“Nếu chúng ta được yêu cầu đọc cho một người sắp chết mà chưa biết đến phúc âm, có lẽ chúng ta nên chọn chương này vì đây là chương phù hợp nhất cho một dịp như vậy; và điều gì tốt cho người sắp chết cũng tốt cho tất cả chúng ta, vì chúng ta vốn là như vậy; và không ai trong chúng ta thực sự có thể nói trước được, khi nào chúng ta sẽ ở trước cánh cổng tử thần” (Spurgeon)
A.Ni-cô-đem và sự tái sinh.
1.(1-3) Ni-cô-đem đến gặp Chúa Giêsu vào ban đêm.
a.1 Trong vòng người Pha-ri-si, có người tên là Ni-cô-đem, là một người trong những kẻ cai trị dân Giu-đa: Ni-cô-đem là một trong những người bị ấn tượng bởi các dấu lạ của Chúa Giê-su (Giăng 2:23), và ông là một thành viên của Tòa Công Luận (Sanhedrin). Ông là người sùng đạo (thuộc phái Pha-ri-si), có học thức (Ni-cô-đem là tên Hy Lạp), có ảnh hưởng (một người trong những kẻ cai trị), và đủ nhiệt thành để đến vào ban đêm. Ni-cô-đem đến với Chúa Giê-su như một đại diện cho toàn thể nhân loại (Giăng 2:23-25), và theo một nghĩa nào đó, ông đại diện cho những gì cao quý và tốt đẹp nhất nơi con người.
b.2Ban đêm, người nầy đến cùng Đức Chúa Jêsus mà nói rằng: vì ông nhút nhát, hoặc có lẽ ông muốn có một cuộc phỏng vấn không bị gián đoạn với Chúa Giêsu.
c.2bThưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến: Thật khó để biết Ni-cô-đem đang nói về chính mình, về Tòa Công Luận, hay về dư luận quần chúng. “Tuy nhiên, có thể từ “oidamen”, chúng tôi biết, không có ý nghĩa gì hơn ngoài việc, người ta biết, người ta thường thừa nhận và chấp nhận, rằng Ngài là một Người Thầy đến từ Đức Chúa Trời” (Clarke)
d.2cvì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được: Chúng ta hiểu ý của Ni-cô-đem khi nói điều này, nhưng lời ông nói không hoàn toàn đúng. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng những kẻ lừa dối và tiên tri giả đôi khi có thể thực hiện những dấu lạ đáng chú ý (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:9 và Khải Huyền 13:13-14).
e.3 Đức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời: Câu trả lời của Chúa Giê-su cho Ni-cô-đem đã phá vỡ quan niệm của người Giu-đa rằng bản sắc chủng tộc của họ – sự sinh ra trong quá khứ – đảm bảo cho họ một vị trí trong Nước Đức Chúa Trời. Chúa Giê-su nói rõ rằng lần sinh đầu tiên của một người không đảm bảo người đó sẽ được vào nước Trời; chỉ có sự sanh lại mới mang lại sự đảm bảo này.
i.Người Giu-đa thời đó được dạy rộng rãi rằng vì họ là hậu duệ của Abraham, nên họ đương nhiên được đảm bảo lên thiên đàng. Thực tế, một số Rabi Giu-đa còn dạy rằng Abraham canh gác ở cổng địa ngục, chỉ để đảm bảo không có con cháu nào của ông vô tình lạc vào đó.
ii.Hầu hết người Giu-đa thời đó đều trông đợi Đấng Mê-si sẽ mang đến một thế giới mới, nơi Israel và dân Giu-đa sẽ là những người ưu việt. Nhưng Chúa Giê-su đến để mang đến một cuộc sống mới, nơi Ngài sẽ là sẽ là Đấng ưu việt..
iii.Ni-cô-đem gọi Chúa Giêsu là một rabbi (thầy) và một giáo sư; Chúa Giêsu đáp lại ông như người đã loan báo sự sống mới. “Chúa chúng ta đáp: Điều cần thiết trong Vương quốc của Đấng Mê-si không phải là học vấn, mà là sự sống; và sự sống phải bắt đầu từ khi sinh ra.” (Alford)
f.Sanh lại: Từ Hy Lạp cổ chữ “lại ” (anothen) cũng có thể được dịch là “từ trên cao“. Đây là nghĩa mà Giăng đã dùng từ này trong Giăng 3:31 và trong Giăng 19:11 và 19:23. Dù theo nghĩa nào, ý nghĩa về cơ bản vẫn giống nhau. Sinh ra từ trên cao tức là được sinh lại.
i.“Từ được dịch là ‘mới’ cũng có thể được dịch là ‘từ trên cao’. Cả hai nghĩa đều đúng, và theo cách diễn đạt của Giăng, rất có thể chúng ta nên hiểu cả hai ở đây.” (Morris)
ii.Về cơ bản, điều này có nghĩa là có một cuộc sống mới. Một thuật ngữ thần học cho điều này là sự tái sinh. Nó không chỉ đơn thuần là một cuộc cải cách đạo đức hay tôn giáo, mà là sự mang lại một cuộc sống mới. “Để thuộc về vương quốc thiên đàng, người ta phải được sinh ra tại nơi đó.” (Tenney)
iii.Chúa Giê-su đã nói rõ ràng rằng nếu không có điều này – tức là nếu một người chẳng sanh lại – người ấy không thể vào hoặc trở thành một phần của (nhìn thấy) Vương quốc Đức Chúa Trời. Cải cách đạo đức hay tôn giáo là chưa đủ. Người ta phải được tái sinh.
iv.Đây không phải là điều chúng ta có thể tự làm với chính mình. Nếu Chúa Giê-su nói: “Nếu không được rửa sạch, các ngươi không thể thấy Nước Đức Chúa Trời” thì chúng ta có thể nghĩ: “Tôi có thể tự rửa mình”. Một người có thể tự rửa mình; nhưng anh ta không bao giờ có thể tự sinh ra chính mình.
v.“Trong toàn bộ Tân Ước, ý tưởng về sự tái sinh, sự tái tạo đều xuất hiện.” (Barclay)
- 1 Phi-e-rơ nói về việc được tái sinh bởi lòng thương xót lớn lao của Đức Chúa Trời (1 Phi-e-rơ 1:3).
- 1 Phi-e-rơ nói về việc được tái sinh từ hạt giống bất diệt (1 Phi-e-rơ 1:22-23).
- Gia-cơ nói về việc Đức Chúa Trời dùng lời chân lý để đưa chúng ta ra khỏi tội lỗi (Gia-cơ 1:18).
- Tít nói với chúng ta về sự rửa sạch tái sinh (Tít 3:5).
- Thư Rô-ma nói về việc chết với Chúa Giê-su và sống lại (Rô-ma 6:1-11).
- 1 Cô-rinh-tô nói về những tín đồ mới như những đứa trẻ mới sinh (1 Cô-rinh-tô 3:1-2).
- 2 Cô-rinh-tô nói về việc chúng ta là tạo vật mới trong Chúa Giê-xu (2 Cô-rinh-tô 5:17).
- Ga-la-ti nói rằng trong Chúa Giê-su chúng ta là tạo vật mới (Ga-la-ti 6:15).
- Ê-phê-sô nói rằng người mới được dựng nên theo Đức Chúa Trời trong sự công chính (Ê-phê-sô 4:22-24).
- Thư Hê-bơ-rơ nói rằng khi bắt đầu đời sống Cơ Đốc, chúng ta giống như trẻ con (Hê-bơ-rơ 5:12-14).
2.(4) Ni-cô-đem trả lời: Làm sao có thể như vậy được?
a.4 Ni-cô-đem thưa rằng: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao? 5 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời. Câu trả lời của Ni-cô-đem có thể không phải vì thiếu hiểu biết, mà vì nghĩ rằng Chúa Giê-su muốn nói đến một cuộc cải cách đạo đức. Câu hỏi của ông có thể là: “Làm sao ông có thể dạy một con chó già những trò mới?” Bằng cách này hay cách khác, Ni-cô-đem rõ ràng đã không hiểu Chúa Giê-su hoặc chân lý về sự tái sinh.
i.“Nếu Chúa chúng ta phán: ‘Mọi người ngoại đạo phải được sinh ra lần nữa,’ thì ông sẽ hiểu được.” (Dods)
b.Người đã già thì sanh lại làm sao được? Khi mô tả sự tái sinh, Chúa Giê-su nhắc lại một chủ đề quen thuộc từ những lời hứa trong Cựu Ước về Giao Ước Mới (Phục Truyền Luật Lệ Ký 30:1-6, Giê-rê-mi 23:1-8, Giê-rê-mi 31:31-34, Giê-rê-mi 32:37-41, Ê-xê-chi-ên 11:16-20, Ê-xê-chi-ên 36:16-28, Ê-xê-chi-ên 37:11-14, 37:21-28). Những đoạn Kinh Thánh này về cơ bản đã đưa ra ba lời hứa trong Giao Ước Mới:
- Sự tập hợp của dân Israel.
- Sự thanh tẩy và biến đổi tâm linh của dân Chúa.
- Sự cai trị của Đấng Mê-si trên Israel và toàn thế giới.
i.Vào thời Chúa Giê-su, giáo lý chung của người Giu-đa là hai khía cạnh đầu tiên của Giao Ước Mới đã được ứng nghiệm. Họ thấy dân Y-sơ-ra-ên được quy tụ – ít nhất là một phần – sau cuộc lưu đày ở Babylon. Họ thấy những phong trào tâm linh mạnh mẽ như người Pha-ri-si, mà họ tin rằng đã ứng nghiệm lời hứa về sự biến đổi tâm linh. Tất cả những gì họ chờ đợi là triều đại của Đấng Mê-si.
ii.Đó là lý do tại sao Lời Tuyên Bố Của Chúa Giê-Su Về Sự Tái Sinh lại lạ lùng đến vậy đối với Ni-cô-đem. Ông nghĩ rằng dân Giu-đa đã có sự tái sinh rồi; họ chắc chắn không tìm kiếm nó. HỌ CHỈ TRÔNG ĐỢI MỘT ĐẤNG MÊ-SI CHIẾN THẮNG.
3.(5-8) Chúa Giêsu giải thích về sự tái sinh.
a.5 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời. 6 Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần. 7 Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại: Chúa Giê-su nhấn mạnh rằng con người không cần sự cải tiến, nhưng cần sự hoán cải triệt để bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải được tái sinh bởi nước và Thánh Linh (BD2020).
i.“Trong câu 3, Chúa Giê-su nói về việc ‘nhìn thấy’ Vương quốc Đức Chúa Trời, trong khi ở đây Ngài nói về việc ‘được vào’ Vương quốc ấy. Có lẽ không có sự khác biệt lớn về ý nghĩa.” (Morris)
ii.Quả thật, quả thật: (nguyên văn 2lần chữ ἀμήν amen) “Những lời này làm tăng thêm tính trang trọng và nhấn mạnh sự thật của những điều tiếp theo. Những thành ngữ hiện đại, ‘Thật vậy, ta nói với các ngươi’, ‘Hãy tin ta khi ta nói’, ‘Ta bảo đảm với các ngươi’, truyền tải ý nghĩa đó.” (Tasker)
iii.5bnếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời: Nếu một quốc gia thông qua luật quy định rằng không ai được sống ở đó ngoại trừ những người sinh ra ở quốc gia đó, và có người muốn sống ở đó mà không sinh ra ở đó:
- Cũng không sao nếu anh ta lấy một cái tên phổ biến ở quốc gia đó.
- Cũng không sao nếu anh ta nói được ngôn ngữ đó.
- Cũng không sao nếu anh ta tuân thủ một số phong tục.
- Cũng không sao nếu anh ta ăn mặc giống những người ở quốc gia đó.
- Cũng không sao nếu anh ta thực hành một số truyền thống tôn giáo của quốc gia đó.
- Cũng không sao nếu cha mẹ anh ấy sinh ra ở quốc gia đó.
- Cũng không sao nếu con cái của anh ta được sinh ra ở đó.
- Cũng không sao nếu anh ta có nhiều bạn bè ở quốc gia đó.
- Điều quan trọng nhất là liệu anh ta có thực sự sinh ra ở đó hay không.
iv.“Một người có thể từ bỏ nhiều tật xấu, từ bỏ nhiều ham muốn mà mình đã buông thả, và chiến thắng những thói quen xấu, nhưng không một ai trên thế gian này có thể tự khiến mình được sinh ra bởi Đức Chúa Trời; dù có đấu tranh đến đâu, người ấy cũng không bao giờ có thể đạt được điều vượt quá khả năng của mình. Và, xin lưu ý, ngay cả khi người ấy có thể tự khiến mình được sinh lại, người ấy vẫn sẽ không được vào thiên đàng, bởi vì còn một điều kiện khác mà người ấy đã vi phạm — ‘nếu một người không được sinh ra bởi Thánh Linh, người ấy không thể thấy được vương quốc Đức Chúa Trời.’” (Spurgeon)
b.7bCác ngươi phải sanh lại: Chúng ta biết từ Giăng 3:10 rằng bất kể việc sinh ra bởi nước là gì, thì Ni-cô-đem từ Cựu Ước hẳn đã quen thuộc.
i.Một số người cho rằng sinh lại bởi nước có nghĩa là được báp têm. Nước ở đây có thể tượng trưng cho báp têm tội lỗi, nhưng không có nền tảng thực sự nào trong Cựu Ước cho điều này.
ii.Một số người cho rằng “sinh bởi nước” ám chỉ sự ra đời về mặt thể xác của chúng ta, vì chúng ta đến từ một túi nước. Cách tiếp cận này hấp dẫn hơn, nhưng chẳng phải nó chỉ đơn giản là nêu lên điều hiển nhiên sao? Tuy nhiên, nó cũng có sự tương đồng tốt với ý tưởng về điều sinh ra bởi xác thịt trong Giăng 3:6.
iii.Một số người cho rằng sinh bởi nước nghĩa là được tái sinh bởi Lời Chúa. Trong những đoạn Kinh Thánh khác, nước tượng trưng cho Lời Chúa, vì chúng ta được rửa sạch bởi nước của Lời Chúa (Ê-phê-sô 5:26).
iv.Một số người cho rằng sinh bởi nước có nghĩa là được tái sinh bởi Đức Thánh Linh, là nước sống trong Giăng 7:38-39.
v.Một số người cho rằng sinh bởi nước nghĩa là nhận được nước tẩy sạch được tiên tri trong Ê-xê-chi-ên 36:25-28, một phần của Giao Ước Mới. Cách tiếp cận này có giá trị nhất (mặc dù khó khăn), bởi vì nó liên quan chặt chẽ đến lời tiên tri trong Cựu Ước – điều mà Chúa Giê-su nói Ni-cô-đem đáng lẽ phải biết để hiểu những điều này.
c.6 Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt: Nếu không được tái sinh bởi Thánh Linh, xác thịt sẽ làm ô uế mọi công việc công bình. Tuy nhiên, mọi việc một người được Thánh Linh dẫn dắt làm đều có thể đẹp lòng Đức Chúa Trời.
xác thịt này bao gồm mọi phần của những gì được sinh ra theo phương pháp sinh sản thông thường: ngay cả linh hồn của con người, mặc dù dễ tiếp nhận Thánh Linh của Chúa, nhưng khi sinh ra theo tự nhiên vẫn chết, chìm đắm trong sự vi phạm và tội lỗi.” (Alford)
d.7 Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại: Một lần nữa, Ni-cô-đem lại ngạc nhiên trước lời tuyên bố này, bởi vì ông – giống như hầu hết những người Giu-đa cùng thời – tin rằng họ đã có sự biến đổi bên trong được hứa trong Giao Ước Mới. Chúa Giê-su muốn ông nắm lấy sự thật rằng ông không có điều đó, và phải được sinh lại.
i.Chúng ta không nên quên Chúa Giê-su đã nói điều này với ai. Ni-cô-đem là một nhà lãnh đạo tôn giáo, một người Pha-ri-si, một người có học thức và một người chân thành. Nhìn bề ngoài, Ni-cô-đem đã được biến đổi để trở nên giống Đức Chúa Trời – nhưng thực ra không phải vậy.
ii.“Những lời long trọng này vĩnh viễn loại trừ khả năng cứu rỗi nhờ công đức của con người. Bản chất con người bị tội lỗi trói buộc đến mức cần phải có hoạt động của chính Thánh Linh Đức Chúa Trời nếu con người muốn được kết hợp với Vương quốc của Ngài.” (Morris)
e.8 Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy: Ý Chúa Giê-su nói với Ni-cô-đem là: “Ông không hiểu hết về gió, nhưng ông thấy tác động của nó. Sự giáng xuống của Thánh Linh cũng giống như vậy.” Chúa Giê-su muốn Ni-cô-đem hiểu rằng ông không cần phải hiểu hết về sự tái sinh trước khi trải nghiệm điều đó.
i.Vì chúng ta không thể kiểm soát được Thánh Linh, “Điều đó sẽ dẫn chúng ta đến chỗ trong hành vi, thái độ của chúng ta phải rất dịu dàng và sốt sắng (ghen) đối với Đức Thánh Linh, để chúng ta không làm Ngài buồn và khiến Ngài rời xa chúng ta.” (Spurgeon)
4.(9-13) Chúa Giêsu trả lời câu hỏi “Điều đó làm thể nào được? ”
a.9 Ni-cô-đem lại nói: Điều đó làm thể nào được? Ni-cô-đem bối rối. Ông quá tin chắc rằng sự tái sinh đã xảy ra cho ông và toàn thể dân Y-sơ-ra-ên trung tín, nên ông khó mà suy nghĩ khác đi. Chúa Giê-su phải liên tục giải thích.
b.10 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi là giáo sư của dân Y-sơ-ra-ên, mà không hiểu biết những điều đó sao! 11 Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, chúng ta nói điều mình biết, làm chứng điều mình đã thấy; còn các ngươi chẳng hề nhận lấy lời chứng của chúng ta. Chúa Giê-su khiển trách Ni-cô-đem vì không nhận thức được nhu cầu và lời hứa về sự tái sinh, bởi vì những điều này đã được trình bày rõ ràng trong Cựu Ước. Ni-cô-đem biết rõ những đoạn Kinh Thánh này, nhưng lại tin rằng sự tái sinh đã ứng nghiệm rồi. Lẽ ra ông phải biết rõ hơn.
i.Ngươi là giáo sư của dân Y-sơ-ra-ên, mà không hiểu biết những điều đó sao? Bản tiếng anh: Ngươi có phải là thầy dạy của dân Y-sơ-ra-ên không? “Vị trí chính xác của Ni-cô-đem trong giới thần học Y-sơ-ra-ên không được xác định, nhưng ngôn ngữ cho thấy ông là một nhân vật rất quan trọng. Chúa Giê-su ngụ ý rằng là một thầy dạy lỗi lạc của dân tộc, Ni-cô-đem hẳn phải quen thuộc với giáo lý về sự tái sinh.” (Tenney)
c.12 Ví bằng ta nói với các ngươi những việc thuộc về đất, các ngươi còn chẳng tin thay; huống chi ta nói những việc thuộc về trời, thì các ngươi tin sao được? Chỉ cần nhìn vào những điều thuộc về đất – như những minh họa Chúa Giê-su đã dùng, và thậm chí chỉ cần nhìn vào cuộc đời của chính Ngài – cũng đủ để Ni-cô-đem hiểu rõ vấn đề. Nếu ông không thể thấy mình cần sự biến đổi tâm linh này, thì Chúa Giê-su còn có thể nói gì hơn nữa?
d.13 Chưa hề có ai lên trời, trừ ra Đấng từ trời xuống, ấy là Con người vốn ở trên trời: Chúa Giê-su “làm rõ rằng Ngài có thể phán một cách có thẩm quyền về những điều trên trời, mặc dù không ai khác có thể làm được.” (Morris)
i.“Tóm lại, chúng ta có cơ sở ở đây trong chính lời của Đấng Christ về lời tuyên bố trong lời mở đầu rằng Ngôi Lời ban đầu ở cùng Đức Chúa Trời, và đã trở nên xác thịt để làm ánh sáng cho loài người.” (Dods)
ii.13 Chưa hề có ai lên trời: “Câu này có vẻ như là một cách diễn đạt ẩn dụ cho câu: Không ai biết được những điều huyền nhiệm của vương quốc Đức Chúa Trời; như trong Phục truyền Luật lệ Ký 30:12; Thi thiên 73:17; Châm ngôn 30:4; Rô-ma 11:34. Và cách diễn đạt này dựa trên câu châm ngôn được chấp nhận rộng rãi này: Muốn biết rõ câu chuyện ở nơi đó, một người cần phải có mặt tại đó.” (Clarke)
5.(14-15) Chúa Giêsu và con rắn bằng đồng.
a.14 Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy: Chúa Giê-su đã đưa ra một tuyên bố đáng chú ý, giải thích rằng con rắn trong Dân số ký 21:4-9 là hình ảnh của Đấng Mê-si và công việc của Ngài.
i.Rắn thường được dùng làm hình ảnh của sự dữ trong Kinh Thánh (Sáng Thế Ký 3:1-5 và Khải Huyền 12:9). Tuy nhiên, con rắn của Môi-se trong Dân Số Ký 21 được làm bằng đồng, và đồng là một kim loại gắn liền với sự phán xét trong Kinh Thánh, bởi vì đồng được tôi luyện bằng lửa, tượng trưng cho sự phán xét.
ii.Vậy, CON RẮN ĐỒNG TƯỢNG TRƯNG CHO TỘI LỖI, NHƯNG LÀ TỘI LỖI BỊ PHÁN XÉT. Cũng vậy, Chúa Giê-su, Đấng không hề biết tội lỗi, đã trở nên tội lỗi vì chúng ta trên thập tự giá, và tội lỗi chúng ta đã bị phán xét trong Ngài. Con rắn đồng là hình ảnh của tội lỗi bị phán xét và xử lý.
iii.Chúng ta hẳn muốn giảm bớt cảm giác tội lỗi và đặt hình ảnh con người lên cây cột. Hình ảnh con người của chúng ta có thể đại diện cho “cả tốt lẫn xấu” trong con người. Nhưng con rắn rõ ràng mang tính tội lỗi hơn, và cho chúng ta thấy bản chất thực sự và nhu cầu cứu rỗi thực sự của mình.
iv.Ngoài ra, nếu con rắn nằm ngang trên cột thẳng đứng, thì dễ dàng nhận thấy đây cũng là hình ảnh tượng trưng cho cây thánh giá. Tuy nhiên, nhiều truyền thống cho thấy con rắn quấn quanh cột, và đây chính là nguồn gốc của hình ảnh cổ xưa về chữa bệnh và y học – một con rắn quấn quanh một cây cột.
v.Trong câu chuyện Dân Số Ký 21:4-9, dân sự được cứu không phải nhờ làm bất cứ điều gì, mà chỉ đơn giản là nhìn lên con rắn bằng đồng. Họ phải tin rằng một việc tưởng chừng như ngớ ngẩn như nhìn vào con rắn bằng đồng sẽ đủ để cứu họ, và chắc chắn, một số người không làm và đã chết vì họ cho rằng làm như vậy là quá ngớ ngẩn.
vi.Như lời Chúa phán trong Ê-sai 45:22: “Hỡi các ngươi hết thảy ở các nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem ta và được cứu! Vì ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác.” Chúng ta có thể sẵn sàng làm trăm điều để được cứu rỗi, nhưng Chúa truyền lệnh cho chúng ta chỉ tin cậy nơi Ngài – trông cậy nơi Ngài.
b.14bthì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy: Dù Chúa Giê-su mang lấy tội lỗi chúng ta, Ngài không bao giờ trở thành tội nhân. Ngay cả việc Ngài trở thành tội lỗi vì chúng ta cũng là một hành động yêu thương thánh khiết và công chính. Chúa Giê-su vẫn là Đấng Thánh trong suốt thử thách trên thập tự giá.
i.“Ni-cô-đem đã không nắm bắt được giáo lý về sự tái sinh khi nó được trình bày cho ông theo những thuật ngữ rút ra từ lời tiên tri của Ê-xê-chi-ên; giờ đây nó được trình bày cho ông bằng một bài học thực tế, từ một câu chuyện mà ông đã quen thuộc từ khi còn nhỏ.” (Bruce)
ii.phải bị treo lên, dịch từ bản tiếng anh phải được nâng lên: “Ngài phải chết vì Ngài muốn cứu, và Ngài muốn cứu vì Ngài đã yêu thương.” (Maclaren)
c.Được nâng lên: Đây là thuật ngữ sau này được dùng để mô tả cả sự đóng đinh của Chúa Giê-su (Giăng 12:32) và sự thăng thiên của Ngài (Công vụ 2:33). Cả hai ý nghĩa đều được đề cập đến, sự đau khổ và sự tôn vinh của Ngài. Chúa Giê-su được nâng lên theo cả hai cách.
i.Con Người sẽ được treo lên. Phải, nhưng không phải trên ngai vàng trong cung điện của Hê-rốt. Ngài sẽ được phô bày, nhưng giống như con rắn đồng đã từng được phô bày, treo trên cây sào để chữa lành dân chúng.” (Dods)
d.15 hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời: Ý tưởng đằng sau sự sống đời đời không chỉ là một cuộc sống dài lâu hay bất tận. Sự sống đời đời không có nghĩa là cuộc sống này kéo dài mãi mãi. Thay vào đó, sự sống đời đời còn mang ý niệm về một phẩm chất sống nhất định, về loại sự sống của Đức Chúa Trời. Đó là loại sự sống được hưởng trong cõi vĩnh hằng.
i.“Bản chất của đức tin được ngụ ý trong hình ảnh Moses treo con rắn lên trong sa mạc. Đức tin bao gồm việc chấp nhận một điều gì đó, chứ không phải hành động.” (Tenney)
6.(16) Món quà cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
16 Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
a.16 Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian: Giăng 3:16 từ lâu đã được ca ngợi là một lời tuyên bố mạnh mẽ và súc tích về phúc âm. Trong số 31.102 câu Kinh Thánh, đây có lẽ là câu Kinh Thánh được sử dụng phổ biến nhất trong công tác truyền giáo.
i.Chúng ta học về đối tượng tình yêu của Đức Chúa Trời: Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian. Đức Chúa Trời không đợi thế gian quay về với Ngài mới yêu thương thế gian. Ngài đã yêu thương và ban Con Một của Ngài cho thế gian khi thế gian vẫn còn là thế gian !
ii.Những gì Chúa Giê-su nói với Ni-cô-đem trong Giăng 3:7 (Ngươi phải được tái sinh) đã bác bỏ quan niệm phổ biến của người Giu-đa về con đường cứu rỗi. Giờ đây, Chúa Giê-su bác bỏ quan niệm phổ biến của người Giu-đa về phạm vi cứu rỗi: vì Đức Chúa Trời yêu thương THẾ GIAN.
iii.Người Giu-đa thời đó hiếm khi nghĩ rằng Đức Chúa Trời yêu thương THẾ GIAN. Nhiều người trong số họ nghĩ rằng Đức Chúa Trời chỉ yêu thương dân Israel. Lời hứa cứu rỗi và sự sống phổ quát nơi Chúa Giê-su thật là một cuộc cách mạng.
iv.“Người Giu-đa đã sẵn sàng nghĩ rằng Chúa yêu thương Israel, nhưng dường như không có đoạn nào được trích dẫn cho thấy bất kỳ tác giả Giu-đa nào khẳng định rằng Chúa yêu thương thế gian. Đó là một quan niệm đặc trưng của cơ đốc giáo rằng tình yêu của Chúa đủ bao la để bao trùm toàn thể nhân loại.” (Morris)
v.Morrison cho rằng có ba trung tâm của tình yêu:
- Đức Chúa Trời yêu thương thế gian (Giăng 3:16).
- Đấng Christ cũng yêu thương Hội thánh (Ê-phê-sô 5:25).
- Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu thương tôi (Ga-la-ti 2:20).
b.đến nỗi đã ban Con một của Ngài: Điều này mô tả cả sự bày tỏ lẫn món quà tình yêu của Đức Chúa Trời. Tình yêu của Đức Chúa Trời không chỉ cảm thông cho hoàn cảnh khốn cùng của một thế giới sa ngã. Đức Chúa Trời đã hành động, và Ngài đã ban điều quý giá nhất: Con Một của Ngài.
i.Đức Chúa Trời đã ban Con một của Ngài: “Những lời này dường như ám chỉ đến lễ dâng Isaac; và trong trường hợp đó, Ni-cô-đem sẽ ngay lập tức được nhắc nhở về tình yêu thương cần có ở đó, sự thay thế được thực hiện ở đó và lời tiên tri được nói ra ở đó với Abraham.” (Alford)
c.hễ ai TIN Con ấy: Điều này mô tả người nhận được tình yêu của Chúa. Chúa yêu thương thế gian, nhưng thế gian không nhận được hay hưởng được tình yêu ấy cho đến khi TIN vào Chúa Giê-su, món quà mà Chúa Cha đã ban tặng. TIN vào có ý nghĩa sâu xa hơn nhiều so với nhận thức trí tuệ hay sự đồng thuận. Nó có nghĩa là tin tưởng, nương tựa và bám víu vào.
d.không bị hư mất: Điều này mô tả ý định của tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời thực sự cứu con người khỏi sự hủy diệt đời đời. Đức Chúa Trời nhìn đến nhân loại sa ngã, không muốn họ hư mất, nên trong tình yêu thương của Ngài, Ngài ban tặng món quà cứu rỗi trong Chúa Giê-su Christ.
e.Sự sống đời đời: Điều này mô tả sự trường tồn của tình yêu Chúa. Tình yêu chúng ta nhận được giữa con người có thể phai nhạt hoặc thay đổi, nhưng tình yêu Chúa sẽ không bao giờ thay đổi. Ngài sẽ không bao giờ ngừng yêu thương dân Ngài, ngay cả cho đến tận cùng của cõi vĩnh hằng.
i.Chúng ta có thể nói rằng có BẢY KỲ QUAN trong Giăng 3:16.
| Đức Chúa Trời | Đấng Toàn Năng |
| yêu thương thế gian, đến nỗi | Động cơ mạnh mẽ nhất |
| Ngài đã ban Con một của Ngài | Món quà tuyệt vời nhất |
| hầu cho hễ ai | Sự chào đón rộng rãi nhất |
| TIN CON ấy | Lối thoát dễ dàng nhất |
| không bị hư mất | Sự giải cứu thiên thượng |
| mà được sự sống đời đời. | Tài sản vô giá |
ii.“Nếu có một câu nào tóm tắt được thông điệp của Phúc Âm Thứ Tư, thì đó chính là câu này. Tình yêu của Đức Chúa Trời là vô biên; nó bao trùm toàn thể nhân loại. Không một hy sinh nào là quá lớn để mang sức mạnh vô biên của nó đến với con người: điều tốt đẹp nhất mà Đức Chúa Trời có thể ban tặng, Ngài đã ban tặng – Con Một của Ngài, Con yêu dấu.” (Bruce)
7.(17-21) Sự lên án tội lỗi.
a.17 Vả, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu: Chúa Giêsu đã bày tỏ tấm lòng của Đức Chúa Trời Cha khi sai Đức Chúa Trời Con đến; để mang ơn cứu độ – giải cứu, hy vọng, chữa lành – đến cho thế gian nhờ Con ấy.
i.“Thật ra, một số người sẽ bị lên án, và điều đó là kết quả của việc Đấng Christ đến thế gian (Giăng 3:19). Nhưng mục đích Ngài đến không phải là như vậy.” (Morris)
b.18 Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con một Đức Chúa Trời: Giăng 3:16 là lời đề nghị tuyệt vời và nhân từ nhất có thể tưởng tượng được – sự sống đời đời cho tất cả những ai tin. Tuy nhiên, lời đề nghị này có những hậu quả cố hữu đối với bất kỳ ai chối bỏ, từ chối TIN. Sự từ chối của họ khiến cho sự kết án của họ trở nên chắc chắn.
i.Một vấn đề quan trọng liên quan đến những người không tin là: Còn những người chưa bao giờ có cơ hội tin vì chưa bao giờ nghe tin mừng về Chúa Giê-su Christ thì sao? Đây là một câu hỏi quan trọng nhưng riêng biệt, được Sứ đồ Phao-lô giải quyết tốt nhất trong Rô-ma 1 và 2. Ở đây, trọng tâm dường như tập trung vào những người cố tình chối bỏ sứ điệp, như những người đã nghe và gặp gỡ Chúa Giê-su vào thế kỷ thứ nhất đã có cơ hội làm.
ii.“Ở đây không đề cập rõ ràng đến những người chưa bao giờ có cơ hội tin vào Đấng Christ, những người mà ánh sáng trọn vẹn chưa bao giờ chiếu rọi. Nhưng lời của Giăng có lẽ cũng hé lộ nguyên tắc phán xét họ. Như Ngôi Lời vĩnh cửu đã đến với loài người trước khi nhập thể trong Đấng Christ, thì ánh sáng của Đức Chúa Trời cũng vậy. Nếu loài người bị phán xét dựa trên cách họ phản ứng với ánh sáng, thì họ cũng bị phán xét dựa trên cách họ phản ứng với ánh sáng mà họ có thể nhận được.” (Bruce)
c.19 Vả, sự đoán xét đó là như vầy: Sự sáng đã đến thế gian, mà người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm của họ là xấu xa: Chúa Giê-su đến để mang lại sự cứu rỗi, nhưng những ai chối bỏ sự cứu rỗi ấy thì tự đoán phạt mình. Chúng ta không bao giờ nên đổ lỗi cho Chúa về nguyên nhân dẫn đến sự đoán phạt của bất kỳ ai. Trách nhiệm hoàn toàn thuộc về họ.
i.“Thiên đường quá nóng để chứa những người chưa được tái sinh; không có con chó bẩn thỉu nào từng giẫm đạp lên vỉa hè vàng son đó, đó là một di sản không bị ô uế.” (Trapp)
d.20 Bởi vì phàm ai làm ác thì ghét sự sáng và không đến cùng sự sáng, e rằng công việc của mình phải trách móc chăng. 21 Nhưng kẻ nào làm theo lẽ thật thì đến cùng sự sáng, hầu cho các việc của mình được bày tỏ ra, vì đã làm trong Đức Chúa Trời: Chúa Giê-su giải thích điều gì ngăn cản con người tin và được Ngài cứu rỗi. Đó là vì họ bị lôi cuốn vào bóng tối, và yêu bóng tối hơn ánh sáng. Có một khía cạnh đạo đức quan trọng trong sự vô tín thường bị phủ nhận hoặc phớt lờ.
i.Những người cố tình chối bỏ Chúa Giê-su thường tự nhận mình là những anh hùng, dũng cảm gạt bỏ mê tín dị đoan và thẳng thắn đối mặt với những vấn đề triết học sâu sắc. Thực tế thường đúng hơn là có một sự thỏa hiệp về mặt đạo đức nằm ở gốc rễ của sự chối bỏ của họ.
ii.Nhiều người chống đối Cơ đốc giáo có quyền lợi trong việc chống lại chân lý của Chúa Jesus, vì họ yêu tội lỗi của mình và không muốn đối mặt với nó, hoặc đối mặt với một Đức Chúa Trời sẽ phán xét tội lỗi của họ.
iii.Khi nghĩ đến tình yêu tội lỗi khiến con người sa hỏa ngục, chúng ta thường nghĩ đến tội lỗi khét tiếng. Nhưng chỉ riêng việc muốn làm chủ cuộc đời mình mà không cần Chúa cũng đủ là một tội lỗi đáng bị Chúa lên án.
e.phàm ai làm ác thì ghét sự sáng: Một số người thể hiện lòng căm thù chân lý bằng cách tích cực chống lại nó, và những người khác thể hiện lòng căm thù bằng cách phớt lờ chân lý của Chúa – bằng cách nói với Chúa Jesus rằng “Ngài không đáng để tôi dành thời gian”. Ngược lại, người làm theo chân lý sẽ đến với ánh sáng.
i.21kẻ nào làm theo lẽ thật: “‘làm theo lẽ thật’ ít nhất cũng là sống đúng với những gì mình biết; sống một cuộc sống trung thực, có lương tâm.” (Dods)
ii.“Họ đã chọn bước đi trong bóng tối, để làm những việc của bóng tối – họ đã vi phạm luật Chúa, từ chối lòng thương xót dành cho họ, bị công lý Chúa bắt giữ, bị kết án, bị lên án và bị trừng phạt. Vậy thì sự nguyền rủa của họ đến từ đâu? TỪ CHÍNH HỌ.” (Clarke)
B.Lời chứng cuối cùng của Giăng Báp-tít về Chúa Giêsu.
1.(22-24) Chúa Giêsu làm báp têm tại Giu-đê trong khi Giăng tiếp tục công việc làm báp têm của mình.
a.22Kế đó, Đức Chúa Jêsus đi với môn đồ đến đất Giu-đê: Giăng tiếp tục tường thuật về cuộc đời Chúa Giê-su, nhấn mạnh vào những việc Ngài đã làm ở Giu-đê. Các sách Phúc Âm khác tập trung vào công việc của Chúa Giê-su ở vùng Ga-li-lê.
b.22bNgài ở với môn đồ tại đó, và làm phép báp-têm: Chúa Giê-su, cùng với các môn đồ, đã làm báp têm, dường như tương tự như công việc của Giăng Báp-tít. Đây là cách khiêm nhường của Chúa Giê-su để nhìn nhận lòng tốt và tầm quan trọng của công việc của Giăng Báp-tít.
i.Về công việc làm phép báp-têm của Chúa Giê-su, Morris nhận xét: “Nhiều khả năng nó tượng trưng cho sự tiếp nối của ‘PHÉP BÁP-TÊM ĂN NĂN’ vốn là đặc điểm của Giăng Báp-tít.” Chúng ta biết rằng khi Chúa Giê-su bắt đầu rao giảng, Ngài bắt đầu bằng cùng một thông điệp của Giăng: “CÁC NGƯƠI HÃY ĂN NĂN” (Ma-thi-ơ 3:2 và 4:17). Việc Chúa Giê-su cũng thực hành biểu tượng ăn năn mà Giăng đã sử dụng với hiệu quả to lớn như vậy là điều hợp lý.
ii.“Báp têm mà các môn đồ [của Chúa Jesus] hiện đang thực hiện dường như có cùng vị trí với báp têm của Giăng.” (Alford)
iii.“’ ở với môn đồ tại đó‘ là một từ khác không cụ thể lắm, nhưng chúng ta có ấn tượng về một khoảng thời gian không vội vã mà Chúa Jesus và những người theo Ngài đã hiểu nhau hơn.” (Morris)
iv.Địa điểm Chúa Giê-su làm phép báp-têm không được ghi chép. Điều này có thể là do việc này diễn ra ở nhiều nơi trong khu vực.
c.23 Giăng cũng làm phép báp-têm tại Ê-nôn, gần Sa-lim, vì ở đó có nhiều nước, và người ta đến đặng chịu phép báp-têm. 24 Bấy giờ Giăng chưa bị bỏ vào ngục: Có một số tranh cãi về vị trí chính xác của nơi này. Bằng chứng tốt nhất là nó nằm cách Bết-san (1Sa-mu-ên 31:10-12; Bết-Sê-an trong Giô-suê 17:11-12) ngày nay khoảng bảy dặm (12 km) về phía nam.
i.“Tên Ê-nôn (Ainun có nghĩa là ‘suối’, cung cấp ‘nhiều nước’ (theo nghĩa đen là ‘nhiều nước’) mà Giăng cần để làm báp têm.” (Bruce)
ii.“Vị trí chính xác của Aenon vẫn chưa rõ ràng. Có hai địa điểm khả dĩ: một ở phía nam Bết-san, nơi có nhiều suối; một ở cách Shechem một khoảng cách ngắn. Trong hai địa điểm, địa điểm đầu tiên dường như khả thi hơn.” (Tenney)
iii.Công việc làm phép báp têm của Giăng vẫn còn hiệu quả; chúng ta đọc: “và người ta đến đặng chịu phép báp-têm”. “Ý nghĩa của hai động từ cuối là liên tục và chúng ta có thể nhấn mạnh nó bằng cách nói rằng ‘họ cứ đến và chịu phép báp têm’.” (Morris)
2.(25-26) Giăng biết về công việc rửa tội của Chúa Giêsu.
a.25 Vả, môn đồ của Giăng có cãi lẫy với một người Giu-đa về lễ tinh sạch: Chúng ta không biết bản chất chính xác của cuộc tranh cãi này. Báp têm của Giăng chắc chắn có yếu tố thanh tẩy cá nhân, và có lẽ một số nhà lãnh đạo Giu-đa phản đối việc ông làm hoặc cách ông làm.
b.26 Họ đến cùng Giăng và nói rằng: Thưa thầy, kìa, người ở cùng thầy bên kia sông Giô-đanh, mà thầy đã làm chứng cho, bây giờ đương làm phép báp-têm, và ai nấy đều đến cùng người: Chúng ta không biết chi tiết về cuộc tranh luận liên quan đến việc thanh tẩy, nhưng trong cuộc thảo luận đó, các môn đồ của Giăng được biết Chúa Giê-su đang làm phép báp-têm và thu hút đám đông lớn.
i.“ ‘ai nấy đều đến‘ là một sự phóng đại phẫn nộ, rất tự nhiên trong hoàn cảnh này.” (Morris)
c.ai nấy đều đến cùng người: Các môn đồ của Giăng dường như lo lắng, nhưng điều đó chẳng làm Giăng bận tâm chút nào. Giăng không để lòng đố kỵ hay đám đông thất thường khiến ông quên mất sứ mệnh của mình: loan báo Đấng Mê-si đã đến, rồi lùi lại và để mọi sự tập trung vào Ngài.
3.(27-30) Câu trả lời của Giăng cho các môn đệ đang lo lắng.
a.27 Giăng trả lời rằng: Ví chẳng từ trên trời ban cho, thì không một người nào có thể lãnh chi được: Trước tiên, Giăng trả lời các môn đồ đang lo lắng rằng mọi điều ông có – kể cả những người hưởng ứng chức vụ của ông – đều là ân huệ của Chúa. Nếu họ là ân huệ của Chúa, thì họ nên được đón nhận với lòng biết ơn.
b.28 Chính các ngươi làm chứng cho ta rằng ta đã nói: Ấy không phải ta là Đấng Christ, nhưng ta đã được sai đến trước Ngài: Sau đó, Giăng nhắc nhở các môn đồ rằng ông biết mình là ai, và ông cũng biết Chúa Giê-su là ai. Hiểu được điều đó, ông có thể giữ đúng vị trí của mình; không quá cao (vì nghĩ mình là Đấng Christ) và không quá thấp (vì nghĩ mình không được kêu gọi hay có vị trí nào trong kế hoạch của Chúa).
c.29 Ai mới cưới vợ, nấy là chàng rể, nhưng bạn của chàng rể đứng gần và nghe người, khi nghe tiếng của chàng rể thì rất đỗi vui mừng: Giăng giải thích với các môn đồ rằng ông giống như phù rể trong tiệc cưới; ông không phải là chú rể. Ông không phải là tâm điểm chú ý, mà là người giám sát việc đưa hai người đến với nhau.
i.Theo phong tục cưới hỏi của người Giu-đa thời bấy giờ, bạn của chú rể sẽ lo liệu nhiều chi tiết cho đám cưới và đưa cô dâu đến gặp chú rể. Tuy nhiên, bạn của chú rể chưa bao giờ là tâm điểm chú ý, và họ muốn như vậy.
ii.Việc chú rể tượng trưng cho Chúa Giê-su là một cách khác để Kinh Thánh nói Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời. Trong Cựu Ước, chỉ có Đức Giê-hô -va mới là chồng của dân Y-sơ-ra-ên. “Người của Giăng Báp-tít hẳn đã biết rõ rằng trong Cựu Ước, dân Y-sơ-ra-ên được xem là cô dâu của Đức Giê-hô-va.” (Morris)
d.29bấy là sự vui mừng trọn vẹn của ta đó: Giăng muốn các môn đồ biết rằng tất cả những sắp đặt này là sự vui mừng trọn vẹn của ông. Người ta có thể nói rằng Giăng Báp-tít đã mất đi giáo đoàn của mình – và ông rất vui mừng về điều đó! Giăng vui mừng vì ông đã mất giáo đoàn của mình vào tay Chúa Giê-su.
i.“Giăng không hối tiếc khi con người bị thu hút bởi Chúa Jesus: đúng hơn, đó là sự hoàn thành công việc và hy vọng của ông.” (Dods)
ii.“Giăng không hề tỏ ra ghen tị hay ganh đua. Thật khó để thấy ảnh hưởng của người khác lớn mạnh hơn ảnh hưởng của chính mình; càng khó hơn để vui mừng trước cảnh tượng đó. Nhưng Giăng thấy niềm vui của mình được trọn vẹn bởi tin tức mà các môn đồ mang đến.” (Bruce)
e.30 Ngài phải dấy lên, ta phải hạ xuống | BD2011 Ngài phải được tôn lên, còn tôi phải hạ xuống: Giăng Báp-tít hiểu rằng việc ông ít được thấy và biết đến hơn là điều tốt cho ông, còn Chúa Giêsu thì được biết đến và nhận biết nhiều hơn. Xét trên những phương diện rộng hơn, đây nên là phương châm của mọi Cơ Đốc nhân, đặc biệt là các nhà lãnh đạo trong dân Chúa. Chúa Giêsu phải trở nên vĩ đại và được nhận biết nhiều hơn, còn người tôi tớ phải ngày càng ít được nhận biết hơn.
i.Mặc dù Chúa Giê-su làm phép báp-têm cho người ta ăn năn và thu hút đám đông, Giăng hiểu rằng họ không có cùng một chức vụ, cùng một vai trò. Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a duy nhất và công việc của Ngài phải được tôn vinh liên tục.
ii.Giăng Báp-tít cho chúng ta thấy rằng chúng ta có thể rất nổi tiếng và thành công bề ngoài, nhưng vẫn hãy khiêm nhường. Giăng Báp-tít có danh tiếng và đám đông mà các mục sư nổi tiếng thời nay chỉ có thể mơ ước, nhưng ông là một tấm gương về sự khiêm nhường đích thực.
iii.Giăng Báp-tít cũng không bỏ công việc của mình chỉ vì Chúa Giêsu đang làm một công việc tương tự và làm cho nhiều người hơn. Ông vẫn miệt mài, bằng lòng làm những gì Chúa gọi, mặc dù Chúa Giêsu ngày càng được chú ý nhiều hơn, còn Giăng thì ngày càng ít được chú ý.
iv.“Ở đây, các mục sư có thể học cách không sao lãng nhiệm vụ của mình, mặc dù Chúa có thể khuấy động những người khác xung quanh họ với những vai trò lớn hơn và thành công hơn để che khuất họ.” (Trapp)
v.“Nếu đám đông đã thưa dần, và làn sóng cải đạo đã giảm xuống dưới mức trước đây, không phải do sự thờ ơ hay lười biếng của anh em, thì hãy an tâm. Đây là những việc mà Đức Thánh Linh đang thực hiện, phân chia cho mỗi người một cách riêng biệt tùy theo ý Ngài.” (Meyer)
4.(31-33) Lời chứng của Giăng về Chúa Giêsu.
a.31a Đấng từ trên cao đến là trên hết mọi loài. Kẻ từ đất đến là thuộc về đất, và nói ra cũng như là thuộc về đất; còn Đấng từ trời đến thì trên hết mọi loài: Giăng muốn mọi người biết Chúa Giê-su đến từ đâu. Chúa Giê-su khác biệt với mọi người khác vì Ngài đến từ thiên đàng. Ngài không phải là một người đặc biệt thuộc linh, khôn ngoan hay tốt lành; Ngài là và vẫn là Đức Chúa Trời, từ trời đến.
i.Có một số tranh luận về việc liệu Giăng 3:31 có tiếp tục lời của Giăng Báp-tít hay bắt đầu một phần trong đó Sứ đồ Giăng bình luận về các chủ đề được gợi ý bởi những lời trước đó của Giăng Báp-tít hay không.
b.31b còn Đấng từ trời đến thì trên hết mọi loài: Chúa Giê-su không chỉ khác biệt với mọi người; Chúa Giê-su cũng vĩ đại hơn mọi người.
i.“Nếu chúng ta muốn biết thông tin về một gia đình, chúng ta chỉ có thể nhận được trực tiếp từ một thành viên trong gia đình đó. Nếu chúng ta muốn biết thông tin về một thị trấn, chúng ta chỉ có thể nhận được trực tiếp từ một người đến từ thị trấn đó. Vậy nên, nếu chúng ta muốn biết thông tin về Chúa, chúng ta chỉ có thể nhận được thông tin đó từ Con Đức Chúa Trời; và nếu chúng ta muốn biết thông tin về thiên đàng và cuộc sống trên thiên đàng, chúng ta chỉ có thể nhận được thông tin đó qua Đấng từ trời đến.” (Barclay)
c.32 Ngài làm chứng về điều Ngài đã thấy và nghe; song không có ai nhận lấy lời chứng của Ngài. 33 Ai đã nhận lấy lời chứng của Ngài thì làm chứng chắc rằng Đức Chúa Trời là thật: Giăng đã tiên tri trước về sự từ chối mà Chúa Giê-su sẽ phải chịu trong chức vụ của Ngài. Ngài đến từ thiên đàng, Ngài làm chứng cho chân lý, nhưng hầu như không có ai tiếp nhận lấy lời chứng của Ngài, mặc dù các nhân chứng đã xác nhận (làm chứng chắc) rằng đó là chân lý của Đức Chúa Trời.
i.32 Ngài làm chứng về điều Ngài đã thấy và nghe: “Thấy và nghe tương đương với việc có kiến thức trực tiếp.” (Dods)
ii.“Ông muốn nói rằng hầu như không ai tiếp nhận. So với đám đông đến với ông, so với dân tộc Israel, so với nhân loại, những người tiếp nhận chứng ngôn của Đấng Christ quá ít đến nỗi nỗi buồn của ông khiến ông gọi họ là “không có ai nhận lấy lời chứng của ông” (Spurgeon)
iii.“Vì vậy, chấp nhận lời dạy của Ngài tức là làm chứng rằng Đức Chúa Trời là chân thật; mặt khác, từ chối lời dạy đó tức là coi Đức Chúa Trời là kẻ nói dối (Giăng 3:33; so sánh 1 Giăng 1:10, 5:10).” (Tasker)
iv.33blàm chứng chắc các bản tiếng việt khác dịch là xác nhận (bản tiếng anh là Chứng nhận): “Khi bạn tin Chúa Giê-su, bạn đã đóng ấn vào lời chứng của Chúa Giê-su, tức là sự mặc khải của Chúa. Bạn đã chứng nhận rằng bạn tin Đức Chúa Trời là chân thật.” (Spurgeon)
5.(34-36) Cái giá phải trả cho việc chối bỏ chứng cớ chân thật về Chúa Jêsus.
a.34Vì Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến thì rao truyền lời của Đức Chúa Trời: Chúa Giê-xu là sự mặc khải đáng tin cậy duy nhất, vì Ngài có Đức Thánh Linh không giới hạn, trái ngược với các tiên tri trước đó.
b.34bbởi Đức Chúa Trời ban Thánh Linh cho Ngài không chừng mực: (các bản dịch: BHĐ, BD2017, BD2020 là Thánh Linh không giới hạn; còn BDM2002, BD2011 Thánh Linh vô hạn) Giăng vừa nói về Chúa Giê-su vừa nói tiên tri về Giao Ước Mới (với sự tuôn đổ Đức Thánh Linh thật sự). Đối với những người được kết hợp với Đấng Mê-si qua Giao Ước Mới, Đức Thánh Linh được ban cho dồi dào, không giới hạn.
i.“Các sách Giu-đa giáo nói rằng Đức Thánh Linh chỉ được ban cho các tiên tri một cách có chừng mực. Việc Đức Thánh Linh tuôn đổ không giới hạn trên Ngài giải thích cho việc Ngài nói ra lời của Đức Chúa Trời.” (Alford)
ii.35 Cha yêu Con, và đã giao hết mọi vật trong tay Con: “Trong Phúc Âm này, chúng ta đọc thấy hai lần rằng ‘Chúa Cha yêu Chúa Con’ – ở đây (Giăng 3:35) và trong Giăng 5:20. Động từ ở đây là agapao; ở chỗ khác là phileo. Việc luân phiên hai động từ này trong những câu giống hệt nhau cho thấy khuynh hướng của tác giả Phúc Âm trong việc thay đổi cách chọn từ đồng nghĩa.” (Bruce)
iii.Chúa CON: “Việc sử dụng tuyệt đối từ ‘Chúa Con’ như một danh xưng của Đấng Christ chắc chắn gợi ý, nếu không muốn nói là không chứng minh, về Thần tính đích thực của Đấng Christ. Đây là danh xưng được ưa chuộng nhất trong Phúc Âm này.” (Dods)
c.36 Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó: Giăng giải thích rằng vì Chúa Giê-su là người từ trời đến, nên việc chối bỏ Ngài phải trả giá rất đắt. Nếu bạn chối bỏ Con, bạn sẽ phải gánh chịu cơn thịnh nộ.
i.ai không chịu tin Con: “Người đó có thể nghĩ rằng việc không tin của mình là một việc rất nhỏ, nhưng thực ra, đó là một mũi tên nhọn đâm vào Thần thánh.” (Spurgeon)
ii.cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời: “Từ này không có nghĩa là một cơn giận dữ đột ngột hay một cơn nóng giận bùng nổ. Đúng hơn, đó là sự bất bình cố hữu của Chúa đối với tội lỗi. Đó là sự dị ứng thiêng liêng với cái ác về mặt đạo đức, là phản ứng của sự công chính trước sự không công bình.” (Tenney)
iii.Chối bỏ Chúa Con tức là chối bỏ món quà của Ngài – sự sống đời đời. Bạn không thể nói với Ngài: “Con sẽ nhận món quà nhưng lại chối bỏ Ngài.”
iv.“‘Cơn thịnh nộ của Chúa’ là một khái niệm không dễ chấp nhận đối với nhiều học giả hiện đại, và nhiều thủ đoạn khác nhau đã được sử dụng để làm dịu đi cách diễn đạt hoặc giải thích nó. Tuy nhiên, điều này không thể thực hiện được nếu không vi phạm nghiêm trọng nhiều đoạn Kinh Thánh và không làm lu mờ bản chất đạo đức của Chúa.” (Morris)
v.“Không phải Chúa giáng cơn thịnh nộ xuống người không tin; mà chính người đó tự chuốc lấy cơn thịnh nộ đó.” (Barclay)
d. Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn còn ở: Cơn thịnh nộ ấy vẫn còn ở thế gian này, bởi vì sự gian ác của tội lỗi vẫn còn cho đến khi tội lỗi của nó được thỏa mãn hoàn toàn. Cơn thịnh nộ ấy vẫn còn ở thế gian sau, bởi vì những ai chối bỏ Chúa Giê-su không thể dâng một của lễ hoàn hảo được Đức Chúa Trời chấp nhận. Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn còn cho đến khi sự trả giá hoàn hảo mà Chúa Giê-su đã thực hiện trên thập tự giá trả hết món nợ của sự gian ác và tội lỗi.
i.“Chúng ta có thể không thích nó, nhưng chúng ta không nên bỏ qua nó. Giăng nói với chúng ta rằng cơn thịnh nộ này ‘vẫn còn’. Chúng ta không nên mong đợi nó sẽ phai nhạt theo thời gian.” (Morris)
ii.“Nhà truyền giảng Whitfield, khi giảng đạo, thường giơ tay lên, nước mắt giàn giụa, kêu lên: ‘Ôi, cơn thịnh nộ sắp đến! Cơn thịnh nộ sắp đến!’ Rồi ông dừng lại vì cảm xúc đã ngăn cản lời nói của mình.” (Spurgeon)
iii.Nhìn lại Giăng 3, người ta có thể nói rằng đây là chương Kinh Thánh phải đọc. Có bốn điều quan trọng “cần phải” trong Giăng 3.
- Điều mà tội nhân phải làm: phải được sinh lại (Giăng 3:7).
- Điều Đấng Cứu Thế phải làm: Con Người cũng phải được treo lên như vậy (Giăng 3:14).
- Đấng Tối Cao phải làm: Ngài phải được tôn lên (Giăng 3:30).
- Người Tôi Tớ phải làm: tôi phải hạ xuống (Giăng 3:30).