1 Nầy, đầy tớ ta đây, là kẻ ta nâng đỡ; là kẻ ta chọn lựa, là kẻ mà linh hồn ta lấy làm đẹp lòng. Ta đã đặt Thần ta trên người, người sẽ tỏ ra sự công bình cho các dân ngoại. 2 Người sẽ chẳng kêu la chẳng lên tiếng, chẳng để ngoài đường phố nghe tiếng mình. 3 Người sẽ chẳng bẻ cây sậy đã giập, và chẳng dụt tim đèn còn hơi cháy. Người sẽ lấy lẽ thật mà tỏ ra sự công bình. 4 Người chẳng mòn mỏi, chẳng ngã lòng, cho đến chừng nào lập xong sự công bình trên đất; các cù lao sẽ trông đợi luật pháp người.
Đây là bài ca đầu tiên trong bốn “Bài ca Người Tôi Tớ” của Ê-sai, tiên tri về Đấng Mê-si sắp đến, và nhấn mạnh rằng Đấng Mê-si sắp đến không chỉ là một vị vua, mà còn là một người tôi tớ. Bài ca tuyên bố rằng Người Đầy Tớ của CHÚA sẽ được Đức Chúa Trời giao phó sứ mệnh mang lại công lý cho các dân tộc. Bài ca cũng nói rằng khi hoàn thành sứ mệnh của mình, Người sẽ không khoe khoang hay gây hấn. Người Đầy Tớ của CHÚA sẽ vô cùng dịu dàng và nhân từ.
Sau khi CHÚA mô tả Người Tôi Tớ của Ta và tuyên bố rằng Thánh Linh của Ngài sẽ ngự trên Người (Ê-sai 42:1a), CHÚA kết thúc Bài ca Người Tôi Tớ này bằng cách báo trước những điều Người Tôi Tớ của Ngài sẽ làm và những điều Người sẽ không làm.
(câu 1) Người Sẽ Tỏ Ra Sự Công Bình.
(câu 2) Người sẽ chẳng kêu la chẳng lên tiếng — Ngài sẽ không khoe khoang hay hiếu chiến.
Bài ca này hát ba lần về công lý mà TÔI TỚ CHÚA sẽ đem đến và thiết lập.
- Ngài sẽ đem công lý đến cho các dân tộc (câu 1)
- Người sẽ lấy đức thành tín bày tỏ công lý (câu 3 BHĐ)
- Cho đến khi Ngài thiết lập công lý trên đất (câu 4)
Ba điệp khúc về công lý này đan xen hai cặp suy nghĩ mô tả sự khiêm nhường của Người Đầy Tớ.
- Người sẽ chẳng kêu la chẳng lên tiếng, cũng chẳng để ngoài đường phố nghe tiếng mình (câu 2)
- Người sẽ không bẻ cây sậy đã giập, Và chẳng tắt tim đèn gần tàn. (câu 3 BHĐ)
Công lý và sự khiêm nhường là chủ đề chính của bài ca tiên tri này về những thành tựu và tính cách của Đấng Mê-si. Người Tôi Tớ sẽ thiết lập công lý trên trái đất ; và Đấng Mê-si sẽ vô cùng khiêm nhường.
Tôi tớ của Chúa sẽ thiết lập công lý
Dòng cuối cùng của câu 1 giới thiệu chủ đề về công lý.
Nó dự đoán rằng Đấng Mê-si sẽ mang lại công lý cho các dân tộc.
Chữ được dịch là các dân tộc trong tiếng Hê-bê-rơ là từ גּוֹי (H1471 – phát âm: “go’-ee”). Khi “go-ee” là số nhiều, nó ám chỉ đến Dân ngoại là những dân tộc khác ngoài Israel. Trong trường hợp này, nó là số nhiều. Do đó, lời tiên tri này nói rằng Đấng Mê-si sẽ mang lại công lý cho Dân ngoại.
Chữ được dịch là công lý trong suốt Bài ca Người đầy tớ này là מִשְׁפָּט (H8199 – phát âm: “mish-pawt”). Nó thường ám chỉ đến sự phán xét công bằng hoặc một bản án làm cho mọi thứ trở nên đúng đắn. “Mishpawt” mà Người Đầy Tớ sẽ mang đến cho Dân ngoại sẽ làm cho mọi thứ trở nên đúng đắn và khôi phục lại sự tốt lành và trật tự.
Điều này có thể có nghĩa là người được Chúa chọn sẽ mang đến sự phán xét và cơn thịnh nộ chống lại họ vì sự gian ác của họ. Và nó có thể có nghĩa là Ngài sẽ đưa họ vào sự hòa hợp với Chúa và dân tộc Israel. Công lý mà Ngài sẽ mang đến có thể là trừng phạt hoặc ban sự sống, hoặc cả hai. Nhưng cho dù “mishpawt”/ công lý sẽ là sự thịnh nộ hay sự hòa hợp thì nó sẽ đúng và tốt.
Chúa Giê-xu đã làm cả hai điều đó cho Dân Ngoại. Ngài gánh lấy tội lỗi của cả thế gian, gánh lấy cơn thịnh nộ của thế gian trên chính mình (Cô-lô-se 2:14 BHĐ Ngài đã hủy bỏ giấy nợ chống lại chúng ta với những luật lệ ràng buộc chúng ta. Ngài loại bỏ bằng cách đóng đinh nó vào thập tự giá). Qua sự chết của Ngài, giờ đây tất cả những ai tin đều có thể được xưng công bình trong Ngài, và được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời (Giăng 3:14-15; Rô-ma 5:8-11). Ngoài ra, qua quyền năng phục sinh của Chúa Giê-xu ngự trong tất cả những ai tin, Dân Ngoại giờ đây có quyền năng bước đi trong Thánh Linh, và tránh được những hậu quả tai hại của việc bước đi trong xác thịt (Ga-la-ti 5:13-15 BHĐ ¹³ Thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do; chỉ có điều là đừng dùng tự do ấy như một cơ hội để sống cho xác thịt, nhưng hãy lấy lòng yêu thương mà phục vụ nhau. ¹⁴ Vì cả luật pháp được tóm tắt trong một lời nầy: “Ngươi hãy yêu người lân cận như mình.” ¹⁵ Nhưng nếu anh em cứ cắn nuốt nhau thì hãy coi chừng, kẻo anh em tiêu diệt lẫn nhau.). Tất nhiên, đối với những người không tin, họ sẽ không tránh khỏi sự phán xét của Đấng Christ (Ma-thi-ơ 25:31-32 31 Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. 32 Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra).
Chúa Jesus, Đấng Mê-si, sẽ mang đến công lý (cả về mặt trừng phạt và giải phóng). Sứ điệp của Ngài về hy vọng, tình yêu, lòng thương xót và sự phục vụ là một trong những sứ điệp về sự hòa hợp (harmony) và công lý (là những từ đồng nghĩa trong Kinh thánh với công bình. (Xem “Công lý | công bình là gì? “). Sứ điệp này nhanh chóng lan truyền khắp các dân ngoại sau khi Ngài thăng thiên lên Thiên đàng, do đó hoàn thành ý nghĩa giải phóng của lời tiên tri này.
Lần đầu tiên Chúa Jesus đến, Ngài đến để đem lại công lý bằng cách hòa giải và cứu rỗi thế gian (Giăng 3:17 Vả, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu). Lần tới Ngài đến, Ngài sẽ đem lại công lý bằng cách phán xét (Ma-thi-ơ 25:31-33). Tùy thuộc vào cách mỗi người bị phán xét, điều này sẽ ứng nghiệm ý nghĩa trừng phạt và giải phóng của lời tiên tri.
Khi Ma-thi-ơ trích dẫn Bài ca Người đầy tớ này từ Ê-sai 42. (trong Ma-thi-ơ 12:18-21), ông diễn giải công lý mà Ngài sẽ mang đến cho dân ngoại là công lý ban sự sống và hòa hợp chứ không phải công lý gây phẫn nộ. “Dân ngoại sẽ trông cậy nơi danh Ngài” (Ma-thi-ơ 12:21).
Câu 3 lặp lại cảm nghĩ này: Người sẽ lấy đức thành tín bày tỏ công lý (BHĐ).
Có nhiều điểm tương đồng giữa dòng này với điệp khúc công lý ở câu 1: Người sẽ bày tỏ công lý cho các nước (BHĐ). Nhưng có hai điểm khác biệt rõ ràng giữa chúng.
Sự khác biệt đầu tiên là dòng này thêm từ đức thành tín. Đức thành tín |Trung thành có nghĩa là vẫn trung thành và chân thành với ai đó hoặc với một mục đích nào đó khi đối mặt với những trở ngại hoặc sự phản đối, thường là trong một khoảng thời gian dài. Sự bổ sung này cho thấy rằng Người Đầy Tớ của CHÚA sẽ gặp phải sự cám dỗ hoặc chịu đựng những thử thách trong nỗ lực mang lại công lý của Ngài, và rằng Ngài sẽ vượt qua những cám dỗ và thử thách này một cách trung thành. Việc Chúa Giê-su vượt qua những trở ngại như vậy được đưa ra như một tấm gương cho tất cả những ai theo Ngài; Chúa Giê-su ban tặng một phần thưởng lớn cho tất cả những ai vượt qua, như Ngài đã vượt qua (Khải Huyền 3:21 Kẻ nào thắng (vượt qua), ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng (vượt qua), và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài).
Điểm khác biệt thứ hai giữa điệp khúc công lý thứ hai này so với điệp khúc đầu tiên là nó bỏ cách diễn đạt dành cho các dân tộc. Ê-sai có thể đã bỏ điều này để làm cho nó trở nên thi vị hơn và bớt rườm rà hơn, hoặc có thể ông đã bỏ đi để đưa ra một luận điểm tiên tri. (Ông có thể bỏ đi vì cả lý do thi vị lẫn tiên tri).
Điểm tiên tri mà Ê-sai có thể muốn nêu ra khi bỏ đi thành ngữ này là Người Đầy Tớ của CHÚA sẽ đem lại công lý, không chỉ cho dân ngoại mà cho tất cả mọi người, kể cả dân Y-sơ-ra-ên (Rô-ma 11:26 vậy thì cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: Đấng Giải cứu sẽ đến từ Si-ôn, Cất sự vô đạo ra khỏi Gia-cốp).
Điệp khúc thứ ba về công lý nằm ở câu thơ cuối cùng của Bài ca Người đầy tớ.
Người sẽ không mệt mỏi, chẳng ngã lòng cho đến khi đã thiết lập nền công chính trên đất; các xứ ven biển sẽ trông chờ luật pháp của người. (câu 4 BD2020).
Dòng kết này dự đoán rằng Đấng Mê-si, Tôi tớ của CHÚA sẽ không nản lòng trước những thử thách hay bị đè bẹp (ngã lòng) bởi những cám dỗ đến nỗi Ngài không thể thiết lập công lý trên đất.
Việc đề cập đến sự chán nản và ngã lòng cho thấy rằng những thử thách và cám dỗ mà Đấng Mê-si phải chịu sẽ rất nản lòng, đòi hỏi nhiều nỗ lực và khó khăn (Ma-thi-ơ 26:38). Nhưng Ngài sẽ vượt qua tất cả những điều đó trong hành trình mang lại công lý (Khải Huyền 3:21). Người Đầy Tớ của CHÚA sẽ chiến thắng, sẽ vượt qua.
Câu cuối cùng của Bài ca có phần bí ẩn. Câu này viết: các xứ ven biển sẽ trông chờ luật pháp của người.
Thuật ngữ, vùng đất ven biển có thể ám chỉ đến những tận cùng của trái đất. Nói cách khác, đó là các dân tộc và dân ngoại mà dân Israel vào thời Ê-sai chỉ nghe hoặc nghĩ đến, những người sống ở thế giới phía ngoài kia.
Câu này nói rằng những người này sẽ chờ đợi luật pháp của Đấng Mê-si để mang lại công lý cho họ.
Nhưng nếu dân Israel không biết về họ, làm sao họ có thể biết về Đấng Mê-si? Và nếu họ không biết về Đấng Mê-si, làm sao họ có thể mong đợi luật pháp của Ngài mang lại công lý cho họ?
Thật là một điều bí ẩn khi lời tiên tri này có thể ứng nghiệm cho đến khi Chúa Jesus, Đấng Mê-si, xuất hiện và giao cho các môn đồ của Ngài nhiệm vụ “đi và làm cho muôn dân trở thành môn đồ” (Ma-thi-ơ 28:18-20) “cho đến tận cùng trái đất” (Công vụ 1:8).
Các môn đồ của Ngài đã vâng theo lệnh truyền này, và đã mang tin mừng về sứ điệp của Ngài đến tận cùng trái đất. Phúc Âm của Chúa Giê-su, Đấng Mê-si, là một Phúc Âm về hy vọng và sự hòa hợp (công chính). Và khi được áp dụng, nó sẽ mang lại công lý phục hồi. Một công lý không dựa trên luật lệ luôn thay đổi và thường xuyên bị tha hóa của con người, mà là một công lý phù hợp với thực tại của trái đất với thiết kế của Chúa. Khi tất cả đều phù hợp với thiết kế tốt lành của Chúa, tất cả đều hoạt động trong sự hòa hợp. Tất cả đều hoạt động theo luật lệ tốt lành vĩnh cửu của Chúa.
Các nguyên tắc của luật Người Tôi Tớ được giải thích đầy đủ nhất trong Bài giảng trên núi của Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 5-7). Các nguyên tắc của luật Ngài bao gồm:
1.Lòng thương xót và sự tha thứ (Ma-thi-ơ 5:7; 6:12 ; 6:14-15; 7: 1-57 ; 7 :127)
2.Yêu thương kẻ thù một cách nhân từ (Ma-thi-ơ 5:38-42 ; 5:43-48 ; 5:43-48)
3.Tin cậy Chúa trong mọi hoàn cảnh (Ma-thi-ơ 5:10-12)
4.Có một trái tim trong sạch và chính trực (Ma-thi-ơ 5:8 ; 5:21-37; 7:21; 7:21 ; 24-27 ; 24-27)
Người Đầy Tớ của CHÚA sẽ khiêm nhường.
Như đã đề cập trước đó, chính thuật ngữ Người Đầy Tớ là thuật ngữ gợi lên chủ đề về sự khiêm nhường. Câu 2 và 3 mô tả chủ đề thứ hai của bài hát này. Nhưng trong khi điệp khúc công lý mô tả những gì Người Đầy Tớ của CHÚA sẽ làm, thì hai câu đối ý này về sự khiêm nhường của người được chọn mô tả những gì Người Đầy Tớ của CHÚA sẽ làm sẽ không làm.
Câu đối đầu tiên là:
Người sẽ chẳng kêu la, cũng chẳng lên tiếng, Chẳng để ngoài đường phố nghe tiếng mình. (câu 2 BHĐ)
Người được Chúa chọn sẽ không kiêu ngạo hay khoe khoang. Ngài sẽ không thu hút thêm sự chú ý vào mình bằng cách gây ồn ào hoặc cố tình trở thành trung tâm của sự chú ý. Sự chú ý mà Ngài nhận được sẽ là do sự phục vụ của Ngài.
Ngài sẽ không lớn tiếng và đòi hỏi được lắng nghe trên đường phố. Tôi Tớ của Chúa sẽ không làm ầm ĩ khoe khoang về Ngài. Ngài sẽ không cãi vã hay cố gắng chứng tỏ mình với người khác bằng cách tranh luận với họ. Ngài sẽ không kêu ca hay than phiền khi dân chúng không nhận ra Ngài là Đấng Mê-si được chọn. Thực tế, Chúa Giê-su thường ra lệnh cho dân chúng không được tiết lộ danh tính thật của Ngài (Ma-thi-ơ 8:4).
Thay vì khoe khoang và hay tranh luận, Ngài sẽ hành động như Người Tôi Tớ, người thực hiện nhiệm vụ của mình một cách lặng lẽ nhất có thể. Ngài sẽ tiết lộ chính mình một cách khiêm nhường.
Sự khiêm nhường có thể được hiểu là sự sẵn lòng nhìn nhận thực tế đúng như bản chất của nó vốn có. Chúa Jesus không giả vờ rằng Ngài là một người mà Ngài không phải vậy. Ngài không cố gắng cường điệu “bịa đặt” những câu chuyện để làm cho mọi thứ có vẻ như chúng là thứ mà chúng không phải. Chúa Jesus đã nói một cách chân thật (Giăng 8:40). Chúa Jesus cũng đã hoàn thành vai trò mà Cha Ngài đã yêu cầu Ngài hoàn thành (Hê-bơ-rơ 10:7; Lu-ca 22:42).
Chúa Giê-su, Đấng Mê-si, không đòi hỏi phải được lắng nghe và tôn trọng, giống như nhiều Rabi Giu-đa và các nhà lãnh đạo tôn giáo thời Ngài đòi hỏi (Ma-thi-ơ 23:5-6). Ngài không thu hút sự chú ý đặc biệt đến chính mình, thông qua những lời cầu nguyện phô trương hay sự thể hiện sự công chính (Ma-thi-ơ 6:1).
Là Người Đầy Tớ của CHÚA, Chúa Giê-su đã nêu gương và dạy các môn đồ của Ngài rằng: “…ai lớn hơn hết trong các ngươi sẽ làm người phục vụ các ngươi. Ai tự tôn mình lên sẽ phải hạ xuống; ai tự hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Ma-thi-ơ 23:11-12).
Câu đối thứ hai là:
Người sẽ không bẻ cây sậy đã giập, và chẳng tắt tim đèn gần tàn. (câu 3 BHĐ)
Cặp ý tưởng này sử dụng hai hình ảnh để mô tả cách cư xử dịu dàng của người tôi tớ Chúa. Ngài sẽ rất nhẹ nhàng trong cách cư xử và sứ điệp của Ngài, đến nỗi Ngài sẽ không bẻ gãy một cây sậy bị dập. Thuật ngữ cây sậy bị dập ám chỉ một thân cây sậy bị gãy một phần hoặc cong. Chỉ cần một cú xoay nhẹ nhất cũng có thể khiến cây sậy gãy hoặc gãy làm đôi. Người được CHÚA chọn sẽ rất nhẹ nhàng với một cây sậy bị dập đến nỗi không có gì có thể gây hại cho nó.
Cây sậy bị bầm dập có thể là ẩn dụ cho một người bị tổn thương hoặc bị tổn hại về mặt cảm xúc. Câu nói rằng cây sậy bị bầm dập mà Ngài sẽ không bẻ gãy có thể được hiểu là ẩn dụ cho sự dịu dàng của Đấng Mê-si giữa những người yếu đuối và thấp hèn mà hệ thống thế gian đã nghiền nát và/ hoặc những tội nhân mà giới lãnh đạo tôn giáo đã gạt ra rìa.
Chúa Jesus, Đấng Mê-si, đã dành phần lớn thời gian trong chức vụ của Ngài để nâng đỡ và chữa lành những người bị tổn thương về mặt cảm xúc—người thu thuế, gái mại dâm và những người bị ruồng bỏ khác. Sau đây là một số ví dụ:
- Những tương tác của Chúa Giê-su với người phụ nữ Sa-ma-ri bên giếng nước, người có năm đời chồng (Giăng 4:7-30),
- Ngài bảo vệ và tha thứ cho người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình (Giăng 8:3-11),
- Ngài khen ngợi người phụ nữ đã xức dầu cho chân Ngài bằng nước mắt và tóc của bà (Lu-ca 7:36-50).
Đây là ba ví dụ trong số nhiều ví dụ khác cho thấy Ngài nhẹ nhàng với “những cây sậy bị dập”. Chúa Giê-xu không đến để lên án tội nhân, nhưng để cứu họ (Giăng 3:17 ; Ma-thi-ơ 28:20).
Ê-sai tiếp tục: Ngài sẽ rất nhẹ nhàng trong hành động của mình, đến nỗi Ngài sẽ không dập tắt một ngọn nến đang le lói, có thể bị dập tắt bởi hơi thở hoặc chuyển động nhỏ nhất. Nói cách khác, Đấng Mê-si sẽ không hay cãi cọ, nóng tính hoặc hay tranh cãi.
Ma-thi-ơ trích dẫn nội dung bài ca Người Tôi Tớ đầu tiên của Ê-sai và chứng minh cách Chúa Giê-xu, Đấng Mê-si, đã ứng nghiệm lời tiên tri sau khi Ngài chữa lành người đàn ông bị teo tay vào ngày Sa-bát và bị người Pha-ri-si chỉ trích vì đã làm như vậy (Ma-thi-ơ 12:9-17).
Sau đây là trích dẫn của Ma-thi-ơ về Bài ca Người Tôi Tớ này :
“để được ứng nghiệm lời đấng tiên tri Ê-sai đã nói rằng: Nầy, tôi tớ ta đã chọn, Là người mà ta rất yêu dấu, đẹp lòng ta mọi đàng. Ta sẽ cho Thánh Linh ta ngự trên người, Người sẽ rao giảng sự công bình cho dân ngoại. Người sẽ chẳng cãi lẫy, chẳng kêu la, Và chẳng ai nghe được tiếng người ngoài đường cái. Người sẽ chẳng bẻ cây sậy đã gãy, chẳng tắt ngọn đèn gần tàn, Cho đến chừng nào người khiến sự công bình được thắng. Dân ngoại sẽ trông cậy danh người.” (Ma-thi-ơ 12:17-21)
Khi Chúa Giê-su, Tôi Tớ của Đức Chúa Trời, đến thế gian, Ngài không hề phô trương về Ngài là ai. Ngài không cãi vã hay cố gắng chứng tỏ mình với người khác bằng cách tranh luận với họ. Ngài không đòi hỏi hay thúc ép người khác phải công nhận danh tính thật của Ngài. Ngài không lớn tiếng hay hô hào rằng Ngài là Đấng Mê-si.
Mọi người không nghe thấy tiếng Ngài trên đường phố quảng bá danh Ngài là Đấng Christ. Ngài bày tỏ chính mình một cách khiêm nhường. Ngài bày tỏ chính mình một cách nhẹ nhàng đến nỗi không bẻ gãy một cây sậy bị dập. Giọng nói của Ngài nhỏ nhẹ đến nỗi không dập tắt một ngọn nến đang cháy yếu ớt.
Thay vì lớn tiếng tuyên bố mình là Đấng Mê-si, Chúa Jesus để phép lạ, tính cách, lời dạy đạo đức và lời tiên tri (như lời này) công bố danh tính của Ngài (Giăng 15:24). Điều này cho mọi người cơ hội chấp nhận và yêu mến Ngài vì chính bản thân họ. Bởi đức tin.
Nếu Chúa Jesus hoàn toàn tiết lộ chính Ngài và danh tính của Ngài, thì mọi người sẽ bị buộc phải thừa nhận Ngài. Không ai có thể tự do lựa chọn đến với Ngài bằng đức tin. Mọi người sẽ bị choáng ngợp bởi sự hiện diện của Ngài và nỗi kinh hoàng không thể tránh khỏi rằng Ngài là Đức Chúa Trời, và sẽ bị buộc phải thừa nhận Ngài.
Trong tương lai, khi Ngài tái lâm, Chúa Giê-xu sẽ bày tỏ vinh quang của Ngài và buộc mọi người phải thừa nhận Ngài là Vua (Rô-ma 14:11, Phi-líp 2:10-11). Nhưng trong lần Chúa Giê-su đến lần đầu, Ngài đến như một Người Tôi Tớ. Mọi người có quyền tự do lựa chọn tin hay không tin. Và khi đến như một Người Tôi Tớ, Ngài đã đưa ra nhiều bằng chứng hơn là đủ để chứng minh rõ ràng danh tính của Ngài, đồng thời để lại đủ không gian cho mọi người chấp nhận hoặc từ chối Ngài tùy theo lựa chọn của họ.
Điều này tương tự như cách Đức Chúa Trời đã làm việc trong suốt lịch sử. Những gì được biết về Đức Chúa Trời, tính cách và bản chất thiêng liêng của Ngài, đều rất rõ ràng đối với tất cả những ai muốn thấy (Rô-ma 1:19-20, 10:18). Nhưng nó được che giấu đủ để tất cả những ai không muốn thấy không bị ép buộc phải thấy (Rô-ma 1:18).
CHÚA kết thúc Bài ca Người Tôi Tớ đầu tiên của Ê-sai bằng lời hứa tiên tri về Đấng Mê-si.
Người sẽ không mòn mỏi, không ngã lòng Cho đến khi thiết lập xong công lý trên mặt đất; các hải đảo sẽ trông đợi luật pháp Người. (câu 4 BHĐ).
Chúa hứa rằng Tôi Tớ Ngài sẽ chiến thắng.
Câu nói rằng Ngài sẽ không nản lòng có nghĩa là Đấng Mê-si sẽ không nản lòng đến mức bỏ cuộc hoặc từ bỏ sứ mệnh của mình. Ngài cũng sẽ không bị nghiền nát hoặc đánh bại.
Chúng ta thấy điều này trong Vườn Ghết-sê-ma-nê, nơi Chúa Giê-su, Người Đầy Tớ của CHÚA, không bỏ cuộc, mặc dù Ngài “buồn rầu và đau đớn” (Ma-thi-ơ 26:37). Khi giờ Ngài sẽ bị tra tấn, sỉ nhục, từ chối và đóng đinh đến gần, Chúa Giê-su tâm sự với các môn đồ của Ngài: “Linh hồn Ta buồn rầu đến chết” (Ma-thi-ơ 26:38). Nhưng ngay cả như vậy, Ngài vẫn trung thành với kế hoạch của Cha Ngài. Sau khi hỏi Cha Ngài liệu có cách nào khác để hoàn thành nhiệm vụ của Ngài không, Chúa Giê-su đã cầu nguyện: “Tuy nhiên, không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha” (Ma-thi-ơ 26:39). Ngài đã không nản lòng. Ngài đã gắn bó với nó.
Sách Hê-bơ-rơ cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su đã kiên trì vì phần thưởng lớn lao được đặt trước Ngài, để chia sẻ thẩm quyền của ngai vàng của Cha Ngài, như một con người (Hê-bơ-rơ 12:1-2; Phi-líp 2:5-10). Ngài đã chọn làm theo ý muốn của Cha Ngài, tin rằng điều đó sẽ là tốt nhất cho Ngài. Kết quả là, danh Ngài được tôn cao hơn mọi danh khác, và trái đất được ban cho Ngài như phần thưởng của Ngài (Ma-thi-ơ 28:18 Đức Chúa Jêsus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.).
Nhờ quan điểm hay lối suy nghĩ này mà Chúa Jesus đã chọn, Ngài đã không bị khuất phục hay choáng ngợp trước cám dỗ tự cứu mình khi bị bỏ rơi, ngược đãi, chối bỏ, chế giễu, tra tấn và giết chết (Ma-thi-ơ 27:42; Phi-líp 2:5). Ngài đã không đánh trả, hay phản đối rằng không ai nhận ra Ngài là ai. Ngài tin cậy Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 12:2), yêu kẻ thù của mình (Lu-ca 22:34) và hoàn thành sứ mệnh của mình (Giăng 19:30).
Tác giả sách Hê-bơ-rơ khuyến khích chúng ta noi theo thái độ của Chúa Giê-xu, Người Đầy Tớ của CHÚA,
” Vậy, anh em hãy nghĩ đến Đấng đã chịu sự đối nghịch của kẻ tội lỗi dường ấy, hầu cho khỏi bị mỏi mệt sờn lòng” (Hê-bơ-rơ 12:3)
Những người tin theo Tân Ước được khuyên nên có cùng một tư duy như Chúa Jesus, và Ngài hứa rằng nếu chúng ta noi theo gương Ngài, Ngài sẽ chia sẻ phần thưởng lớn lao của Ngài với chúng ta (Phi-líp 2:5 ; Khải Huyền 3:21).
Những câu kết của Bài ca Người Tôi Tớ này như sau:
Cho đến khi thiết lập xong công lý trên mặt đất; các hải đảo sẽ trông đợi luật pháp Người. (Ê-sai 42:4 BHĐ)
Điều này có nghĩa là Chúa Jesus, Đấng Mê-si, sẽ thiết lập công lý trên khắp trái đất. Kế hoạch của Chúa là cứu chuộc thế giới và đưa thế giới trở lại hòa hợp với Ngài. Người Đầy Tớ của CHÚA là người được chọn để hoàn thành nhiệm vụ này.
Chúa Jesus, Đấng Mê-si đã hoàn thành phần đầu tiên của sứ mệnh này. Ngài đã đánh bại tội lỗi và hòa giải mọi người tin vào Ngài với Đức Chúa Trời (Giăng 1:12-13 ; Giăng 3:16 ; Cô-lô-se 2:13-14).
Sau khi hoàn thành phần đầu tiên của sứ mệnh, Chúa Jesus giao cho chúng ta, những người theo Ngài, hành động theo thẩm quyền của Ngài để công bố tin mừng cho người khác (Ma-thi-ơ 28:18-20). Chúng ta phải làm cho muôn dân trở thành môn đồ, dạy họ giữ mọi điều Ngài đã truyền cho chúng ta. Và chúng ta phải làm điều này “cho đến tận cùng trái đất” (Công vụ 1:8). Dường như Chúa đang nói điều gì đó tương tự về phạm vi của Phúc Âm ở đây trong sách Ê-sai khi Ngài phán: Các đảo ven biển sẽ trông đợi luật pháp Ngài (câu 4).
Hơn nữa, thực tế là các vùng đất ven biển sẽ chờ đợi luật pháp của Ngài một cách đầy hy vọng cho thấy rằng mọi người, ở khắp mọi nơi, từ bên này đến bên kia thế giới, cuối cùng đều khao khát công lý thực sự. Điều này giống như tiên tri Habakkuk, người đồng cảm với “các dân tộc nhọc nhằn ” vì bất công (Habakkuk 2:13Phải, ấy há chẳng phải bởi Đức Giê-hô-va vạn quân mà các dân làm việc cho lửa, và các nước nhọc nhằn cho sự hư không hay sao?). Nó cũng giống như cách sứ đồ Phao-lô trong lá thư gửi cho người Rô-ma nói về “sự khao khát lo lắng của tạo vật [mà] háo hức chờ đợi sự mặc khải của các con trai Đức Chúa Trời” (Rô-ma 8:19). Ngay cả trong tình trạng sa ngã của mình, chúng ta vẫn mong muốn được làm cho đúng đắn trở lại.
Vấn đề đối với chúng ta là tất cả chúng ta đều là con người, là tội nhân và bất công (Thi Thiên 14:3). Tất cả chúng ta đều đã phạm tội và tự biến mình thành kẻ thù của CHÚA, Đấng hoàn toàn công chính (Rô-ma 3:23). Nhưng Chúa cũng nhân từ và sai Tôi Tớ của Ngài đến để giữ luật pháp một cách trọn vẹn và tha thứ cho tất cả những ai tin Ngài (Giăng 3:16; Rô-ma 5:8). Đức Chúa Trời nhân từ ban sự công chính của Ngài cho tất cả những ai tin (Sáng Thế Ký 15:6; Rô-ma 4:3).
Người Đầy Tớ của CHÚA, sẽ mang lại công lý này. Công lý chỉ có thể tìm thấy nơi Đấng Christ.
Mọi người trên trái đất hoặc sẽ tìm nơi ẩn náu trong Đấng Christ, Người Đầy Tớ của CHÚA, và được tuyên bố là công chính và được biện minh, hoặc họ sẽ vẫn là kẻ thù của Ngài. Mỗi người chúng ta sẽ quyết định được làm cho công chính bởi sự công chính của Ngài, hoặc chúng ta sẽ bị phán xét bởi sự công chính của Ngài.
Đây là quyết định không thể tránh khỏi mà tất cả chúng ta phải đưa ra.
Như Chúa Jesus đã nói với Ni-cô-đem, tất cả những gì cần thiết để thoát khỏi cơn thịnh nộ của Chúa và nhận được sự công chính của Ngài là có đủ đức tin để nhìn lên Chúa Jesus, hy vọng được giải thoát khỏi nọc độc của tội lỗi (Giăng 3:14-15: Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời.).
xem thêm: