chết.

Áp dụng cho chúng ta ngày nay, chúng ta phải nói rằng: Chúa Jêsus, trong ân điển dư dật của Ngài, đã đảm nhận hai chức vụ này cho chính Ngài. Ngài đã cứu chuộc chúng ta khỏi những đòi hỏi chính đáng của Đức Chúa Trời bằng sự hy sinh của chính Ngài; không chỉ vậy, Ngài còn cho phép chúng ta chiếm hữu cơ nghiệp mà Ngài đã mua cho họ. Đồng thời, Ngài đã báo thù kẻ thù của Đức Chúa Trời và loài người, là ma quỷ, và giải thoát họ khỏi quyền lực của hắn, vì Sa-tan đã dùng sự chết làm phương tiện để thống trị loài người sa ngã (Hê-bơ-rơ 2:14-15 ¹⁴ Vậy thì, vì con cái có phần về huyết và thịt, nên chính Đức Chúa Jêsus cũng có phần vào đó, hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ, ¹⁵ lại cho giải thoát mọi người vì sợ sự chết, bị cầm trong vòng tôi mọi trọn đời.).

Nếu chúng ta chỉ dựa vào những điều khoản của Luật pháp như được ghi chép trong sách Môi-se, thì trong các quy định liên quan đến “Đấng Cứu Chuộc”, chúng ta sẽ chỉ nhận ra một người trong gia đình nhân loại, một “người anh em” cùng chung huyết thống với “con cái” loài người (trước hết là dân Y-sơ-ra-ên, “dòng dõi của Áp-ra-ham”; Hê-bơ-rơ 2:10-17). Bởi vì ít nhất, Đấng Cứu Chuộc phải đáp ứng được yêu cầu này, nếu không, Ngài sẽ không thể làm gì cho anh em mình.

Hê-bê-rơ 2: 10-17: ¹⁰ Vì muôn vật hiện hữu là do Đức Chúa Trời và vì Đức Chúa Trời, nên khi muốn đem nhiều con cái đến vinh quang, Ngài đã khiến Đấng làm cội nguồn ơn cứu rỗi của họ phải trải qua đau khổ để được toàn hảo là điều thích hợp. ¹¹ Vì Đấng thánh hóa và những người được thánh hóa đều bởi một Cha[c] mà ra. Vì lý do đó, Đức Chúa Jêsus không thẹn mà gọi họ là anh em, ¹² khi Ngài phán: “Con sẽ truyền danh Chúa cho anh em Con; Và ca ngợi Ngài giữa hội chúng.” ¹³ Ngài lại phán: “Ta sẽ tin cậy nơi Chúa.” Rồi Ngài cũng phán: “Nầy, Ta cùng với con cái mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ta.” ¹⁴ Vì con cái thì cùng chung huyết nhục, nên chính Đức Chúa Jêsus cũng mang lấy huyết nhục giống như họ, để qua sự chết, Ngài tiêu diệt kẻ cầm quyền sự chết là ma quỷ, ¹⁵ và giải phóng mọi người vì sợ chết mà sống trong nô lệ suốt đời. ¹⁶ Vì rõ ràng, không phải Ngài giúp đỡ các thiên sứ, nhưng giúp đỡ dòng dõi Áp-ra-ham. ¹⁷ Vì thế, Ngài phải trở nên giống như anh em mình trong mọi phương diện, để trở nên thầy tế lễ thượng phẩm đầy lòng thương xót và trung tín trong sự phục vụ Đức Chúa Trời, hầu chuộc tội cho chúng dân. ¹⁸ Vì chính Ngài đã chịu khổ trong khi bị cám dỗ nên có thể giúp đỡ những ai bị cám dỗ.

Theo nghĩa này, Đấng Christ cũng trở thành “người thân cùng huyết thống” của Israel khi Ngài có phần về huyết và thịt, tức là bản chất con người, và bởi một trinh nữ Ngài được sinh ra vào dân tộc này (Rô-ma 9:5 là dân sanh hạ bởi các tổ phụ, và theo phần xác, bởi dân ấy sanh ra Đấng Christ, là Đấng trên hết mọi sự, tức là Đức Chúa Trời đáng ngợi khen đời đời. A-men.).

CHÚA, ĐẤNG CỨU CHUỘC VÀ ĐẤNG BẢO VỆ CỦA DÂN NGÀI

Nhưng nếu chúng ta đi xa hơn, rời khỏi Luật Pháp và tìm đến các Tiên Tri, chúng ta sẽ đến với một sự thật khác: Chúng ta thấy rằng người cùng huyết thống và Đấng Cứu Chuộc này chính là “CHÚA các đạo binh“, tức là chính Đức Chúa Trời. Đấng Cứu Chuộc dân Ngài do đó vừa là Đức Chúa Trời vừa là con người trong một ngôi vị. Trong các Thi Thiên và các Tiên Tri, hình ảnh này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần; không phải như một giáo lý cần phải suy luận trước, mà như một chân lý không thể chối cãi, chỉ đơn giản là được mặc định (vorausgesetzt).

Có điều gì đó rất phước hạnh trong điều này—nó thực sự vĩ đại, vô cùng vinh quang, và có ý nghĩa sâu xa. Nó báo trước sự huyền nhiệm về thân vị của Đấng Christ một cách hoàn toàn tự nhiên và dễ hiểu. Và bởi vì những đặc điểm thiết yếu của con người và bản chất của Đức Chúa Trời được hợp nhất trong thân vị của người bà con huyết thống này, nên Ngài đáp ứng tất cả các điều kiện tiên quyết để “hoàn tất” không chỉ việc của Israel với “kẻ thù” của họ, mà nói chung còn là sự việc của nhân loại với Đức Chúa Trời là Đấng Phán Xét cho tất cả người nào tin vào Đấng Cứu Rỗi là Chúa Giê-su Christ (Ma-thi-ơ 5:25 Khi ngươi đi đường với kẻ nghịch mình, phải lập tức hòa với họ, kẻo họ nộp ngươi cho quan án, quan án giao ngươi cho thầy đội, mà ngươi phải ở tù; Ru-tơ 3:18 Na-ô-mi nói rằng: Hỡi con gái ta, hãy ở đây, để đợi xem cho biết công việc xoay thế nào; vì nếu ngày nay việc nầy chưa rồi, thì người ấy chẳng nghỉ đâu).

TRỞ VỀ VỚI CHÚA

Người tin Chúa trong thời kỳ ân điển giờ đây đã được đưa trở về với Đức Chúa Trời một cách chính đáng nhờ huyết của Đấng Christ, cũng như A-đam ban đầu đã bị trục xuất khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời một cách chính đáng vì tội lỗi của mình. A-đam chỉ có thể đến gần Đức Chúa Trời một lần nữa sau khi ông nghe và tin vào tin mừng về Đấng Cứu Chuộc sắp đến: cụ thể là, “dòng dõi người nữ” (Đấng Christ) sẽ giày đạp đầu “con rắn” (Sa-tan). Ông có thể tin cậy vào điều này, cũng như trước đây ông đã từng sợ hãi khi nghe sự phán xét của Đức Chúa Trời và do đó ẩn núp giữa các cây trong vườn. Chính Đức Chúa Trời đã ban cho ông quyền làm như vậy, vì Ngài đã “lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam, và mặc lấy cho” (Sáng Thế Ký 3:21). A-đam có thể bám víu vào “dòng dõi người nữ” này với niềm tin vững chắc rằng Ngài sẽ là “người cùng huyết thống“—một con người bằng xương bằng thịt giống như ông. Vì Đấng mà Đức Chúa Trời đã công bố sẽ đánh bại ma quỷ, nhưng ma quỷ sẽ “cắn gót chân người“—một điềm báo đầu tiên về sự đau khổ và cái chết của Đấng Cứu chuộc trên thập tự giá tại đồi Gô-gô-tha.

Do đó, sự mầu nhiệm về huyết thống đã được ám chỉ trong các loại hình ngay từ thuở ban đầu. Các sự kiện khác trong thời kỳ đầu của nhân loại, chẳng hạn như sự hy sinh của Isaac (Sáng Thế Ký 22), cũng minh họa điều này; và tất cả chúng, mặc dù được ghi chép trong Luật Pháp, đều đại diện cho những phẩm chất của CON NGƯỜI này, vốn đã được chỉ ra trước khi có Luật Pháp.

CHÚA GIÊ-SU LÀ “ĐẤNG BÁO THÙ” VÀ “ĐẤNG CỨU CHUỘC” trong Thư Hê-bê-rơ.

Nếu chúng ta đào sâu hơn ý tưởng này, chúng ta có thể thấy rằng trong Thư Hê-bê-rơ, Chúa Giê-su được trình bày với chúng ta vừa là Đấng Báo Thù vừa là Đấng Cứu Chuộc. Ở đó, Ngài được trình bày với chúng ta như Đấng đã hành động trong sự viên mãn đầy phước hạnh của thân vị Ngài, tức là vừa là Đức Chúa Trời vừa là con người, Đấng từ muôn đời đã là “bạn đồng hành của Chúa” và “khi thời gian viên mãn” đã trở thành “người thân của loài người”.

Chẳng hạn, trong chương 2, chúng ta thấy Ngài là Đấng Báo Thù: “… Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ, lại cho giải thoát mọi người vì sợ sự chết, bị cầm trong vòng tôi mọi trọn đời. ” (câu 14-15). Đây chính là hành động của một Đấng Báo Thù. Nhưng để làm được điều này, Ngài đã mặc lấy xác thịt và huyết thống, và mặc dù Ngài là Con, tức là Đức Chúa Trời thật, nhưng Ngài cũng trở nên người cùng huyết thống của chúng ta.

Trong chương 10, chúng ta thấy Ngài là Đấng Cứu Chuộc. Ngài trả giá chuộc. Ngài cứu chuộc chúng ta khỏi Đấng có quyền đòi hỏi hoàn toàn chính đáng trên chúng ta. “Vì nhờ dâng chỉ một của tế lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời.” (Hê-bê-rơ 10:14). Nhưng Ngài đã làm điều đó một cách tự nguyện, không hề có sự can thiệp của một thế lực siêu nhiên nào. Vì trong đoạn văn này, Ngài được xem như Đấng tự nguyện đến trước ngai vàng của Đức Chúa Trời và phán rằng: “Hỡi Đức Chúa Trời, nầy tôi đến” (Hê-bê-rơ 10:7); rồi Ngài dâng chính mình cho Đức Chúa Trời “nhờ Thánh Linh đời đời” và “không tì vết” (chương 9:14 huống chi huyết của Đấng Christ, là Đấng nhờ Đức Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì tích cho Đức Chúa Trời, thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống, là dường nào). Vì mục đích này, một thân thể đã được chuẩn bị cho Ngài, một thân thể con người, được hình thành trong lòng Trinh Nữ, bằng xương bằng thịt, giống đúng như “con cái” (xem Thi Thiên 139:¹³ Vì chính Chúa nắn nên tâm can [thận] con, Dệt thành con trong lòng mẹ con., ¹⁴ Con cảm tạ Chúa vì con được dựng nên một cách đáng sợ và lạ lùng. Công việc Chúa thật quá diệu kỳ, Lòng con biết rõ lắm.; Ga-la-ti 4: ⁴ Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời sai Con Ngài đến, do một người nữ sinh ra, sinh ra dưới luật pháp,). Và như vậy, trong thân vị của Ngài, Ngài vừa làm sự hài lòng cho Đức Chúa Trời trên bàn thờ vừa thỏa mãn những đòi hỏi của ngai phán xét của Đức Chúa Trời, kết quả là lương tâm của tín đồ giờ đây cũng được giải phóng.

Đây là những viễn cảnh tuyệt vời mà việc chiêm nghiệm về những người cùng huyết thống trong Cựu Ước chúng ta sẽ thấy, mặc dù tất cả những điều này chỉ được tiết lộ rõ ​​ràng trong Tân Ước. Và những lời dạy này được tìm thấy chính xác trong đoạn văn mà người ta thường mong đợi – trong bức thư mà Đức Thánh Linh đã gửi đến những tín hữu thuộc dân sự của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước, những người đã sống dưới luật pháp.(thư Hê-bê-rơ)

Chính “người bạn đồng hành của Chúa” (Xa-cha-ri 13:⁷ Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Hỡi gươm, hãy nổi dậy đánh kẻ chăn của Ta,

Và đánh người thân cận với Ta. Hãy đánh kẻ chăn để bầy chiên tản lạc, Ta cũng sẽ trở tay đánh cả những con bé nhỏ.”) và là người thân huyết thống của nhân loại, qua thân vị là Đấng Christ, được Đức Chúa Trời xức dầu và xác nhận, đã gánh chịu sự sa ngã của nhân loại đang bị vướng vào vòng nô lệ của Sa-tan và tội lỗi. Nền tảng cho điều này không phải là ai khác, cũng không phải là gì khác ngoài thân vị và công trình của Ngài trên đồi Gô-gô-tha.

nguồn