I.CHÚA GIÊ-XU CÓ MẶT TRƯỚC bên giếng đang ngồi nghỉ
II.NGUYÊN TẮC CẦU NGUYỆN: Ví bằng NGƯƠI BIẾT… thì chắc chắn NGƯƠI SẼ XIN NGƯỜI.
III.CHÚA GIÊ-XU DẪN BÀ ĐẾN VỚI SỰ THẬT
IV.LẼ THẬT ĐÓ CHÍNH LÀ ĐẤNG MÊ-SI
V.VÌ SAO BÀ BỎ LẠI BÌNH NƯỚC?
DER WASSERKRUG AM JAKOBSBRUNNEN
Câu chuyện về người phụ nữ bên giếng nước tiếp nối câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu với Ni-cô-đem. Nội dung cũng chuyển tiếp kỳ lạ, vì với một Ni-cô-đem tìm kiếm, Chúa Giê-xu giới thiệu về sự sinh lại mới được vào nước Thiên Đàng. Còn với người phụ nữ không có ý định đi tìm Ngài này, Chúa Giê-xu nói với bà về nước sự sống, và đánh thức trong tâm hồn khô hạn bà một sự khát khao bị che lấp.
Chúa Giê-xu trên đường từ Giê-ru-sa-lem về Ga-li-lê Ngài “phải đi qua” xứ Sa-ma-ri.
Giăng 4 giới thiệu Người đàn bà Sa-ma-ri với một lai lịch không đề tên, chỉ có các sự việc mà Chúa Giê-xu nêu ra về mọi điều bà ta đã làm (Giăng 4:29).
Một buổi trưa hè nắng chói chang như mọi ngày, một linh hồn khô hạn ra giếng lấy nước, nhưng hôm nay Chúa Giê-xu có ở đó, Ngài đến đó không phải vì tình cờ, mà vì chương trình Chúa có dành cho bà và những người trong thành Sa-ma-ri.
Bà đang có nhu cầu hàng ngày và cấp bách, và có thể do thân phận, hoặc do tiếng tăm bà ở đó, nên bà ta phải ra giếng lấy nước vào giờ rất bất thường: giữa trưa, là giờ mọi người nghỉ ngơi, tránh cái nắng chói chang giữa trưa.
Bà là người không có tiếng tốt trong vòng người Sa-ma-ri. Bà tìm cách tránh mặt mọi người dân trong thành, vì họ dị nghị bởi đời sống đạo đức vô luân của bà. Bà là người ngoại tình | gian dâm. Có 5 người đàn ông, và sống với người thứ 6 không phải là chồng. Bà là người thờ phượng hình tượng, và làm theo những sự ưa muốn của xác thịt. Bà là người sau chót trong cộng đồng người Sa-ma-ri.
Dân Sa-ma-ri và Giu-đa vốn có sự kỳ thị nhau. Người Giu-đa từ Giê-ru-sa-lem và Ga-li-lê đi không bao giờ đi qua Sa-ma-ri. Lý do vì người Sa-ma-ri là giống nòi lai tạp với người ngoại. vì năm 722 người Assyria chinh phục vương quốc Israel phía bắc. dân Israel bị bắt đi lưu đày, chỉ còn lại những người nghèo trong xứ, họ kết hôn với người di cư đến Sa-ma-ri. Về mặt tôn giáo, đức tin họ lai tạp, Người Sa-ma-ri đã xây dựng đền thờ riêng cho Đức Giê-hô-va trên núi Ga-ri-xim, nhưng người Giu-đa đã đốt cháy nó vào khoảng năm 128 TCN. Điều này rõ ràng đã khiến mối quan hệ giữa người Giu-đa và người Sa-ma-ri trở nên tồi tệ hơn.
“Hành trình của họ từ Jerusalem đến Galilee đi qua vùng bên kia sông Jordan. Con đường này dài hơn đáng kể, nhưng tránh được sự tiếp xúc với người Sa-ma-ri. Những người không quá khắt khe thì đi qua Sa-ma-ri.” (Morris)
[Khoảng cách thời Chúa Giê-xu: từ Giê-ru-sa-lem đến Ca-bê-na-um 137km (85 dặm). Giê-ru-sa-lem đến Ca-bê-na-um đi qua Sa-ma-ri: 147km (91 dặm)]
Câu 4 nói Chúa Giê-su ‘cần phải đi qua Sa-ma-ri‘. LÝ DO LÀ VÌ CÓ NHỮNG LINH HỒN Ở ĐÓ ĐÃ SẴN CHO MÙA GẶT (Giăng 4:35), họ cần được nghe về Ngài. Chúa Giê-xu cần gieo hạt giống đời đời ở đây.
Người phụ nữ có mơ cũng không nghĩ rằng hôm nay mình sẽ gặp Chúa Giê-xu ở giếng nước, mà Chúa Giê-xu đến Sa-ma-ri để tìm bà. Chúa Giê-xu đến thế gian để tìm và cứu tội nhân hư mất. (Lu-ca 19:10)
I.CHÚA GIÊ-XU CÓ MẶT TRƯỚC bên giếng đang ngồi nghỉ. Thì người phụ nữ Sa-ma-ri ra giếng múc nước.

Ngài đã bắt chuyện TRƯỚC, vì với thân phận bà, sẽ không bao giờ dám bắt chuyện trước người người Giu-đa (qua y phục biết Ngài là người Giu-đa)
Câu 7 Hãy cho ta uống, Chúa Giê-xu mệt và khát là lý do khách quan. Nhưng động cơ cho sự trò chuyện thì sâu xa hơn vì câu 31 các môn đồ bảo Ngài hãy ăn, thì 32 Ngài đáp rằng: Ta có một thứ lương thực để nuôi mình mà các ngươi không biết. 33 Vậy môn đồ nói với nhau rằng: Có ai đã đem chi cho thầy ăn chăng? 34 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài.
Chúa Giê-xu có sự ưu tiên hàng đầu đó là “làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài“. Khi ma quỉ nói Chúa Giê-xu hãy hóa đá thành bánh mà ăn, Ngài từ chối, và trả lời rằng Có lời chép rằng: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời. [Phục truyền 8:3] (Ma-thi-ơ 4:4). Chúa Giê-xu đã từ chối không làm đẹp lòng mình. Vậy Ngài yêu cầu người đàn bà cho Ngài uống, không phải vì Ngài mà vì bà ta.
Một khía cạnh hoàn toàn hợp lý và khách quan khác nữa cho thấy Chúa Giê-xu không khách sáo, Ngài không phải là siêu anh hùng, không cần ăn, uống, không mệt mỏi, không đi mây về gió, mà ở đây Ngài thật sự mệt mỏi, đói và khát.
Điều Chúa Giê-xu yêu cầu làm bà ta sửng sốt, đến nỗi bà hỏi lại sao có chuyện kỳ lạ vậy (câu 9). Đó là lúc câu chuyện bắt đầu. Mở miệng tức là mở lòng.
Câu 10 Chúa Giê-xu càng khiến bà càng tò mò hơn “Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ví bằng NGƯƠI BIẾT SỰ BAN CHO CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI, và biết người nói: “Hãy cho ta uống” LÀ AI, thì chắc NGƯƠI SẼ XIN NGƯỜI cho uống, và NGƯỜI SẼ CHO NGƯƠI NƯỚC SỐNG“
Bà tò mò về SỰ BAN CHO CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI; về Chúa Giê-xu LÀ AI; và về NƯỚC SỐNG mà Chúa Giê-xu sẽ ban cho bà.
II.NGUYÊN TẮC CẦU NGUYỆN:
Phụ nữ vốn có thế mạnh là cầu nguyện. Chúa Giê-xu cũng tiết lộ ở đây cho bà nguyên tắc cầu xin: Ví bằng NGƯƠI BIẾT… thì chắc (BHĐ là chắc chắn) NGƯƠI SẼ XIN NGƯỜI. Nếu bạn nhận biết nhiều hơn, bạn sẽ cầu nguyện nhiều hơn.
Nước sự sống là sự liên hệ thuộc linh chỉ về chính Chúa.
“Trong Cựu Ước, nước sống đôi khi được liên kết với Đức Giê-hô-va. Ngài được gọi là ‘nguồn nước sống’ (Giê-rê-mi 2: 13Dân ta đã làm hai điều ác: Chúng nó đã lìa bỏ ta, là NGUỒN3 nước sống, mà tự đào lấy hồ, thật, hồ nứt ra, không chứa nước được, Giê-rê-mi 17:13Hỡi Đức Giê-hô-va, là sự trông cậy của Y-sơ-ra-ên, những kẻ nào bỏ Ngài đều sẽ bị xấu hổ! Những kẻ lìa khỏi ta sẽ bị ghi trên đất, vì họ đã bỏ suối nước sống (nguồn nước sống BHĐ), tức là Đức Giê-hô-va.).” (Morris)
Xa 14:8 Xảy ra trong ngày đó, nước sống sẽ ra từ Giê-ru-sa-lem, phân nửa chảy về biển đông, phân nửa chảy về biển tây, trong mùa hạ và mùa đông đều có.
Ê-xê-chi-ên 47:1-2 Những nước chảy ra từ đền thờ.
Khải huyền 22:1 cho biết Sông Nước Sự Sống, Trong Như Lưu Ly, Từ Ngôi Đức Chúa Trời Và Chiên Con Chảy Ra.
Giăng Câu 11 cho biết Chúa Giê-xu không có bình múc nước.
Câu 12 Bà không hiểu về nước sống mà Chúa Giê-xu nói đến, chỉ liên hệ với cha ông mình là Gia-cốp và con cháu bây giờ.
Câu 13 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi: Ngài dùng cơn khát thuộc thể, nói về cơn khát thuộc linh mà bà không biết mình.
Câu 14 nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời.
“Uống và khát là những hình ảnh phổ biến về sự chu cấp của Đức Chúa Trời và nhu cầu tâm linh của con người. Uống là một hành động, nhưng là một hành động tiếp nhận – giống như đức tin, nó là việc làm, nhưng bản thân nó không phải là một việc làm xứng đáng để được công đức.”
“Một người khát nước làm gì để giải cơn khát? Anh ta uống. Có lẽ không có cách nào diễn tả đức tin trong toàn bộ Lời Chúa tốt hơn thế. Uống là tiếp nhận – là uống một ngụm nước tươi mát – và chỉ vậy thôi. Khuôn mặt của một người có thể không được rửa sạch, nhưng anh ta vẫn có thể uống; anh ta có thể là một nhân vật rất kém cỏi, nhưng một ngụm nước sẽ làm anh ta hết khát. Uống là một việc dễ dàng đến kinh ngạc, thậm chí còn đơn giản hơn cả việc ăn.” (Spurgeon, Tin Mừng Cho Những Linh Hồn Khát Nước)
Câu 15Người đàn bà thưa: Lạy Chúa, xin cho tôi nước ấy, để cho tôi không khát và không đến đây múc nước nữa.
Điều bà cầu xin một phép màu này có trong ý Chúa không ? không. Nó mang tính đáp ứng nhu cầu thuộc thể, phép lạ để nước không cạn, để tiện lợi không cần phải ra giếng lấy nước nữa. Đó không phải là ý Chúa muốn dẫn bà đến. Chúa đang hướng dẫn trong cuộc nói chuyện để bà BIẾT NGÀI LÀ AI và đặt lời cầu xin cho đúng.
III.CHÚA GIÊ-XU DẪN BÀ ĐẾN VỚI SỰ THẬT
Câu 16-18: Chúa Giê-xu ra điều kiện bà phải đi gọi chồng đến. Bà mới tiết lộ và thú nhận một chút sự thật: bà từng có 5 đời chồng. Chúa Giê-xu không vạch trần mà từng bước dẫn bà đến với sự thật. Thực tế lương tâm bà làm cho bà không dám nói hết sự tình với Chúa. Chúa Giê-xu nói bà đang sống với 1 người không phải là chồng.
“Đấng Christ có nhiều cánh cửa khác nhau để bước vào tâm hồn mỗi người. Với một số người, Ngài bước vào bằng sự hiểu biết; với nhiều người, Ngài bước vào bằng tình cảm. Với một số người, Ngài đến bằng con đường dẹp sợ hãi; với một số người khác, Ngài đến bằng con đường hy vọng; và với người phụ nữ này, Ngài đến bằng con đường lương tâm của bà.” (Spurgeon)
Đúng là bà khao khát xin một phép màu, và bây giờ Chúa Giê-xu chỉ cho bà một sự ngăn trở, đó là tội lỗi.
Câu 19 Bà phản ứng nhanh, công nhận rằng Ngài là đấng tiên tri
Chúng ta thấy phản ứng Phi-e-rơ khác khi thấy mẻ cá kỳ diệu: ông nói xin Ngài lìa khỏi con, vì con là người có tội. (Lu-ca 5:8)
Bà công nhận Ngài là đấng tiên tri, nhưng không xứng nhận mình là tội nhân.
Câu 17-18 hai lần Chúa Giê-xu công nhận điều bà nói là đúng, như động viên bà đang đúng hướng, Ngài đang giúp bà ĐẾN VỚI SỰ THẬT. (là phải lắm… ngươi đã nói thật vậy)
Câu 20-26 bà đề cập đến vấn đề thờ phượng.
Có thể là bà đang né tránh. Nhưng Chúa Giê-xu nêu bật cốt lõi vấn đề nhằm giúp bà ĐẾN VỚI SỰ THẬT.
Câu 21: 21Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đàn bà, hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem. 22Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết, vì sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến. 23Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: Ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy. 24 Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần (pneuma, spirit, Geist) và lẽ thật mà thờ lạy.
“Một trong những lời tuyên bố vĩ đại nhất mà Chúa chúng ta từng đưa ra; và dành cho một người phụ nữ tội lỗi.” (Dods)
Sự thờ phượng không giới hạn vị trí địa lý. Và sự thờ phượng cần chân thành.
Thờ phượng đúng, cầu nguyện sẽ đúng, cầu xin đúng.
Gia-cơ 4: 3Anh em cầu xin mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ, để dùng trong tư dục mình.
Thực ra bà đã không (dám) nói hết sự thật cho Chúa Giê-xu, nhưng Ngài khích lệ bà rằng bà đã nói thật, vì bà đang được dẫn đúng hướng đến với lẽ thật.
Chúng ta không nên đinh ninh rằng mình có thể chân thật luôn luôn, vì ngay phút dây sau, lòng có thể khác, ít nhất là trong tư tưởng.
Phòng kín chúng ta đến với Chúa là bằng sự chân thật, và bằng tâm linh. Tại đó chúng ta nhờ thần lẽ thật giúp chúng ta cầu nguyện. Rô-ma 8: 26 Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta.
IV.LẼ THẬT ĐÓ CHÍNH LÀ ĐẤNG MÊ-SI
Bà đang muốn biết người đang nói chuyện với mình là ai. Bà băn khoăn thưa: tôi biết Đấng Mê-si phải đến. (Giăng 4:25)
Sự thật là bà đang khao khát lẽ thật. Tâm linh bà hiện đang thờ phượng thần tượng, đời sống bà tối tăm.
Theo Cựu ước Đấng Mê-si sẽ là E-ma-nu-ên (Ê-sai 7:14) là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an (Ê-sai 9:5)
Câu 26 xác nhận 26 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó.
Bây giờ người đàn bà vô danh đó BIẾT NGƯỜI ban cho nước sống đó LÀ AI, bởi sự bày tỏ của Ngài. Bà không hỏi như những người Pha-ri-si hay người vô thần ngày nay: Ngài hãy chứng minh đi. Chứng minh Đức Chúa Trời tồn tại là điều không thể. Chỉ bởi Ngài bày tỏ và chúng ta tin. Kinh Thánh nói “Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.” (Hê-bê-rơ 11:6)
Bà đã cầu xin loại nước mà Ngài nói đó, nhưng trong sự trò chuyện với Chúa Giê-xu, linh hồn khô hạn bà đã được giải phóng khỏi sợ hãi, sự mặc cảm tội lỗi, khỏi sự thờ phượng sai lầm. Được chạm với Thần Linh và Lẽ Thật. Bà đang bắt đầu nhận biết và lòng bà không thể giữ lại điều đang tuôn trào ra: sự sống mới, sự tự do, sự vui mừng. Hạt giống Thiên đàng đã được gieo ra. Người phụ nữ bắt đầu đến với những người trong thành phố.
Câu 28-30 ²⁸ Người đàn bà bèn bỏ cái vò của mình lại và vào thành, nói với người tại đó rằng: ²⁹ Hãy đến xem một người đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm; ấy chẳng phải là Đấng Christ sao? ³⁰ Chúng bèn từ trong thành ra và đến cùng Đức Chúa Jêsus.
Dấu hiệu kỳ lạ đầu tiên mà chúng ta quan sát thấy là NGƯỜI PHỤ NỮ BỎ LẠI BÌNH NƯỚC CỦA MÌNH (BD2020) bên giếng mà vào thành.
V.VÌ SAO BÀ BỎ LẠI BÌNH NƯỚC? Người môn đồ ghi lại câu chuyện này ghi nhớ chi tiết này. Có lẽ họ mua đồ ăn về và đã có nước luôn để uống? Nhưng đó cũng là dấu hiệu của lòng tin cậy vào Đấng mà bà vừa được biết. Bình nước không trơ trọi đó mà ở bên Chúa Giê-xu.
Trước đây bà tránh mặt mọi người, bây giờ bà vui mừng gặp họ. Trước đây bà thà chịu rát mặt giữa trưa đi lấy nước, để tránh mặt họ, bây giờ bà tự do, không xấu hổ mà vui mừng gặp những người trước đây bà tránh mặt . Chúa Giê-xu không lột trần tội lỗi bà, nhưng bà đã KHOE Đấng Mê-si đã nói cho bà về mọi điều bà đã làm. Bà đã không trốn tránh nữa mà thật sự được hạ xuống, để Chúa Giê-xu được tôn vinh. Nước chảy xuống nơi thấp. Tin lành được rao truyền cho người khiêm nhường. Chúa Giê-xu đã đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục; 2 đặng rao năm ban ơn của Đức Giê-hô-va, và ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta; đặng yên ủi mọi kẻ buồn rầu. (Ê-sai 61:1b-2). Trong Lu-ca 4, 18-19 Chúa Giê-xu trích dẫn câu 1-2b thôi, chỉ về sự đến lần thứ nhất của Ngài. Câu 2b chỉ về sự tái lâm của Đấng Christ.
Bà bỏ lại bình nước vì sự thay đổi đã đến với bà qua sự gặp gỡ và trò chuyện với Chúa Giê-xu. Chúng ta không biết nước sống đã đến cách nào, nhưng những điều bà hành động là dấu hiệu của sự biến đổi của một linh hồn khô cằn, sợ hãi, mặc cảm, không có hy vọng. Bây giờ bà trở thành cái bình cho Chúa.
bà buông bỏ quá khứ và vui mừng vì sự tự do.
Bà đã bước ra khỏi vùng an toàn và chia sẻ những điều tuyệt vời Chúa đã làm trong cuộc đời mình.
Không còn bất kỳ sự ngượng ngùng nào về mặt xã hội mà bà từng có về những tội lỗi trong quá khứ. Chúa Giê-xu làm thay đổi cá nhân là yếu tố cho sự THAY ĐỔI CỘNG ĐỒNG. Nguồn sự sống từ trong lòng mà ra. Từ lòng đến lòng.
Vì BÀ BIẾT ĐẤNG BIẾT TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU mình ĐÃ LÀM, bà giới thiệu với mọi người “Hãy đến xem“. Thực tế là mọi người thấy bà hôm nay lạ quá, đặc biệt là những người đàn ông, họ muốn ra xem người đó là ai.
“Hãy đến xem” cũng là cách Anhrê giới thiệu Chúa Giê-xu với Phi-e-rơ (Giăng 1:41) và Phi-líp giới thiệu Na-tha-na-ên đến với Chúa (Giăng 1:45-46), Lê-vi (Ma-thi-ơ 9) người thu thuế thì tổ chức bữa tiệc mời mọi người. Chúa chạm đến người khác qua những gì Ngài chạm đến chúng ta.
Sự trò chuyện với Chúa Giê-xu bên giếng Gia-cốp đã thay đổi ƯU TIÊN của bà. Cái vò nước không là ưu tiên một nữa, mà sự nhận biết Ngài
Câu chuyện này cũng nhắc nhở chúng ta rằng: ĐỂ NHẬN BIẾT MÌNH LÀ TỘI NHÂN KHÔNG DỄ DÀNG, như người phụ nữ đây. Chữ tôi là một tội nhân không có trong từ vựng của bà. Bà kể lại cho người trong thị trấn rằng: người xưng mình là Đấng Mê-si đã nói cho bà về mọi điều bà đã làm. Bà đã cầu xin nước sống, nhưng không biết Ngài là ai. Sau sự trò chuyện với Chúa Giê-xu, dù có vẻ như lạc đề, nhưng Chúa Giê-xu đã dẫn bà đến với trọng tâm điều bà cầu xin: thờ phượng bằng Linh và Lẽ Thật.
Có những lời cầu nguyện chúng ta quên, phải một thời gian lâu nhớ lại, ôi đó là điều chúng ta đã cầu xin trước đó, nhưng vì chưa thấy Chúa đáp lời, chúng ta đã quên luôn.
Thậm chí có những sự Ngài không trả lời cũng là câu trả lời cho chúng ta rồi 1.
Bà ra giếng với cái bình lấy nước, và trở vào thành với SỰ NHẬN BIẾT Đấng Mê-si là cứu Chúa của thế gian.
Chúng ta cũng hãy hàng ngày học đến với Chúa như vậy, vào nơi phòng kín chúng ta, trong Danh Chúa Giê-xu đến với Cha trên Trời và cầu nguyện. Hãy nhớ rằng Chúa Giê-xu Ngài có mặt ở đó trước và chờ chúng ta đến. Bà đã không hâm hẩm, không cãi tôi thật với Ngài mà, nhưng bà đã (cố gắng) nói thật, và trong sự trò chuyện Chúa Giê-xu giúp bà đến với sự thật, Ngài tỏ cho bà biết Ngài là ai.
Chúng ta có thể vào nơi phòng kín cầu nguyện với Chúa và để lại cái bình nước lo toan chúng ta cho Ngài và xin Chúa dùng đời sống chúng ta là chiếc bình cho Ngài sử dụng, nói cho người khác hãy đến xem Chúa Giê-xu là cứu chúa của thế gian.
Amen!